CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Những lí luận chung về địa danh và địa danh học 1. Khái niệm “Địa danh” là một thuật ngữ có nguồn gốc từ một tiếng Hy Lạp cổ là Toponima hay Topoma. Trong thời gian gần đây, thuật ngữ này được thay thế bằng một từ ghép place – names nghĩa tiếng Việt là “tên gọi vị trí hay điểm địa lí”.
Địa danh là là một thuật ngữ vốn xuất hiện từ thế kỷ 18, song có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm này như: Theo A. Superanxkaja địa danh là “tên gọi các đối tượng địa lý khác nhau, địa hình trên bề mặt trái đất. Địa danh đánh dấu các tên gọi địa lý bằng các từ. Địa danh gần gũi với tên người, tên động vật” [38; tr.Kert thì địa danh là tên gọi được đặt cho các đối tượng địa lý, ra đời trong một khu vực có người sinh sống, được tạo ra bởi một cộng đồng dân cư, một tộc người.
Chúng là một phần không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày và các hoạt động chính trị - xã hội ở nơi đó. Ở Việt Nam, địa danh từng là đối tượng chú ý của nhiều nhà nghiên cứu từ các góc độ khác nhau. Tại các tác phẩm nổi tiếng như Đại Việt sử ký hay các công trình địa bạ, địa chí, các địa danh luôn là những dấu hiệu quan trọng để ghi dấu hay nhận diện những sự kiện quan trọng của các vùng đất hay của đất nước. Từ góc độ ngôn ngữ học, định nghĩa về địa danh cũng đã được không ít nhà nghiên cứu quan tâm như: Hoàng Phê, trong Từ điển tiếng Việt, định nghĩa: “Địa danh là tên gọi các miền đất”, là “tên đất, tên địa phương” [36].
Đây là cách định nghĩa đơn giản, tối lược, chưa bao quát được đầy đủ nội hàm của khái niệm địa danh. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lê Trung Hoa, người có nhiều năm nghiên cứu trên lĩnh vực địa danh thì coi “Địa danh là những từ hoặc ngữ cố định, được dùng làm tên của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ. Tác giả Nguyễn Kiên Trường thì xác định: “Địa danh là tên riêng chỉ các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất” [54; tr. Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Âu lại cho rằng: “Địa danh là tên đất gồm: tên sông, núi, làng mạc… hay là tên các địa phương, các dân tộc” [4; tr.
Trong các định nghĩa trên, định nghĩa của Lê Trung Hoa, Nguyễn Kiên Trường được nhiều người chấp nhận vì nó mang tính khái quát, bao trùm nội hàm và thể hiện ngoại diên khái niệm rõ nét. Quan niệm của hai nhà nghiên cứu trên có thể được khái quát như sau: Địa danh là những từ hoặc ngữ cố định, được dùng làm tên của địa hình thiên nhiên, công trình xây dựng, đơn vị hành chính, vùng lãnh thổ có vị trí xác định trên bề mặt trái đất. Tập hợp các địa danh tạo thành một lớp từ ngữ đặc biệt nằm trong hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ. Địa danh chịu sự chi phối của những quy luật ngôn ngữ chung (như quy tắc phát âm), mang đặc trưng của một ngôn ngữ cụ thể (quy tắc ngữ pháp, ngữ âm…), đồng thời, có những quy tắc riêng trong cấu trúc nội tại của nó (quy tắc cấu tạo địa danh, phương thức định danh).
Phân loại địa danh Địa danh là tên gọi của những đối tượng địa lí, chúng tồn tại ở rất nhiều dạng thức và vô vàn kiều loại khác nhau. Do đó, cũng giống như quan niệm về địa danh, việc phân loại địa danh cũng dẫn đến nhiều tranh cãi với những ý kiến khác nhau: - A.Superanxkaja chia địa danh thành 8 loại, bao gồm: phương danh; thuỷ danh; sơn danh; phố danh; lộ danh; viên danh; đạo danh; nơi cư dân ít. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Gorbanhexki trong tác phẩm Địa danh Matxcơva đã chia địa danh thành các loại là: phương danh (tên gọi các điểm dân cư); thuỷ danh; sơn danh; phố danh (tên gọi đối tượng trong thành phố).
Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu cũng đưa ra cách phân loại khác nhau: - Trần Thanh Tâm là một trong những người đầu tiên đưa ra hệ thống phân loại địa danh ở Việt Nam. Ông phân chia địa danh thành các loại khác nhau căn cứ vào: đặc điểm; vị trí không gian và thời gian; tôn giáo và tín ngưỡng; hình thái, chất đất, khí hậu; nghề nghiệp, đặc sản, tổ chức kinh tế; hoạt động của con người. - Khác với quan điểm của Trần Thanh Tâm, Nguyễn Văn Âu chia địa danh thành 2 loại: Địa danh tự nhiên và địa danh kinh tế - xã hội với 7 kiểu: thuỷ danh, lâm danh, sơn danh, làng xã, huyện thị, tỉnh, thành phố, quốc gia và 12 dạng: sông ngòi, hồ đầm, đồi núi, hải đảo, rừng rú, truông - trảng, làng - xã, huyện - quận, thị trấn, tỉnh, thành phố, quốc gia. Cách phân loại này cụ thể, dễ thống kê.
Tuy nhiên lại đi quá chi tiết nên mất đi tính khái quát. - Lê Trung Hoa trong “Các nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh” đã dựa vào tiêu chí đối tượng định danh và nguồn gốc ngôn ngữ để phân loại địa danh: + Xét theo đối tượng, địa danh được phân thành 2 loại: tự nhiên và không tự nhiên. Địa danh chỉ đối tượng địa lý nhân tạo gồm 3 kiểu loại: địa danh chỉ các công trình xây dựng, địa danh chỉ các đơn vị hành chính và địa danh chỉ các vùng lãnh thổ không có ranh giới rõ ràng. Trong mỗi kiểu loại, tác giả lại có những chia tách nhỏ hơn.
Trong “Địa danh, những tấm bia lịch sử, văn hóa của đất nước”, ông đã chia địa danh chỉ công trình xây dựng thành 4 nhóm: sinh hoạt cư trú (nhà, chung cư, cư xá,…), sinh hoạt kinh tế (ruộng, chợ, lò, phố xá, nông trường,…), sinh hoạt giao thông (bến (xe, đò), cầu, đường, quán, phà, bắc,…), sinh hoạt tâm linh (chùa, miếu đình, võ (dỏ), nhà thờ,…). 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Địa danh tự nhiên được phân thành 3 loại: sơn danh, thủy danh và vùng đất nhỏ. + Xét về nguồn gốc ngữ nguyên, tác giả chia địa danh thành phố Hồ Chí Minh thành 2 nhóm lớn: địa danh thuần Việt và địa danh không thuần Việt (gốc Hán - Việt, gốc Khơme, gốc Pháp…). - Đồng quan điểm với Lê Trung Hoa, nhiều nhà nghiên cứu như Nguyễn Kiên Trường, Từ Thu Mai, Nguyễn Văn Loan… đã lấy hai tiêu chí tự nhiên và không tự nhiên để phân chia địa danh thành 2 loại lớn là địa danh tự nhiên và địa không tự nhiên.
Tuy nhiên, ở những tiểu loại nhỏ hơn, mỗi tác giả lại có cách phân chia khác nhau tùy vào mục đích nghiên cứu và đặc trưng địa bàn. Chúng tôi đồng ý với cách phân loại của Lê Trung Hoa và Nguyễn Kiên Trường và lựa chọn nó làm cách phân loại của luận văn bởi đây là cách phân loại có tính khái quát và bao hàm các loại địa danh. Địa danh Tự nhiên Không tự nhiên Sơn danh Thủy danh Vùng đất Hành Công trình Công trình nhỏ chính xây dựng văn hóa, tâm linh, tôn giáo 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong luận văn, chúng tôi lựa chọn đối tượng nghiên cứu là nhóm địa danh hành chính. Địa danh hành chính nằm trong hệ thống địa danh chung, thuộc về hệ thống địa danh không tự nhiên theo cách phân loại của Lê Trung Hoa và Nguyễn Kiên Trường.
Đây là các đơn vị, tổ chức hành chính do chính quyền quy định và thường xuyên thay đổi theo chính quyền hoặc thể chế chính trị, do vậy tính ổn định thường kém hơn nhiều so với các địa danh tự nhiên vốn hình thành một cách tự phát và được lưu truyền, bảo tồn trong dân gian từ đời này sang đời khác. Khái quát chung về phức thể địa danh 1. Khái niệm “Phức thể địa danh” Một trong những thao tác khoa học đầu tiên khi nghiên cứu địa danh học chính là việc nhận diện chính xác địa danh trên dòng ngữ lưu của nó. Ví dụ như trong cụm từ “xã Phượng Dực” (tổng Phượng Dực, huyện Thượng Phúc) thì cả hai yếu tố “xã” và “Phượng Dực” đều là địa danh hay chỉ có “Phượng Dực” mới là địa danh và phải viết hoa? Có nhiều cách nhìn khác nhau về vấn đề này.
Mỗi nhà nghiên cứu địa danh khi đưa ra quan niệm về địa danh cũng đã xác định vấn đề này: Theo Lê Trung Hoa, địa danh chỉ gói gọn trong một danh từ riêng để xác định và khu biệt sự vật. Danh từ chung đi trước như từ “thôn” trong cụm từ “thôn Giáp Bát”, cụm từ “xã” trong “xã Đồng Nhân Châu” chỉ mang ý nghĩa chỉ loại, sử dụng kèm theo địa danh và không dùng hình thức viết hoa. Đồng quan điểm với Lê Trung Hoa, Từ Thu Mai nhận định: “Khi đã phân biệt thành bộ phận từ ngữ chung và bộ phận tên riêng, địa danh được hiểu chỉ là bộ phận tên riêng, còn bộ phận từ ngữ chung được đặt trước tên riêng đó chỉ có tính chất đi kèm, chỉ loại hình đối tượng địa lý mà thôi” [33]. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo nhận định trên thì danh từ chung nằm ngoài khái niệm địa danh.
Tuy nhiên, trong thực tế, nếu thiếu đi yếu tố chung chỉ loại này, việc hiểu một danh từ nào đó có phải địa danh không rất khó khăn. Ví dụ: “Đoài” chỉ được coi là địa danh khi nằm trong kết hợp thôn Đoài. Tương tự như vậy, “Thị” chỉ được coi là địa danh khi nằm trong kết hợp Thị thôn. Khác với quan niệm của Lê Trung Hoa và Từ Thu Mai, Nguyễn Văn Loan trong Luận án Tiến sĩ về Địa danh Hà Tĩnh đã nhận định vai trò của danh từ chung trong một địa danh: “Trên thực tế hành chức của các đơn vị định danh, chúng ta nhận thấy rằng, trong nhiều trường hợp, địa danh chỉ tồn tại trong bộ phận tên riêng mà những yếu tố chung đi kèm không nhất thiết tồn tại, như Sài Gòn, Hà Nội, Huế (.
Lại có những trường hợp, yếu tố chung đi kèm có tác dụng khái quát hoá rất cao mà khi sử dụng địa danh, chúng ta gần như không thể bỏ qua. Chẳng hạn những yếu tố chung liên quan đến mảng địa danh về đời sống văn hóa tâm linh như đền, chùa, nhà thờ… Chúng ta không thể chỉ sử dụng yếu tố tên riêng thay cho phức thể địa danh này. Thậm chí, trong nhiều trường hợp, thành tố chung còn có chức năng bao quát cho cả địa danh.