Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Đặc điểm tự nhiên và tình hình phát triển chăn nuôi nghêu khu vực phía Nam Việt Nam 1. Đặc điểm tự nhiên 1. Đặc điểm địa hình Nam Bộ có địa hình tương đối thấp và bằng phẳng, địa hình bao gồm phần đất bằng xen kẽ những vùng trũng và các giồng cát. Địa hình của các tỉnh hầu như có dạng thoải, dốc thấp dần vào phía trong, từ biển Đông thấp dần vào đất liền với những giồng đất ven sông, biển.
Dựa vào địa hình của khu vực này có thể chia thành 3 vùng như sau: - Vùng địa hình thấp, vùng trũng: Thường bị ngập dài vào mùa mưa. - Vùng địa hình cao ven sông và ven biển, cao từ 1,2 – 2 m, là những giồng cát cao đến 2m. - Vùng địa hình trung bình: Gồm có các khu vực thuộc thành phố và một số khu vực thuộc các huyện. Với địa hình thấp, bị phân cắt nhiều bởi hệ thống các sông rạch và kênh mương thủy lợi, lại tiếp giáp với biển cho nên dễ bị nước biển xâm nhập (nhiễm mặn), nhất là vào mùa khô.
Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng a) Địa chất Địa chất ở phía Nam Việt Nam nói chung được hình thành bởi các loại trầm tích nằm trên nền đá gốc Mezoic xuất hiện từ độ sâu gần mặt đất ở phía Bắc 6 đồng bằng cho đến độ sâu khoảng 1.000 m ở gần bờ biển. Các dạng trầm tích có thể chia thành những tầng chính sau: - Tầng Holocene: Nằm trên mặt, thuộc loại trầm tích trẻ, bao gồm sét và cát. Thành phần hạt từ mịn tới trung bình. - Tầng Pleistocene: Có chứa cát sỏi lẫn sét, bùn với trầm tích biển.
- Tầng Pliocene: Có chứa sét lẫn cát hạt trung bình. - Tầng Miocene: Có chứa sét và cát hạt trung bình. b) Thổ nhưỡng Theo kết quả nghiên cứu cho thấy, đất ở khu vực phía Nam Việt Nam gồm 6 nhóm chính: - Đất cát; - Đất phù sa; - Đất gley; - Đất mặn; - Đất phèn; - Đất nhân tác. Đất đai ở khu vực này thuộc loại trầm tích hỗn hợp sông biển, có hàm lượng sét cao, chứa nhiều chất hữu cơ.
Do nằm trong vùng ảnh hưởng mặn, có nhiều vùng trũng, khó tiêu thoát, nên phần lớn đất đai bị nhiễm mặn và chua phèn. Diện tích đất mặn và phèn không những ảnh hưởng đến việc phát triển sản xuất nông nghiệp, mà còn ảnh hưởng đến nguồn nước sử dụng cho tưới tiêu cũng như cung cấp cho ăn uống và sinh hoạt (đất phèn hoạt động và đất phèn tiềm tàng là nguồn gốc gây ra nước chua), đặc biệt là thời kỳ đầu mùa mưa. Đặc điểm chế độ thủy lợi Sông rạch ở khu vực phía Nam Việt Nam và đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long đa phần thuộc vùng ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều. Nguồn nước trên hệ thống sông rạch là kết quả của sự pha trộn giữa lượng mưa tại chỗ, nước biển và nước thượng nguồn sông ở các con sông đổ về.
Dòng chảy ở các cửa sông khá mạnh vào mùa mưa, ảnh hưởng ra xa quá 4 hải lý. Dòng tổng hợp ven bờ khoảng 1m/s. Dòng hải lý theo mùa và dòng chảy theo hướng Tây – Nam là chủ yếu trong mùa khô và theo hướng Đông – Bắc trong mùa mưa. Do ảnh hưởng bởi dòng thủy triều và hải triều nên nước trên sông trong năm có thời gian bị nhiễm mặn vào mùa khô, vào mùa mưa nước sông được ngọt hóa, có thể sử dụng cho tưới nông nghiệp.
Phần sông rạch giáp biển bị nhiễm mặn quanh năm, do đó không thể phục vụ tưới cho nông nghiệp, nhưng bù lại nguồn nước mặn, nước lợ ở đây lại tạo thuận lợi trong việc nuôi trồng thủy sản nói chung và đặc biệt là nuôi Nghêu nói riêng. Đặc trưng khí hậu Khí hậu ở khu vực phía Nam Việt Nam có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo và chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11. Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
a) Nắng Tổng lượng bức xạ trung bình trong năm tương đối cao, đạt 140 – 150 kcal/cm2. Tổng giờ nắng bình quân trong năm 2.292,7 giờ (khoảng 6,28 giờ/ngày), cao nhất thường vào tháng 3 là 282,3 giờ, thấp nhất thường vào tháng 9 là 141,5 giờ. 8 b) Mưa Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.230 mm, chênh lệch lớn theo mùa, mùa mưa chiếm 90% tổng lượng mưa, mùa khô rất ít, có tháng không mưa. a) Độ ẩm: Độ ẩm trung bình cả năm là 84% (cao nhất 89% vào mùa mưa, thấp nhất 75% vào mùa khô).
c) Gió Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có các hướng gió chính như sau: Tây, Tây Nam, Đông Bắc, Đông Nam và gió được chia làm hai mùa rõ rệt là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam. Mùa mưa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam là chủ yếu; còn mùa khô chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc là chủ yếu với tốc độ gió trung bình là 1,77m/s. d) Các yếu tố khác Đồng bằng sông Cửu Long nằm trong khu vực rất ít gặp bão. Những năm gần đây, lốc thường xảy ra ở một số tỉnh như Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu.
Lốc tuy nhỏ nhưng cũng gây ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Đặc điểm sinh sống và phát triển Nghêu thích sống ở bãi triều trên vùng biển cạn. Chất đáy nơi nghêu phân bố là cát pha bùn, tỷ lệ cát thích hợp là 60 - 70%. Nghêu sinh trưởng theo mùa, đặc biệt là vào mùa mưa, chất hữu cơ từ các cửa sông đổ ra nhiều, nghêu mau lớn, sinh trưởng nhanh.
Đây là loài sinh sản quanh năm, nhưng tập trung vào tháng 1 - 2 và tháng 7-8. Tỷ lệ đực cái trung 9 bình 1:1,5. Đẻ trung bình 5 triệu trứng/cá thể. Nghêu là động vật ăn lọc, không có khả năng chủ động săn mồi và chọn lọc thức ăn.
Khi nghêu tăng trưởng, khối lượng thịt tăng chậm hơn so với vỏ. Cứ 100 kg nghêu cỡ 35–37 mm (45-50 con/kg), ta thu được 7,7-8,3 kg thịt; nhưng với 100 kg nghêu to cỡ 49–50 mm (19-21 con/kg) thì chỉ thu được 6,7-7,3 kg thịt. Tình hình phát triển chăn nuôi Nghêu khu vực phía Nam Việt Nam Theo Quy hoạch phát triển nuôi nhuyễn thể hàng hóa tập trung đến năm 2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến năm 2015 diện tích nuôi nghêu, sò của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long là 28.110 ha và năm 2020 phát triển lên 35. Cụ thể, đến năm 2015 diện tích nuôi nghêu là 15.950 ha, sản lượng 142.700 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 114,16 triệu USD; diện tích nuôi sò 12.160 ha, sản lượng 63.320 tấn, kim ngạch xuất khẩu 73,95 triệu USD.
Đến năm 2020, diện tích nuôi nghêu 20.590 ha, sản lượng 206.300 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 198,03 triệu USD; diện tích nuôi sò 15.100 ha, sản lượng 102.688 tấn, kim ngạch xuất khẩu 154,02 triệu USD. Để đạt các mục tiêu trên, nhiều chương trình, dự án sẽ được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ưu tiên đầu tư, cụ thể như: vùng nuôi nghêu, sò tập trung các huyện Châu Thành, Cầu Ngang và Duyên Hải (Trà Vinh); các vùng nuôi tập trung huyện Gò Công Đông, Tân Phú Đông (Tiền Giang); các vùng nuôi tập trung huyện Ba Tri, Bình Đại (Bến Tre); các vùng nuôi tập trung huyện Vĩnh Châu, Long Phú, Cù Lao Dung (Sóc Trăng), Đồng thời đầu tư phát triển hạ tầng vùng sản xuất giống nhuyễn thể tập trung ở tỉnh Bến Tre và Khu sản xuất nhuyễn thể tập trung Kiên Lương (Kiên Giang).2 Thu hoạch nghêu và nhu cầu cơ giới hóa khâu thu hoạch Một trong những công việc tốn nhiều sức lao động nhất trong quá trình nuôi Ngao (Nghêu) là khâu thu hoạch. Nên thu hoạch nghêu lúc đạt kích cỡ vừa, sau 8-10 tháng nuôi. Chọn thu hoạch vào lúc cuối mùa mưa, là lúc nghêu mập, nặng ký, ngon.
Tiến hành thu hoạch vào lúc triều rút, lúc chúng đã được ăn no và thải ra các thức ăn thừa thãi, chỉ giữ lại nước nên thịt nghêu sẽ rất sạch (ngược lại, lúc triều lên, nghêu thường ngậm cát, bùn). Điều kiện thực hiện thu hoạch và các phương pháp thực hiện thu hoạch Nghêu tại các vùng nuôi Nghêu ở nước ta là phương pháp thu hoạch thủ công đang thịnh hành. Việc thu hoạch Nghêu được thực hiện khi nước thủy triều xuống.1 Khu vực nuôi Nghêu khi nước thủy triều xuống 11 Hình 1.2 Khu vực nuôi Nghêu khi nước thủy triều lên. Khi nước thủy triều xuống, việc thu hoạch nghêu được thực hiện thủ công theo phương pháp cào và nhặt bằng tay.3 Thu hoạch Nghêu khi nước thủy triều xuống Ngoài việc thực hiện thu hoạch nghêu theo cách thủ công như hiện nay, việc thực hiện thu hoạch thu hoạch Nghêu cũng được thực hiện bằng máy phun 13 nước với áp suất cao dồn cát và nghêu vào dải lưới chặn cách chừng 1,5 đến 2 mét, cát lọt qua lưới, nghêu các kích cỡ được lưới giữ lại.
Việc thực hiện thu hoạch bằng phun nước với áp suất cao cũng đạt được năng suất cao hơn so với việc thu hoạch thủ công nhưng nghêu được khai thác không đảm bảo do bị ngậm cát vì khi thu hoạch, vòi phun với áp suất cao làm cát lọt vào trong miệng của nghêu nên khi ăn nghêu sẽ lẫn cát Hình 1.4 Thu hoạch Nghêu bằng máy phun nước với áp lực cao Nhu cầu cơ giới hóa khâu thu hoạch nghêu chỉ mới xuất hiện khi hình thành các vùng chăn nuôi nghêu tập trung, con nghêu trở thành hàng hóa cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu với yêu cầu ngày càng tăng về năng suất và chất lượng. 14 Hiện tại chưa có máy thu hoạch nghêu để đáp ứng yêu cầu của sản xuất nên các nghiên cứu có liên quan đến liên hợp máy thu hoạch nghêu là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn nhằm tạo ra một hệ thống máy phù hợp, đáp ứng được các yêu cầu sản xuất khâu thu hoạch nghêu.3 Đặc điểm, tính chất cơ lý của đất vùng nuôi nghêu 1. Tính liên kết của đất Tính liên kết của đất là sự dính kết giữa các phần tử đất với nhau những loại đất có tính liên kết lớn thường tạo thành trong đất những kiểu kết cấu tảng cục lớn. Ðơn vị đo tính liên kết của đất được xác định bằng lực ấn vào đất.
Những yếu tố ảnh hưởng đến tính liên kết của đất là: thành phần cơ giới, độ ẩm đất, cấu trúc của đất, hàm lượng mùn và thành phần cation hấp phụ trong đất.