Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát thừa cân, béo phì 1. Định nghĩa Thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao. Còn béo phì là tình trạng tích lũy mỡ thái quá và không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ [44], [45].
Lịch sử khái niệm thừa cân, béo phì Obesity là một danh từ của Obese, nguồn gốc Latin là Obesus, nghĩa là béo, bụ bẫm. Obesity được Noah Biggs sử dụng chính thức trong Y học vào năm 1651 [54], [63], [64]. Quá trình nghiên cứu thừa cân, béo phì Lâm sàng của bệnh béo phì được ghi nhận từ thời Hy lạp - La mã cổ. Nhưng những hiểu biết khoa học về béo phì mới bắt đầu từ thế kỷ XX [54].2 Phân loại béo phì 1.1 Phân loại béo phì theo sinh bệnh học * Béo phì nguyên phát/di truyền: Là béo phì không có nguyên nhân sinh bệnh học rõ ràng * Béo phì bệnh lý (béo phì nội sinh): Là béo phì do các vân đề bệnh lý liên quan tới béo gây nên: - Béo phì do nguyên nhân nội tiết.
- Béo phì do suy giáp trạng: Thường xuât hiện muộn, béo vừa, chậm lớn, da khô, táo bón và chậm phát triển tinh thần. - Béo phì do cường vỏ thượng thận: Có thể do tổn thương tuyến yên hoặc u tuyến thượng thận, tăng cortisol và insulin huyết thanh, không dung nạp glucose, thường béo ở mặt và thân, kèm theo tăng huyết áp. 4 - Béo phì do thiếu hormon tăng trưởng: Béo phì thường nhẹ hơn so với các nguyên nhân khác, béo chủ yếu ở thân kèm theo chậm lớn. - Béo phì trong hội chứng tăng hormon nang buồng trứng: thường xuất hiện sau dậy thì.
Người béo phì có các dấu hiệu của rậm lông hoặc nam hóa sớm, kinh nguyệt không đều, thường gặp các u nang buồng trứng kèm theo. - Béo phì trong thiểu năng sinh dục. - Béo phì do các bệnh về não: Do tổn thương vùng dưới đồi, u não, chấn thương sọ não, phẫu thuật thần kinh. Các nguyên nhân này gây hủy hoại vùng trung tâm não trung gian, ảnh hưởng đến sự thèm ăn, tăng insulin thứ phát nên thường kèm theo béo phì [44], [45].2 Phân loại béo phì theo hình thái của mô mỡ và tuổi bắt đầu béo phì - Béo phì bắt đầu từ nhỏ (trẻ em, thanh thiếu niên): Là loại béo phì có tăng số lượng và kích thước tế bào mỡ.
- Béo phì bắt đầu ở người lớn: Là loại béo phì có tăng kích thước tế bào mỡ còn số lượng tế bào mỡ thì bình thường. - Béo phì xuất hiện sớm: Là loại béo phì xuất hiện trước 5 tuổi. - Béo phì xuất hiện muộn: Là loại béo phì xuất hiện sau 5 tuổi. - Các giai đoạn thường xuất hiện béo phì là thời kỳ nhũ nhi, 5 tuổi, 7 tuổi và vị thành niên (tuổi tiền dậy thì và dậy thì).
Béo phì ở các thời kỳ này làm tăng nguy cơ của béo phì trường diễn và các biến chứng khác [44], [45].3 Phân loại béo phì theo vùng của mô mỡ và vị trí giải phẫu [44] - Béo bụng (béo trung tâm, béo phần trên, béo hình quả táo, béo kiểu đàn ông - thể Android): Là dạng béo phì có mỡ chủ yếu tập trung ở vùng bụng. - Béo đùi (béo ngoại vi, béo phần thấp, béo hình quả lê, béo kiểu đàn bà - thể Gynoid): Là loại béo phì có mỡ chủ yếu tập trung ở vùng mông và đùi. Phân loại này giúp dự đoán nguy cơ sức khoẻ cùa béo phì. Béo bụng có 5 nguy cơ cao mắc và tử vong do các bệnh tim mạch, đái tháo đường, tăng Insulin máu, rối loạn Lipit máu, không dung nạp Glucose hơn so với béo đùi [44], [45].4 Một số phân loại béo phì khác - Béo phì do sử dụng thuốc: Sử dụng corticoit liều cao và kéo dài, dùng estrogen, deparkin có thể gây béo phì.
- Béo có khối nạc tăng so với chiều cao và tuổi: người béo phì có khối nạc tăng so với tuổi thường có chiều cao cao hơn chiều cao trung bình, thường là trẻ béo phì từ nhỏ, dạng này đặc trưng cho đa số béo phì ở trẻ em.3 Hậu quả của thừa cân, béo phì Thừa cân béo phì là yếu tố nguy cơ của các bệnh không lây. Nhiều tài liệu cho biết thừa cân béo phì làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch như tăng huyết áp, đột quị, hội chứng chuyển hóa, tiểu đường týp 2, một số ung thư như túi mật, vú, đại tràng, tiền liệt tuyến và thận [44], [45], [64].1 Ảnh hưởng sức khỏe Thừa cân và béo phì đang là mối đe dọa nghiêm trọng tới sức khỏe con người. Trọng lượng dư thừa ở bất kỳ lứa tuổi nào đều không tốt cho sức khoẻ. Nhiều nghiên cứu cho thấy có sự tiến triển trực tiếp từ một trẻ béo tới một người lớn béo.
Do sự gia tăng các nguy cơ bệnh lý cộng với các yếu tố xã hội, người béo phì trung bình sẽ giảm 6 – 10 năm tuổi thọ [44], [45]. * Thừa cân béo phì và tác hại lên tim mạch Các bệnh tim mạch là nguyên nhân tử vong hàng đầu tại các nước phát triển. Thừa cân béo phì làm tăng nguy cơ xơ vữa và thuyên tắc mạch vành, nhồi máu cơ tim, bệnh tăng huyết áp [63], [64]. * Thừa cân béo phì và tác hại ngoài tim mạch Thừa cân béo phì gây các biến chứng thuộc về chuyển hóa, nội tiết.
Thừa cân béo phì thường xảy ra cùng với hội chứng chuyển hóa [45], là yếu 6 tố nguy cơ của đái tháo đường týp 2, đi kèm các rối loạn lipid máu: tăng triglycerit máu, tăng LDL và giảm HDL, do đó làm tăng nguy cơ tim mạch. Thừa cân béo phì với trọng lượng gia tăng, trong thời gian dài sẽ gây thoái hóa khớp gối và khớp háng khiến bệnh nhân bị giới hạn vận động [44], [45]. * Tăng nguy cơ bệnh tật và tử vong [44], [45]. Béo phì là một trong những yếu tố nguy cơ chính của các bệnh mạn tính không lây như bệnh mạch vành, tăng huyết áp, viêm xương khớp, sỏi mật, bệnh đái tháo đường týp II không phụ thuộc insulin.
Béo phì thường kết hợp với tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong [44], [45].2 Ảnh hưởng tâm lý Con người, đặc biệt là phụ nữ thường quan tâm đến vóc dáng bên ngoài nên khi bị thừa cân béo phì, người TCBP thường tự ti khi giao tiếp và khó hòa nhập cộng đồng. Người BP phải trải qua nhiều khó khăn về mặt tâm lý hơn người không BP, nữ có nguy cơ cao hơn nam và nguy cơ mắc các bệnh về tâm lý tăng lên theo tuổi [44], [45].3 Gánh nặng kinh tế của thừa cân, béo phì Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), chi phí cho TCBP có thể lên đến 2% - 7% tổng chi phí cho chăm sóc y tế của các nước đã phát triển. Có thể chia chi phí cho TCBP thành 3 nhóm. Chi phí trực tiếp: là các chi phí liên quan đến việc chữa trị TCBP, như chi phí cho thuốc giảm cân, các phẫu thuật, chương trình thiết thực,…Chi phí gián tiếp: là các chi phí chữa trị các bệnh lý gây nên do TCBP như đái tháo đường, tăng huyết áp,… Chi phí cơ hội: chi phí phát sinh do giảm khả năng lao động, tử vong sớm có nguyên nhân từ TCBP [63], [64].4 Phương pháp xác định thừa cân, béo phì Đánh giá tình trạng dinh dưỡng là quá trình thu thập và phân tích thông tin, số liệu về tình trạng dinh dưỡng và nhận định tình hình trên cơ sở các thông tin số liệu đó.
Một số phương pháp định lượng chính thường được sử dụng trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng là [44], [51], [64]. - Nhân trắc học: đó là việc đo những biến đổi của các kích thước cơ thể và các mô cấu trúc nên cơ thể ở các lứa tuổi và mức độ dinh dưỡng khác nhau. Các chỉ số nhân trắc có thể thu thập trực tiếp từ các số đo hoặc từ một sự kết hợp của các kích thước thô như cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi, cân nặng theo chiều cao. - Các thăm khám thực tế, đặc biệt chú ý tới các triệu chứng thiếu dinh dưỡng kín đáo.
- Các xét nghiệm cận lâm sàng chủ yếu là hóa sinh ở dịch thể và các chất bài tiết (máu, nước tiểu,…) để phát hiện mức bão hòa chất dinh dưỡng. - Các kiểm nghiệm chức phận để xác định các rối loạn chức phận do thiếu hụt dinh dưỡng.5 Đánh giá tình trạng thừa cân, béo phì ở người trưởng thành Sử dụng chỉ số khối cơ thể (BMI) để nhận định tình trạng béo phì vì chỉ số này có liên quan chặt chẽ với tỷ lệ khối mỡ trong cơ thể. Để đánh giá mức độ thừa cân, béo phì, Tổ chức Y tế thế giới chia ra các “ngưỡng” như sau [63], [64]: Bình thường: BMI từ 18,5 - 24,99 Thừa cân độ 1: BMI từ 25,0 - 29,99 Thừa cân độ 2: BMI từ 30,0 - 39,99 Thừa cân độ 3: BMI ≥ 40,0 8 Khu vực Đông Nam Á, đánh giá thừa cân béo phì theo Hiệp hội đái đường các nước châu Á (IDI & WPRO) [44], [45], [51] Bảng 1.1 Phân loại thùa cân béo phì theo Hiệp hội đái đường các nước châu Á (IDI & WPRO) Phân loại IDI & WPRO phân loại BMI (kg/m2) Bình thường 18,5 – 22,9 Thừa cân 23- 24,9 Béo phì độ I 25- 29,9 Béo phì độ II ≥ 30 Ngoài ra, để đánh giá sự phân bố mỡ trong cơ thể, người ta còn đo thêm chỉ số vòng thắt lưng (Waist Circumference) và chỉ số vòng thắt lưng/vòng mông (Waist Hip ratio) với các “ngưỡng” như sau [44], [45], [51]: - Ở nam: Tỷ số vòng thắt lưng/vòng mông > 1,0. Vòng thắt lưng ≥ 94 cm - Ở nữ: Tỷ số vòng thắt lưng/ vòng mông > 0,85.
Vòng thắt lưng ≥ 80 cm 1.2 Tình hình thừa cân, béo phì ở người trưởng thành 1.1 Trên thế giới Theo Tổ chức y tế thế giới (2010 và 2011), thừa cân béo phì là yếu tố nguy cơ thứ 5 gây tử vong với gần 2,8 triệu người trưởng thành tử vong hàng năm. Bên cạnh đó, 44% bị béo phì, 23% thiếu máu cục bộ ở tim và từ 7,0% đến 41% mắc một số bệnh ung thư có nguyên nhân từ thừa cân béo phì. Trong 3 thập kỷ qua (1980 – 2010) số ca béo phì đã tăng gấp đôi trên toàn thế giới. Béo phì đang gia tăng nhanh chóng ở mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp và mọi quốc gia.
Tạo nên gánh nặng to lớn đối với sự tiến bộ của toàn nhân loại, với gần 30% số dân toàn cầu bị thừa cân/béo phì.