MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, tình hình thiên tai diễn ra khó lường do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, hàng loạt các hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra bất thường, khó dự đoán làm ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình kinh tế - xã hội đời sống người dân trong phạm vi cả nước nói chung và tỉnh Hà Giang nói riêng. Hà Giang là tỉnh biên giới phía bắc, giáp Trung Quốc và các tỉnh Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng. Hà Giang có khí hậu đặc trưng của vùng núi phía Bắc, trong đó có tâm mưa lớn nhất miền Bắc là Bắc Quang.
Địa hình bị chia cắt mạnh, độ dốc lớn, có nhiều sông suối nên lũ quét và sạt lở đất là những hiện tượng thiên tai phổ biến nhất, xuất hiện thường xuyên và gây thiệt hại về tài sản của người dân, hư hỏng các công trình cơ sở hạ tầng và ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp. Những năm gần đây do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, tình hình thiên tai diễn ra bất thường, khó dự đoán với cường độ cao đã làm ảnh hướng rất lớn tới tình hình kinh tế xã hội cũng như đời sống của người dân trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Giá trị thiệt hại do thiên tai trên địa bàn tỉnh Hà Giang năm 2011 là 40 tỷ đồng, năm 2012 là 200 tỷ đồng, năm 2013 là 162 tỷ đồng, năm 2014 là 634,5 tỷ đồng, năm 2015 là 120 tỷ đồng, năm 2016 là 200 tỷ đồng, năm 2017 là 300 tỷ đồng, năm 2018 là 304 tỷ đồng. Mặc dù Luật Phòng, Chống Thiên tai đã được Quốc hội thông qua năm 2013 nhưng công tác phòng chống thiên tai đặc biệt là lũ quét và sạt lở đất ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và Hà Giang nói riêng vẫn xuất hiện nhiều bất cập.
Hệ thống tổ chức quản lý Nhà nước và các cơ quan chỉ đạo đã được thành lập nhưng nhân sự mỏng; còn nhiều cán bộ làm việc kiêm nhiệm; còn có sự chồng chéo trong chức năng, nhiệm vụ và phối hợp thực hiện. Các tổ chức trực tiếp triển khai phòng, chống thiên tai (trong đó bao gồm cả lũ quét và sạt lở đất) chưa hợp lý, đặc biệt trong các hoạt động quản lý, vận hành và duy tu bảo dưỡng các công trình phòng, chống thiên tai. Do vậy, hiệu quả phòng, chống thiên tai của tỉnh Hà Giang vẫn còn rất hạn chế. 1 Từ thực tế trên đây, đề tài “Nghiên cứu đề xuất mô hình tổ chức quản lý rủi ro lũ quét và sạt lở đất ở tỉnh Hà Giang” là cần thiết.
Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được thực trạng lũ quét, sạt lở đất và thể chế, chính sách quản lý rủi ro thiên tai (bao gồm cả lũ quét, sạt lở đất ở tỉnh Hà Giang); - Đề xuất được mô hình tổ chức quản lý rủi ro lũ quét và sạt lở đất ở tỉnh Hà Giang. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Lũ quét, sạt lở đất. - Phạm vi nghiên cứu: Tỉnh Hà Giang. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 4.
Cách tiếp cận + Tiếp cận kế thừa: Xem nghiên cứu này được hoàn thành trên cơ sở kế thừa các kết quả, thành tựu của các nghiên cứu có liên quan đã được công bố. Kế thừa trong nghiên cứu không bị giới hạn bởi yếu tố địa lý, chính trị, tôn giáo hay sắc tộc. Tuy nhiên, sự kế thừa chỉ được chấp nhận khi có sự phân tích một cách thỏa đáng tính tương đồng hay điều kiện áp dụng. + Tiếp cận từ dưới lên và trên xuống: Trong một số vấn đề nghiên cứu cụ thể, hoạt động nghiên cứu phải được thực hiện thông qua sự đối thoại, trao đổi, chia sẻ hai chiều từ phía chính quyền, cơ quan chính phủ với các tổ chức kinh tế hoặc thậm chí người dân.
Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp điều tra, thu thập số liệu: Thu thập, sao chụp những văn bản, chính sách của Nhà nước liên quan đến mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động, phối hợp trong phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả lũ quét và sạt lở đất đá và các giải pháp phòng chống ở khu vực nghiên cứu. - Phương pháp kế thừa: Kế thừa các kết quả điều tra, phỏng vấn của các cơ quan, đơn vị liên quan nhằm i) đánh giá hiệu quả hoạt động của các mô hình tổ chức; cơ chế hoạt 2 động, phối hợp trong công tác phòng chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn ở tỉnh Hà Giang; ii) đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, tồn tại của mô hình tổ chức ở cấp địa phương trong phòng ngừa, ứng phó, khắc phục thảm họa thiên tai, đặc biệt đối với lũ quét và sạt lở đất đá. - Phương pháp thống kê: Thống kê các số liệu từ các văn bản báo cáo về những thiệt hại do lũ quét và sạt lở đất gây ra cho tỉnh Hà Giang qua các năm. - Phương pháp SWOT: Phương pháp này nhằm phân tích được điểm mạnh, điểm yếu của mô hình tổ chức.
Từ đó giúp nhà quản lý tối đa hóa các điểm mạnh và giảm thiểu các điểm yếu để mô hình tổ chức có thể tận dụng các cơ hội được liệt kê ở trên, vượt qua các mối rủi ro đã xác định. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu 1. Đặc trưng của lũ quét và sạt lở đất 1.
Khái niệm và đặc trưng của lũ quét Nghiên cứu về phương pháp và hệ thống các công cụ dự báo lũ quét (LQ), H.A Prasantha Hupuarachchi và Q. Wang (2008) [1] tổng hợp các khái niệm về lũ quét, gồm: Lũ quét (LQ) là một trận lũ do mưa lớn trong một thời gian ngắn, thường ít hơn 6 giờ. Ngoài ra, theo NWS, đôi khi sự cố vỡ đập có thể gây ra lũ quét, tùy thuộc vào loại đập và khoảng thời gian xảy ra hiện tượng vỡ đập. “Lũ quét là một trận lũ có cường độ tăng và giảm rất nhanh với ít hoặc không có cảnh báo trước, thường là kết quả của mưa lớn trên một khu vực tương đối nhỏ”.
Tương tự như vậy, Alessandro G. Colombo, Javier Hervás and Ana Lisa Vetere Arellano (2002) [2] đưa ra định nghĩa về lũ quét như sau: "một trận lũ dâng lên và rơi khá nhanh với ít hoặc không có cảnh báo trước, thường là do mưa lớn trên một khu vực tương đối nhỏ”. Tổng quan về các thuận lợi và thách thức đối với quản lý rủi ro lũ quét, Karamat Ali, Roshan M Bajracharyar và Nani Raut (2017) [3]: Lũ quét là một biến cố thủy văn hình thành trong vòng 6 giờ sau khi mưa, thường xảy ra trong một thời gian ngắn, đột ngột tác động bởi lượng mưa tương đối cao, sinh ra dòng chảy lớn và gây ngập úng nhanh chóng cho vùng hạ du. Ở Việt Nam, từ nhiều năm nay các nhà nghiên cứu trong nước đã quan tâm nghiên cứu về lĩnh vực này.
Trong các nghiên cứu, khái niệm về lũ quét cũng được diễn giải theo một số cách khác nhau. Chẳng hạn: Cao Đăng Dư (1995) [4], Cao Đăng Dư và Lê Bắc Huỳnh (2000) [5] cho rằng lũ quét là một loại lũ lớn, xảy ra bất ngờ, duy trì trong một thời gian ngắn (lên nhanh và xuống nhanh) và có sức tàn phá lớn 4 Theo Nguyễn Hiệu (2007) [6], lũ quét là lũ xuất hiện đột ngột, hoạt động trong khoảng thời gian ngắn ngủi, lan truyền với tốc độ cao và có sức công phá rất lớn. Theo Ngô Đình Tuấn (2008) [7], lũ quét là loại lũ có tốc độ rất lớn (quét), xảy ra bất thần (thường xuất hiện vào ban đêm; nơi xảy ra có khi mưa lũ bé - lũ ống.) trên một diện tích nhỏ hay lớn, duy trì trong một thời gian ngắn hay dài (tùy từng trận mưa lũ), mang nhiều bùn cát, có sức tàn phá lớn. Báo cáo kết quả thực hiện dự án “Điều tra, khảo sát, phân vùng và cảnh báo khả năng xuất hiện lũ quét ở miền núi Việt Nam, giai đoạn 1”, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi Khí hậu (2008) [8] khái quát “Lũ quét là hiện tượng dòng chảy do mưa cường độ lớn hình thành trên sườn dốc (thường ở khu vực miền núi), kéo theo đất, đá để tạo thành các dòng bùn đá đổ xuống thung lũng và lòng sông suối làm cuốn trôi và tràn ngập nhà cửa công trình trên đường dòng chảy bùn đá đi qua”.
Các dạng lũ quét ở khu vực miền núi Việt Nam nói chung và khu vực miền núi phía Bắc có 6 dạng: 1- LQ sườn dốc; 2- LQ nghẽn dòng tự nhiên; 3- LQ nghẽn dòng đột biến; 4- LQ vỡ dòng tự nhiên; 5- LQ vỡ dòng nhân tạo; 6- LQ hỗn hợp. Nguồn: https://vnexpress.net/trang-tay-sau-lu-quet-4187519. 1 Lũ quét tại xã Phước Thành, Phước Sơn, Quảng Nam tháng 10/2020 5 Từ khái niệm trên đây, các học giả cho rằng, LQ thường xuyên xảy ra ở các lưu vực nhỏ hoặc ở một vùng đất khô hạn. Các khu vực này thường ít được quan tâm hoặc không có điều kiện để kiểm tra thường xuyên.
Khái niệm và đặc trưng của sạt lở đất Nghiên cứu về chính sách cho những vùng xảy ra sạt lở đất, đá (SLĐĐ), Robert B. David Rogers (1987) [9] đề cập đến khái niệm: Sạt lở đất, đá là một quá trình tự nhiên của bề mặt trái đất, do tổ hợp mưa, động đất và trọng lực của khối đất đá gây ra. Đây là một hình thức cực đoan của hiện tượng xói mòn. Sạt lở đất, đá xảy ra khi lực bên ngoài vượt quá lực cản trong đất và đá trên vùng sườn đồi.
Cơ chế gây lở đất thường xuyên nhất là mưa lớn hoặc nước tích trong khối đất đá. Mặc dù động đất cũng gây ra nhiều vụ SLĐĐ, nhưng mưa lớn là một trong số nguyên nhân gây ra thường xuyên hơn. Theo tài liệu kỹ thuật quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu do Tổng cục Thủy lợi (nay là Tổng cục Phòng chống thiên tai) [10] công bố thì SLĐĐ được diễn giải là sự dịch chuyển của đất đá xuống bên dưới sườn dốc. Hiện tượng SLĐĐ có thể là hậu quả của (hoặc là sự kết hợp của) sự xuất hiện các chấn động địa chất tự nhiên (ví dụ như động đất), do hiện tượng phong hóa, hoặc do sự thay đổi độ ẩm trong đất, hoặc do sự dịch chuyển của kết cấu bảo vệ ở phần chân của mái dốc, hoặc do xây dựng công trình trên sườn dốc, hoặc do hiện tượng phong hóa bề mặt sườn dốc và do các tác động của con người làm thay đổi hướng dòng chảy hoặc kết cấu của sườn dốc.