Lời mở đầu” và “Kết luận”, “Phụ lục”, “Danh mục tài liệu tham khảo” luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về di cƣ. Chƣơng 2: Nghiên cứu biến động về di cƣ và các nhân tố ảnh hƣởng về di cƣ nội địa ở Nghệ An. Chƣơng 3: Giải pháp các vấn đề liên quan đến di cƣ nội địa ở Nghệ An. 9 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI CƢ 1.1 Khái niệm về di cƣ và một số khái niệm liên quan về di cƣ 1.1Định nghĩa di cư Di cư là một thuật ngữ mô tả quá trình di chuyển dân số hoặc là quá “ trình con người rời bỏ hoặc hội nhập vào một đơn vị hành chính - địa lý nhất định.
Tại những nước đang phát triển, các đô thị lớn luôn luôn là điểm thu hút các luồng di chuyển. Ngược lại ở các nước phát triển người dân lại có xu hướng di chuyển đến các đô thị nhỏ vệ tinh xung quanh những đô thị lớn. Hiện tượng di cư khiến sự tập trung dân số ở đô thị đặt ra những thách thức mới cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội bền vững, đặc biệt trong mối quan hệ với các nguồn lực tự nhiên, môi trường của các vùng miền đất nước. Theo nghĩa rộng, di cư là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong một không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn.
Với khái niệm này di cư đồng nhất với sự di động dân cư. Theo nghĩa hẹp, di cư là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định (Liên Hiệp Quốc). Khái niệm này khẳng định mối liên hệ giữa sự di chuyển với việc thiết lập nơi cư trú mới. Đối với các nhà nghiên cứu, khái niệm di cư thường được định nghĩa không giống nhau.
Di cư là một hình thức di chuyển về địa lý hay không gian kèm theo sự thay đổi nơi ở thường xuyên giữa các đơn vị hành chính. Theo ông những thay đổi nơi ở tạm thời, không mang tính lâu dài như thăm viếng, du lịch, buôn bán làm ăn, kể cả qua lại biên giới, không nên phân loại là di cư. Theo tác giả, di cư còn phải gắn liền với sự thay đổi các quan hệ xã hội của người di chuyển (xem Henry S. Shryock: The Method and 10 Materials of Demography, Washington, 1980, tr.
” Còn theo Mangalam và Morgan (1968) cho rằng di cư là “sự di chuyển vĩnh viễn tương đối của người di cư ra khỏi tập đoàn đang sống từ một đơn vị địa lý khác”. Mặt khác, theo tác giả Paul Shaw thì “Di cư là hiện tượng di chuyển khỏi tập thể từ một địa điểm địa lý này đến một địa điểm địa lý khác, trên cơ sở quyết định của người di cư, dựa vào một loạt các giá trị trong hệ thống các mối quan hệ qua lại của người di cư”. Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau khi xem xét khái niệm di dân, có thể tóm tắt một số điểm chung được chấp nhận như sau: “- Người di cư di chuyển ra khỏi một địa dư nào đó đến một nơi khác sinh sống. Nơi đi và nơi đến phải được xác định là một vùng lãnh thổ hay một đơn vị hành chính (khoảng cách giữa hai địa điểm là độ dài di chuyển).
- Người di chuyển bao giờ cũng có những mục đích, họ đến một nơi nào đó và định cư tại đó và định cư tại đó trong một khoảng thời gian để thực hiện mục đích đó. Nơi xuất phát là đầu đi và nơi ở mới là đầu đến. Tính chất thay đổi nơi cư trú này chính là điều kiện cần để xác định di cư. - Khoảng thời gian ở lại trong bao lâu là một trong những tiêu chí quan trọng để xác định di dân.
Thông thường, tuỳ theo mục đích nghiên cứu và loại hình di dân, thời gian đó có thể là một số năm, một số tháng, thậm chí là một số tuần.Trong các cuộc điều tra dân số ở Việt Nam có nghiên cứu hai loại di cư nội địa: Di cư trước thời điểm điều tra một năm và di cư diễn ra trước thời điểm điều tra 5 năm. - Có thể đưa thêm một số đặc điểm khác nữa khi xem xét di cư như sự thay đổi các hoạt động sống thường ngày, thay đổi các quan hệ xã hội. Di cư gắn liền với sự thay đổi công việc, nơi làm việc, công việc nghề nghiệp…” 11 1.2 Một số khái niệm liên quan về di cư Trong khái niệm về chuyển cư, người ta còn phân biệt hai yếu tố cấu thành quá trình này là xuất cư và nhập cư: - Xuất cư, nhập cư + Xuất cư là việc di chuyển nơi ở của người dân ra khỏi một đơn vị “ hành chính tạm thời hay vĩnh viễn. Đây là hiện tượng phổ biến ở nhiều quốc gia do tình trạng mức sống thu nhập và lao động không đồng đều.
Xuất cư có ảnh hưởng đến mọi hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội, nhân khẩu địa bàn nơi đến cũng như nơi đi. + Nhập cư là sự di chuyển của người dân đến một khu vực hay một đơn vị hành chính khác. Quá trình này thường xuyên bị chi phối bởi nhiều nhân tố như kinh tế, chính trị…Cũng như xuất cư nhập cư có ảnh hưởng quan trọng đến địa bàn nơi đến và nơi đi. + Sự chênh lệch giữa nhập cư và xuất cư gọi là di cư thuần.
Đối với một địa bàn, di cư thuần có thể mang giá trị là dương (nếu số người xuất cư ít hơn số người nhập cư) hoặc là âm (nếu số người xuất cư nhiều hơn số người nhập cư).2 Phân loại di cƣ Quá trình di cư luôn chịu tác động của yếu tố “nhân tố đẩy” và “nhân tố kéo” hay quá trình di cư xảy ra khi có sự khác biệt về đặc trưng giữa hai vùng: vùng đi và vùng đến. Nhân tố đẩy là những yếu tố, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa ở nơi đi, ví dụ: do điều kiện sống khó khăn, thiếu việc làm, thiếu đất đai. Đây là “nhân tố đẩy”. Cùng với nó các nhân tố hút ở nơi đến như những điều kiện, yếu tố thuận lợi về tự nhiên, kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa… và sự hấp dẫn về việc làm, cơ hội có thu nhập và mức sống cao ở nơi đến.
Đây là “nhân tố kéo”. Sự kết hợp giữa nhân tố đẩy và nhân tố kéo đã thúc đẩy quá trình di cư diễn ra 12 Việc phân loại lao động di cư là để có góc nhìn đa chiều, trên cơ sở đó có thể đánh giá, nhìn nhận về lao động di cư dưới nhiều khía cạnh khác nhau phục vụ cho việc đánh giá thực trạng và hoạch định chính sách phù hợp.1 Phân loại dựa trên cấp hành chính và địa bàn di cư Dựa trên cấp hành chính và địa bàn di cư, có thể phân chia thành các “ dòng di cư được xác định dựa trên đặc điểm nông thôn hay thành thị của nơi thường trú tại thời điểm điều tra và nơi thường trú hiện tại của người di cư: - Di cư từ khu vực nông thôn đến nông thôn: là hình thức di cư mà người di cư di chuyển theo hướng từ khu vực nông thôn này đến khu vực nông thôn khác. Đây là loại di cư diễn ra phổ biến tại các quốc gia lấy định hướng phát triển nông nghiệp làm trọng tâm của quá trình phát triển. Ở Việt Nam, luồng di cư này chủ yếu bao gồm loại di cư nội tỉnh và di chuyển vì lý do gia đình, hôn nhân nhiều hơn lý do việc làm vì thực tế ở Việt Nam sự khác biệt về điều kiện kinh tế - xã hội giữa các khu vực nông thôn chưa nhiều như giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn.
- Di cư từ khu vực nông thôn đến thành thị: là hình thức di cư mà người di cư di chuyển theo hướng từ khu vực nông thôn ra thành thị. Luồng di cư thường chiếm tỷ trọng lớn trong 4 luồng di cư nội địa trong thời kỳ công nghiệp hóa, đô thị hóa theo chiều rộng. Do thành thị là nơi đang phát triển mạnh, nhanh có cơ hội việc làm,thu nhập cao cũng như điều kiện học tập tốt. Ở Việt Nam từ năm 1986 đến cho đến nay, luồng di cư này ngày càng tăng về quy mô và cường độ.
Đây cũng là thời điểm bắt đầu công cuộc đổi mới, theo nền kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước và cũng là thời điểm đánh dấu quá trình công nghiệp hóa đất nước diễn ra mạnh mẽ. Luồng di cư này bao gồm chủ yếu di cư ngoại tỉnh và nơi đến tập trung vào một số thành phố lớn, các khu công nghiệp - đô thị mới, tập trung. Đặc biệt hai thành phố lớn Hà Nội và Hồ Chí Minh và các tỉnh có nhịp độ công nghiệp hóa nhanh như 13 Bình Dương, Đồng Nai… đã đón một lượng lớn dân cư từ các vùng nông thôn tới cư trú.” - Di cư từ khu vực thành thị đến thành thị: là hình thức mà người di cư di chuyển theo hướng từ khu vực thành thị này đến khu vực thành thị khác. Trong thực tế, khu vực thành thị cũng có nhiều loại khác nhau.
Thông thường, những đô thị càng lớn, càng hoàn thiện hơn, cơ sở hạ tầng càng tốt hơn, đầy đủ hơn, các loại hình dịch vụ càng đa dạng hơn, càng đáp ứng được nhiều và đầy đủ hơn nhu cầu của con người, đồng thời nó còn là thị trường lao động cho những người có trình độ học vấn và chuyên môn cao. Do đó,người dân vẫn có xu hướng di chuyển từ khu đô thị nhỏ về các khu đô thị lớn, có cơ sở hạ tầng hoàn thiện hơn, tốt hơn. Thông thường, đây là hình thức di cư chủ yếu của những nước đã có nền công nghiệp hóa phát triển mạnh. Ở Việt Nam hiện nay luồng di cư này cũng đang có chiều hướng phát triển nhanh, với các hướng di chuyển chính: luồng di cư Bắc - Nam, từ các thành phố nhỏ, thị xã thị trấn về các thành phố lớn tại Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Bình Dương… “- Di cư từ khu vực thành thị đến nông thôn: là hình thái mà người di cư di chuyển theo hướng từ khu vực thành thị đến khu vực nông thôn.
Thông thường, luồng di cư này phát triển mạnh tại các nước phát triển, nhịp sống đô thị hóa căng thẳng, tất bật ồn ào.