Tổng quan nghiên cứu

Thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp theo định hướng nâng cao giá trị gia tăng, mục tiêu toàn quốc đến năm 2020 là xây dựng 1,2 triệu ha rừng trồng kinh doanh gỗ lớn tập trung. Vùng Đông Bắc Bộ, với hơn 50% diện tích tự nhiên là đất lâm nghiệp, giữ vị thế chiến lược trong phát triển kinh tế đồi rừng. Tuy nhiên, phần lớn diện tích rừng trồng hiện nay chủ yếu là cây mọc nhanh chu kỳ ngắn từ 5 đến 7 năm nhằm cung cấp dăm mảnh và nguyên liệu bột giấy với giá trị gia tăng thấp. Tại Quảng Ninh, tổng diện tích rừng trồng sản xuất đạt 147.229 ha thì có đến 102.901 ha trồng keo, chiếm gần 70%, nhưng gần như 100% diện tích phục vụ khai thác gỗ nhỏ. Tương tự, tại Bắc Giang, diện tích rừng trồng keo đạt 43.845 ha thì rừng gỗ nhỏ chiếm tới 39.383 ha, tương đương 89,8%.

Vấn đề cấp thiết đặt ra là năng suất rừng trồng còn nhiều hạn chế, hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích chưa tương xứng với tiềm năng sinh thái. Luận văn tập trung đánh giá toàn diện thực trạng diện tích, sinh trưởng, năng suất và điều kiện lập địa của các mô hình rừng trồng keo tại hai tỉnh đại diện là Quảng Ninh và Bắc Giang trong giai đoạn 2015 đến 2016. Mục tiêu cụ thể là xác lập cơ sở khoa học để đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật lâm sinh, cơ chế chính sách nhằm phát triển mô hình trồng rừng gỗ lớn cho các loài Keo tai tượng, Keo lai và Keo lá tràm. Kết quả nghiên cứu góp phần trực tiếp hiện thực hóa chỉ tiêu trồng mới 6.000 ha và chuyển hóa 13.000 ha rừng gỗ lớn tại hai tỉnh giai đoạn 2016 đến 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết lập địa lâm nghiệp của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc, khẳng định năng suất rừng trồng chịu sự chi phối quyết định bởi 4 yếu tố then chốt: khí hậu, địa hình, tính chất đất đai và hiện trạng thực bì. Khung lý thuyết này kết hợp với học thuyết lâm sinh thâm canh của các tác giả trên thế giới, nhấn mạnh rằng sản lượng gỗ là kết quả tương tác tối ưu giữa kiểu gen ưu việt, điều kiện lập địa phù hợp và các biện pháp kỹ thuật tác động chuẩn xác.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng lý thuyết điều chỉnh mật độ và động thái cạnh tranh không gian dinh dưỡng trong quần xã thực vật. Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa bao gồm: chu kỳ kinh doanh rừng gỗ lớn (luân kỳ trên 10 đến 15 năm, đường kính ngang ngực đạt từ 25 cm trở lên), sinh khối tích lũy bình quân năm (đo bằng mét khối trên hecta mỗi năm), và kỹ thuật chuyển hóa rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn thông qua tỉa thưa nuôi dưỡng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn kết hợp giữa tài liệu thứ cấp kế thừa từ các chương trình kiểm kê rừng và dữ liệu sơ cấp điều tra thực địa từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 4 năm 2016. Phương pháp điều tra xã hội học được thực hiện thông qua phỏng vấn chuyên sâu 12 cá nhân, gồm 4 cán bộ quản lý thuộc Chi cục Lâm nghiệp hai tỉnh và 8 cán bộ kỹ thuật cùng chủ rừng tại 4 công ty lâm nghiệp địa phương.

Đối với điều tra lâm sinh, nghiên cứu thiết lập các ô tiêu chuẩn tạm thời điển hình diện tích 500 m2 với 3 lần lặp lại trên các mô hình keo từ 5 đến 7 năm tuổi. Các chỉ tiêu đo đếm gồm tỷ lệ sống, đường kính ngang ngực tại vị trí 1,3 m bằng thước dây chính xác đến milimet, chiều cao vút ngọn và chiều cao dưới cành bằng sào đo kết hợp máy đo độ cao laser. Mỗi ô tiêu chuẩn được đào 3 phẫu diện đất gồm 1 phẫu diện chính sâu 1,0 m lấy mẫu tại 3 tầng (0-20 cm, 30-50 cm, 80-100 cm) và 2 phẫu diện phụ sâu 0,5 m. Các chỉ tiêu lý hóa của đất được phân tích nghiêm ngặt theo Tiêu chuẩn Việt Nam như TCVN 6860:2001 về dung trọng, TCVN 5979:2007 về pH, TCVN 4050-85 về hàm lượng mùn và TCVN 6498:1999 về đạm tổng số. Dữ liệu được xử lý thống kê phương sai, phân tích hồi quy tương quan đa biến thông qua phần mềm SPSS và Excel nhằm đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy khoa học cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quỹ đất lâm nghiệp và diện tích rừng trồng các loài keo tại vùng nghiên cứu rất lớn nhưng cơ cấu sản phẩm còn mất cân đối nghiêm trọng. Tỉnh Quảng Ninh có 268.677 ha đất quy hoạch cho rừng sản xuất, trong đó rừng trồng đạt 147.229 ha với 102.901 ha là keo, nhưng hoàn toàn là rừng khai thác gỗ nhỏ. Tỉnh Bắc Giang có 115.083 ha rừng sản xuất, diện tích rừng trồng keo tập trung tại 4 huyện trọng điểm đạt 43.845 ha, trong đó rừng keo gỗ lớn và chuyển hóa chỉ chiếm 4.462 ha (khoảng 10,2%). Diện tích đất trống quy hoạch lâm nghiệp còn nhiều tiềm năng, với 58.669,4 ha tại Quảng Ninh (trạng thái Ib chiếm 46,3% tương đương 27.166,2 ha) và 11.133 ha tại 4 huyện phía Đông Bắc Giang.

Thứ hai, các mô hình rừng trồng keo có tốc độ sinh trưởng nhanh và năng suất vượt trội. Keo lai ở giai đoạn 4 đến 7 năm tuổi đạt năng suất gỗ bình quân từ 21,11 m3/ha/năm đến 29,59 m3/ha/năm, đường kính ngang ngực bình quân dao động từ 13,27 cm đến 15,10 cm. Keo tai tượng từ 4 đến 6 năm tuổi đạt mức tăng trưởng hàng năm ấn tượng từ 21,78 m3/ha/năm đến 32,36 m3/ha/năm, đường kính thân cây đạt 13,52 cm đến 16,80 cm.

Thứ ba, nghiên cứu chỉ ra hiện tượng suy giảm tốc độ tăng trưởng thể tích ở giai đoạn rừng sau 7 năm tuổi nếu không áp dụng biện pháp lâm sinh phù hợp. Ở giai đoạn 8 đến 10 năm tuổi của Keo lai, năng suất bình quân chỉ đạt 22,98 m3/ha/năm đến 24,74 m3/ha/năm, thấp hơn so với giai đoạn 4 đến 6 năm tuổi (27,06 m3/ha/năm đến 29,59 m3/ha/năm) do mật độ dày làm tăng mức độ cạnh tranh dinh dưỡng và không gian sống.

Thảo luận kết quả

Thực trạng rừng trồng kinh doanh gỗ nhỏ chiếm ưu thế tuyệt đối bắt nguồn từ áp lực quay vòng vốn của các chủ rừng. Thống kê toàn quốc cho thấy có tới 42,1% diện tích rừng sản xuất thuộc sở hữu của các hộ gia đình có hoàn cảnh kinh tế eo hẹp, buộc phải khai thác sớm ở chu kỳ 5 đến 7 năm để bán dăm gỗ xuất khẩu qua các cảng biển như Cảng Cái Lân.

Dữ liệu nghiên cứu khi biểu diễn qua biểu đồ tương quan sinh trưởng và các bảng phân cấp lập địa đã phản ánh rõ nét mối liên hệ giữa chiều dày tầng đất, thành phần cơ giới và khả năng tích lũy trữ lượng của cây keo. Các mô hình Keo tai tượng và Keo lai trồng trên đất feralit có độ dày tầng đất trên 50 cm, hàm lượng mùn cao và độ dốc dưới 20 độ đều cho năng suất gỗ lớn vượt trội. Điều này hoàn toàn tương đồng với các công trình nghiên cứu lâm sinh tại khu vực nhiệt đới. Việc duy trì mật độ ban đầu quá dày (1.660 cây/ha) mà không tiến hành tỉa thưa nuôi dưỡng ở thời điểm khép tán (tuổi 5 đến 6) chính là rào cản kỹ thuật lớn nhất khiến cây không thể đạt tiêu chuẩn đường kính gỗ xẻ trên 25 cm.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát triển bền vững rừng trồng gỗ lớn tại vùng Đông Bắc Bộ, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao:

  • Hoàn thiện quy trình kỹ thuật lâm sinh thâm canh: Chuyển đổi mật độ trồng ban đầu từ 1.660 cây/ha xuống còn 1.100 đến 1.330 cây/ha đối với rừng trồng mới. Thực hiện tỉa thưa định kỳ 1 đến 2 lần vào giai đoạn 5 đến 6 tuổi, giữ lại mật độ ổn định từ 500 đến 700 cây/ha để nuôi dưỡng đến tuổi 10 hoặc 15. Sử dụng 100% các dòng giống tiến bộ kỹ thuật như Keo lai BV5, BV10, BV32, TB03 hoặc Keo tai tượng hạt ngoại nhập nguồn gốc Australia nhằm đảm bảo năng suất gỗ cây đứng đạt trên 25 m3/ha/năm.
  • Đổi mới chính sách tín dụng và thuế: Ngân hàng Nhà nước và chính quyền địa phương cần triển khai các gói tín dụng ưu đãi với chu kỳ vay kéo dài từ 7 đến 10 năm, lãi suất hỗ trợ từ 5% đến 6%/năm cho các hộ gia đình trồng rừng gỗ lớn. Miễn giảm thuế tài nguyên và phí chuyển đổi mục đích kinh doanh từ gỗ nhỏ sang gỗ lớn để khuyến khích chủ rừng duy trì chu kỳ kinh doanh dài hạn.
  • Thực thi quy hoạch và liên kết chuỗi giá trị: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hai tỉnh cần đẩy nhanh tiến độ triển khai quy hoạch giai đoạn 2016-2020: Quảng Ninh thực hiện 5.000 ha trồng mới và 10.000 ha chuyển hóa; Bắc Giang thực hiện 1.000 ha trồng mới và 3.000 ha chuyển hóa. Thiết lập liên kết chuỗi giữa các công ty chế biến gỗ xẻ với các hợp tác xã lâm nghiệp để bao tiêu sản phẩm đầu ra ổn định.
  • Tăng cường truyền thông và khuyến nông lâm nghiệp: Trung tâm Khuyến nông tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật nhận biết lập địa, phương pháp tỉa cành tỉa thưa và phòng trừ sâu bệnh hại thân gỗ cho hơn 1.000 lượt chủ rừng mỗi năm tại các địa bàn trọng điểm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và Chi cục Kiểm lâm: Cung cấp bức tranh toàn cảnh về hiện trạng đất đai, cơ cấu loài keo và số liệu thực tiễn giúp hoạch định chiến lược quy hoạch phân vùng lập địa lâm nghiệp cấp tỉnh chính xác.
  • Doanh nghiệp lâm nghiệp và Ban quản lý rừng: Cung cấp hướng dẫn chi tiết về định mức kỹ thuật thâm canh, biểu đồ phân cấp mật độ tỉa thưa và quy trình chuyển hóa từ rừng dăm gỗ sang rừng gỗ xẻ có giá trị kinh tế cao.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Quản lý tài nguyên rừng: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị với phương pháp luận nghiên cứu thực địa bài bản, tiêu chuẩn phân tích đất chuẩn mực và hệ số tương quan sinh thái cây trồng vùng Đông Bắc.
  • Chủ rừng và các hộ gia đình sản xuất nông lâm nghiệp: Giúp người dân nắm vững kỹ thuật chọn giống tiến bộ, kỹ thuật chăm sóc tỉa thưa để tối ưu hóa giá trị kinh tế trên diện tích đất rừng gia đình, tăng thu nhập từ 1,5 đến 2 lần so với bán gỗ non.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao cần chuyển đổi từ trồng keo gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn? Việc trồng keo chu kỳ ngắn 5 năm chủ yếu bán dăm xuất khẩu cho giá trị kinh tế thấp, chỉ đạt khoảng 50 đến 70 triệu đồng/ha. Nuôi dưỡng rừng keo đến tuổi 10-15 để lấy gỗ lớn đường kính trên 25 cm phục vụ chế biến gỗ xẻ có thể nâng giá trị thu hoạch lên gấp 2 đến 3 lần, đồng thời tăng cường khả năng giữ đất, bảo vệ môi trường sinh thái.

Mật độ và thời điểm tỉa thưa tối ưu cho rừng Keo lai là bao nhiêu? Rừng Keo lai trồng với mật độ ban đầu 1.660 cây/ha nên tiến hành tỉa thưa ở giai đoạn 5 đến 6 tuổi, thời điểm cạnh tranh dinh dưỡng diễn ra gay gắt nhất. Cần tỉa bỏ các cây cong queo, sâu bệnh để giữ lại mật độ cuối cùng từ 500 đến 700 cây/ha giúp cây sinh trưởng đường kính tối đa.

Tốc độ tăng trưởng hàng năm của Keo tai tượng và Keo lai tại vùng Đông Bắc đạt mức nào? Số liệu thực tế tại Quảng Ninh và Bắc Giang ghi nhận năng suất Keo lai giai đoạn 4 đến 7 tuổi đạt từ 21,11 m3/ha/năm đến 29,59 m3/ha/năm. Trong khi đó, Keo tai tượng 4 đến 6 tuổi đạt năng suất bình quân từ 21,78 m3/ha/năm đến 32,36 m3/ha/năm, thể hiện tiềm năng sinh khối vượt trội.

Tiềm năng quỹ đất trống phát triển rừng gỗ lớn tại Quảng Ninh và Bắc Giang ra sao? Quảng Ninh có 58.669,4 ha đất chưa có rừng thuộc quy hoạch rừng sản xuất, trong đó đất rừng nghèo kiệt trạng thái Ib chiếm tới 27.166,2 ha rất thích hợp trồng mới gỗ lớn. Bắc Giang có hơn 11.133 ha đất trống tại 4 huyện trọng điểm phía Đông, tạo dư địa lớn để mở rộng quy mô rừng gỗ lớn.

Những giống keo nào được khuyến nghị trồng gỗ lớn tại khu vực nghiên cứu? Nghiên cứu khuyến nghị sử dụng các dòng Keo lai tiến bộ kỹ thuật đã được công nhận như BV5, BV10, BV16, BV32, TB03, TB05 và các xuất xứ hạt Keo tai tượng tuyển chọn từ Australia có chứng chỉ xuất xứ rõ ràng nhằm đảm bảo độ đồng đều, thân thẳng và khả năng kháng bệnh cao.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện thực trạng hơn 146.000 ha rừng trồng keo tại hai tỉnh trọng điểm Quảng Ninh và Bắc Giang, chỉ rõ điểm nghẽn lớn nhất là 100% diện tích keo tại Quảng Ninh và 89,8% tại Bắc Giang đang bị khai thác sớm làm gỗ nhỏ.
  • Nghiên cứu chứng minh tiềm năng sinh trưởng vượt bậc của Keo lai và Keo tai tượng với năng suất tích lũy đạt từ 21 m3/ha/năm đến hơn 32 m3/ha/năm, khẳng định tính khả thi sinh học tuyệt đối khi gây trồng gỗ lớn tại vùng Đông Bắc Bộ.
  • Xác lập luận cứ khoa học về điều kiện lập địa và mật độ lâm sinh, chứng minh giải pháp tỉa thưa đưa mật độ về 500-700 cây/ha ở tuổi 5-6 là chìa khóa then chốt để đạt đường kính gỗ lớn trên 25-30 cm.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp giữa kỹ thuật thâm canh giống mới, cơ chế tín dụng chu kỳ dài 7-10 năm và liên kết chuỗi chế biến bao tiêu sản phẩm gỗ xẻ.
  • Kế hoạch hành động giai đoạn tiếp theo cần tập trung chuyển hóa ngay 13.000 ha rừng gỗ nhỏ và trồng mới 6.000 ha rừng gỗ lớn trên quỹ đất trạng thái Ib tại hai địa phương. Các cấp chính quyền và chủ rừng cần nhanh chóng phối hợp triển khai đồng bộ các giải pháp kỹ thuật và chính sách để biến tiềm năng lâm nghiệp Đông Bắc Bộ thành giá trị kinh tế bền vững.