Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nước là tài nguyên thiết yếu đối với mọi dạng sống và cấu trúc hệ sinh thái trên Trái Đất. Mặc dù nước bao phủ hơn 70% bề mặt địa cầu, lượng nước ngọt có thể sử dụng làm nước uống chỉ chiếm khoảng 0,3%. Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, các nguồn nước tự nhiên đang chịu sức ép nghiêm trọng từ chất thải công nghiệp, hoạt động canh tác nông nghiệp và sinh hoạt dân cư. Việc thiết lập hệ thống quan trắc và giám sát chất lượng môi trường nước là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ tài nguyên và duy trì cân bằng sinh thái.

Phương pháp đánh giá chất lượng nước truyền thống dựa trên phân tích các chỉ tiêu thủy lý, hóa học (như pH, DO, COD, BOD, $\text{NO}_3^-$) cung cấp dữ liệu tức thời nhưng bộc lộ nhiều hạn chế: chi phí cao, đòi hỏi tần suất quan trắc liên tục và khó phản ánh đầy đủ tác động tích lũy của các chất ô nhiễm lên quần xã thủy sinh vật. Để khắc phục các nhược điểm này, phương pháp quan trắc sinh học (biomonitoring) sử dụng sinh vật chỉ thị, đặc biệt là nhóm động vật không xương sống cỡ lớn (ĐVKXS cỡ lớn), đã được phát triển rộng rãi nhờ khả năng phản ánh chất lượng môi trường nước một cách liên tục, trực tiếp và tiết kiệm kinh phí.

Vườn quốc gia Hoàng Liên (tỉnh Lào Cai) là khu vực có giá trị bảo tồn sinh học cao. Hệ thống suối tại vùng đệm của vườn quốc gia vừa là nơi lưu trú của hệ sinh vật thủy sinh phong phú, vừa là nguồn cung cấp nước phục vụ đời sống dân sinh, sản xuất nông nghiệp và phát triển du lịch. Tuy nhiên, nguồn nước mặt tại các khu vực này đang đối mặt với nguy cơ ô nhiễm do các hoạt động nhân sinh gia tăng, trong khi chưa có nghiên cứu chính thức nào sử dụng động vật không xương sống cỡ lớn làm sinh vật chỉ thị để đánh giá môi trường nước tại đây. Trên cơ sở đó, khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Môi trường của tác giả Nguyễn Hương Ly (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, năm 2019) đã được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Xác định thành phần các taxon động vật không xương sống cỡ lớn tại một số khu vực thuộc vùng đệm của Vườn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai.
  2. Đánh giá chất lượng môi trường nước ở một số khu vực thuộc vùng đệm của Vườn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai thông qua các chỉ số sinh học và thủy lý hóa.
  3. Xác định nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy giảm chất lượng nước tại địa phương, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm khắc phục, cải thiện và sử dụng hợp lý tài nguyên nước tại khu vực nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quần xã động vật không xương sống cỡ lớn và các thông số thủy lý, hóa học môi trường nước suối.
  • Phạm vi không gian: Các thủy vực dạng suối thuộc địa bàn 3 xã vùng đệm của Vườn quốc gia Hoàng Liên, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai (gồm xã Nậm Cang, xã Sa Pả và xã Nậm Sài).
  • Phạm vi thời gian: Quá trình nghiên cứu tổng thể tiến hành từ tháng 8/2018 đến tháng 4/2019; trong đó giai đoạn khảo sát, thu thập mẫu vật ngoài thực địa diễn ra từ ngày 09/08/2018 đến ngày 17/08/2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận áp dụng phương pháp tiếp cận kết hợp giữa quan trắc sinh học và phân tích hóa lý môi trường nước, dựa trên các cơ sở khoa học và quy trình chuẩn hóa:

  • Hệ thống tính điểm sinh học BMWP và chỉ số ASPT: Phương pháp tính điểm của Tổ chức Quan trắc Sinh học (Biological Monitoring Working Party - BMWP) ban hành năm 1976 tại Anh, sau đó được hiệu chỉnh phù hợp với điều kiện sinh thái thủy vực Việt Nam thành hệ thống $\text{BMWP}_{\text{VIET}}$ (Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự, 2004). Mỗi họ động vật không xương sống cỡ lớn được gán một điểm số từ 1 đến 10 dựa trên mức độ nhạy cảm hoặc chống chịu với ô nhiễm hữu cơ. Chỉ số sinh học trung bình trên mỗi taxon ($\text{ASPT} = \frac{\text{BMWP}}{\text{Tổng số họ ghi nhận}}$) được sử dụng làm thước đo chính để phân loại chất lượng nước theo các cấp độ: rất sạch, sạch, bẩn ít, bẩn vừa, bẩn nặng đến rất bẩn.
  • Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa: Mẫu ĐVKXS cỡ lớn được thu thập bằng vợt chuyên dụng tại các sinh cảnh suối khác nhau (vùng nước chảy xiết, vùng nước chảy chậm, nền đáy đá, sỏi, cát và thảm thực vật ven bờ). Toàn bộ mẫu sau khi thu gom được đãi rửa sạch bùn cát, cố định tại chỗ bằng cồn chuyên dụng và vận chuyển về phòng thí nghiệm. Vị trí địa lý và độ cao các điểm quan trắc được xác định chính xác bằng thiết bị định vị vệ tinh GPS 78.
  • Phương pháp trong phòng thí nghiệm: Mẫu vật được lưu trữ và giải phẫu, định loại tại Phòng thí nghiệm Động vật, Khoa Sinh - Kỹ thuật Nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Việc định loại hình thái đến bậc phân loại họ được thực hiện dưới kính lúp soi nổi, sử dụng các tài liệu phân loại chuẩn của Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder, Steve Tilling (2001), Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (1980, 2001).
  • Phương pháp đo đạc thủy lý, hóa học: Tiến hành đo đạc các chỉ số lý hóa tại chỗ và trong phòng thí nghiệm bao gồm: nhiệt độ nước ($^{\circ}\text{C}$), độ pH, hàm lượng oxy hòa tan ($\text{DO}$ tính bằng $\text{mg/l}$) và độ dẫn điện ($\text{EC}$ tính bằng $\text{mS/m}$). Kết quả đo đạc được đối chiếu với Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt ($\text{QCVN 08:2008/BTNMT}$).
Chỉ tiêu / Phương pháp Dụng cụ / Tài liệu tham chiếu Mục đích xác định
Tọa độ, độ cao địa hình Máy định vị GPS 78 Xác định chính xác vị trí trạm thu mẫu
Thu mẫu sinh học đáy Vợt lưới chuyên dụng, khay nhựa, panh Thu thập mẫu ĐVKXS cỡ lớn
Phân loại học hình thái Kính lúp soi nổi, tài liệu định loại của Nguyễn Xuân Quýnh, Đặng Ngọc Thanh Định danh đến cấp họ của các taxon
Đánh giá sinh học Hệ thống tính điểm $\text{BMWP}_{\text{VIET}}$ và chỉ số $\text{ASPT}$ Phân hạng mức độ ô nhiễm nguồn nước
Đo đạc thủy lý hóa Thiết bị đo nhanh DO, pH, độ dẫn điện, nhiệt độ Đánh giá tính chất hóa lý và đối chiếu $\text{QCVN 08:2008/BTNMT}$

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử hình thành và phát triển của phương pháp quan trắc sinh học môi trường nước trên thế giới và tại Việt Nam:

  • Tình hình nghiên cứu trên thế giới: Khởi đầu từ hệ thống đánh giá mức độ nhiễm bẩn (Saprobic system) của Kolkwitz (1908) và Marsson (1909) tại châu Âu dựa trên chỉ số Saprobic index. Tại Anh, các chỉ số định lượng như chỉ số Trent (TBI - Woodiwis, 1964) và chỉ số Chandler (CBS - Chandler, 1970) được phát triển nhưng còn hạn chế trong phạm vi hẹp; đến năm 1976 hệ thống điểm BMWP ra đời đã khắc phục các nhược điểm trên. Tại Tây Ban Nha, Alba-Tercedor và Sanchez-Ortega (1988), Carmen Zamora (1992) nghiên cứu sự biến thiên của BMWP và khẳng định chỉ số ASPT ít bị biến động theo mùa, có tính ưu việt cao. Các quốc gia khác như New Zealand phát triển chỉ số MCI (John D. Stark, 2007); Ấn Độ hiệu chỉnh BMWP qua nghiên cứu của De Zwart và Trivedi (1994); Thái Lan phát triển hệ thống $\text{BMWP}_{\text{THAI}}$ (Mustow, 1997, 1998; Đại học Khon Kaen, 1998); Malaysia đánh giá lưu vực sông Linggi và sông Langat (Adam, 1999, 2002).
  • Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam: Giai đoạn 1985–1995, Nguyễn Xuân Quýnh đề xuất hệ thống phân loại nhiễm bẩn thủy vực tại Hà Nội. Từ năm 1997–1999, với sự tài trợ của Quỹ Darwin (Vương quốc Anh), Khoa Sinh học (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN) phối hợp cùng Hội Nghiên cứu Thực địa Nước ngọt Anh Quốc xây dựng quy trình quan trắc chuẩn. Các công trình xuất bản tiêu biểu gồm Khóa định loại các nhóm ĐVKXS nước ngọt (2001) và sách "Giám sát sinh học môi trường nước ngọt bằng động vật không xương sống cỡ lớn" (Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự, 2004). Nhiều nghiên cứu ứng dụng tiếp tục được triển khai tại lưu vực sông Cầu (Nguyễn Vũ Thanh, Tạ Huy Thịnh, 2001 - bổ sung 5 họ côn trùng và 2 họ thân mềm vào $\text{BMWP}_{\text{VIET}}$); sông Sài Gòn (Nguyễn Thị Mai, 2003); hệ thống kênh rạch TP.HCM (Trương Thanh Cảnh, Ngô Thị Trâm Anh, 2006); các sông tại Đà Nẵng (Nguyễn Văn Khánh và cộng sự, 2007, 2008, 2010); suối Quân Boong - Mê Linh (Nguyễn Văn Hiếu và cộng sự, 2016); suối tại Văn Yên - Yên Bái (Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Lâm Tùng, 2017). Tác giả chỉ ra khoảng trống dữ liệu quan trắc sinh học tại vùng đệm Vườn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai.

Chương 2: Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết điều kiện khu vực nghiên cứu, thiết kế mạng lưới trạm thu mẫu và các bước thực nghiệm:

  • Thiết kế mạng lưới thu mẫu: Nghiên cứu thiết lập 9 điểm quan trắc (ký hiệu từ HM1 đến HM9) trên các thủy vực suối thuộc 3 xã vùng đệm Vườn quốc gia Hoàng Liên:
    • Xã Nậm Cang: 3 điểm gồm HM1, HM2, HM3. Trong đó, điểm HM1 nằm tại tọa độ $22^{\circ}13.085'\text{ N}$, $104^{\circ}01.659'\text{ E}$, độ cao $580\text{ m}$, lòng suối rộng $15\text{--}20\text{ m}$.
    • Xã Sa Pả: 3 điểm gồm HM4, HM5, HM6.
    • Xã Nậm Sài: 3 điểm gồm HM7, HM8, HM9.
  • Quy trình thực nghiệm: Trình bày chi tiết phương pháp lấy mẫu ngoài hiện trường trong khoảng thời gian từ ngày 09/08/2018 đến 17/08/2018; quy trình xử lý, định loại mẫu vật tại phòng thí nghiệm; công thức tính toán điểm số $\text{BMWP}_{\text{VIET}}$ và chỉ số $\text{ASPT}$.
  • Đặc điểm khu vực nghiên cứu: Tổng quan các yếu tố tự nhiên (địa hình núi cao chia cắt mạnh, mạng lưới suối có độ dốc lớn, lưu lượng biến động theo mùa) và điều kiện kinh tế - xã hội tại 3 xã vùng đệm, nhấn mạnh áp lực từ tập quán canh tác, sinh hoạt nông thôn và hoạt động du lịch đang phát triển.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các phát hiện thực nghiệm về cấu trúc thành phần loài, chất lượng môi trường nước và phân tích nguyên nhân tác động:

  • Cấu trúc thành phần phân loại ĐVKXS cỡ lớn: Ghi nhận tổng cộng 35 họ thuộc 14 bộ, 5 lớp và 3 ngành động vật thủy sinh:
    • Ngành Chân khớp (Arthropoda): Chiếm ưu thế lớn nhất với 30 họ thuộc 9 bộ của lớp Côn trùng (Insecta) và 1 họ thuộc 1 bộ của lớp Giáp xác (Crustacea).
    • Ngành Thân mềm (Mollusca): Ghi nhận 1 họ thuộc bộ Mesogastropoda, lớp Chân bụng (Gastropoda).
    • Ngành Giun đốt (Annelida): Ghi nhận 2 lớp, gồm lớp Đỉa (Hirudinea) với 2 họ thuộc 2 bộ khác nhau; lớp Giun ít tơ (Oligochaeta) với 1 họ thuộc 1 bộ.
  • Đặc trưng thủy lý, hóa học nguồn nước: Kết quả đo đạc tại các điểm nghiên cứu cho thấy các thông số môi trường dao động trong ngưỡng thích hợp cho đời sống thủy sinh vật:
    • Hàm lượng oxy hòa tan (DO): Giá trị trung bình đạt $8,2 \pm 1,0\text{ mg/l}$.
    • Độ pH: Giá trị trung bình đạt $7,4 \pm 0,4$.
    • Độ dẫn điện (EC): Giá trị trung bình đạt $5,6 \pm 6,2\text{ mS/m}$.
    • Nhiệt độ nước: Giá trị trung bình đạt $21,5 \pm 0,7^{\circ}\text{C}$.
    • Đa số các điểm thu mẫu có chất lượng nước đạt mức A1 theo $\text{QCVN 08:2008/BTNMT}$ (phù hợp cho mục đích cấp nước sinh hoạt sau khi xử lý thông thường và bảo tồn thủy sinh vật). Một số điểm cục bộ có độ dẫn và độ đục tăng cao.
  • Đánh giá chất lượng nước bằng chỉ số sinh học:
    • Chỉ số $\text{ASPT}$ tại 9 điểm nghiên cứu dao động trong khoảng từ $3,7$ đến $6,5$, đạt giá trị trung bình là $5,6 \pm 0,8$.
    • Chất lượng nước tại các khu vực khảo sát phân hóa thành các mức độ: "nước bẩn ít", "nước bẩn vừa" và "nước khá bẩn". Tổng thể chung toàn vùng đệm được đánh giá ở mức "nước bẩn vừa".
  • Nguyên nhân và giải pháp:
    • Ba nguyên nhân chính gây suy giảm chất lượng nước: (1) Hoạt động du lịch sinh thái thiếu kiểm soát; (2) Hoạt động xả thải sinh hoạt và canh tác nông nghiệp của cư dân địa phương; (3) Tác động xáo trộn dòng chảy và nền đáy suối từ việc xây dựng đập thủy điện.
    • Ba nhóm giải pháp bảo vệ nguồn nước: (1) Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục và lồng ghép bảo vệ môi trường vào trường học; (2) Phát triển du lịch sinh thái bền vững gắn với đào tạo cán bộ quản lý; (3) Đầu tư hạ tầng thu gom, thoát nước và xử lý nước thải sinh hoạt, chăn nuôi.
Thông số quan trắc / Chỉ số sinh học Giá trị ghi nhận (Trung bình / Dao động) Đánh giá hiện trạng theo quy chuẩn / thang đo
Nồng độ Oxy hòa tan (DO) $8,2 \pm 1,0\text{ mg/l}$ Đạt mức A1 theo $\text{QCVN 08:2008/BTNMT}$ ($\ge 6\text{ mg/l}$)
Độ pH $7,4 \pm 0,4$ Nằm trong ngưỡng quy chuẩn ($6\text{--}8,5$)
Độ dẫn điện (EC) $5,6 \pm 6,2\text{ mS/m}$ Nằm trong giới hạn cho phép của thủy sinh vật
Nhiệt độ môi trường nước $21,5 \pm 0,7^{\circ}\text{C}$ Phù hợp với điều kiện sinh thái suối núi cao
Chỉ số sinh học ASPT $3,7\text{--}6,5$ (Trung bình: $5,6 \pm 0,8$) Mức độ ô nhiễm chung: "Nước bẩn vừa"
Tổng số taxon ĐVKXS cỡ lớn 35 họ, 14 bộ, 5 lớp, 3 ngành Đa dạng sinh học phong phú, Côn trùng chiếm ưu thế (30 họ)

Kết quả và đóng góp

Khóa luận tốt nghiệp đã cung cấp các kết quả định lượng cụ thể về đa dạng sinh học thủy sinh và hiện trạng môi trường nước tại địa bàn nghiên cứu:

  • Thiết lập danh lục thành phần phân loại gồm 35 họ thuộc 14 bộ của 5 lớp thuộc 3 ngành động vật không xương sống cỡ lớn tại các hệ thống suối thuộc 3 xã Nậm Cang, Sa Pả và Nậm Sài. Lớp Côn trùng (Insecta) chiếm tỷ lệ áp đảo với 30 họ thuộc 9 bộ.
  • Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm về các thông số thủy lý hóa suối vùng cao Hoàng Liên: $\text{DO} = 8,2 \pm 1,0\text{ mg/l}$, $\text{pH} = 7,4 \pm 0,4$, độ dẫn điện $= 5,6 \pm 6,2\text{ mS/m}$, nhiệt độ $= 21,5 \pm 0,7^{\circ}\text{C}$.
  • Xác định phổ biến thiên chỉ số $\text{ASPT}$ từ $3,7$ đến $6,5$ (trung bình $5,6 \pm 0,8$), phản ánh chất lượng nước mặt tổng thể ở mức "nước bẩn vừa". Kết quả này chỉ ra xu hướng suy thoái chất lượng nước cục bộ tại các vị trí chịu tác động từ hoạt động dân sinh và du lịch, dù phần lớn các chỉ tiêu hóa lý vẫn nằm trong giới hạn loại A1 của $\text{QCVN 08:2008/BTNMT}$.
  • Hệ thống hóa 3 nhóm nguyên nhân tác động trực tiếp và đề xuất 3 nhóm giải pháp quản lý có tính khả thi đối với chính quyền địa phương và Ban quản lý Vườn quốc gia Hoàng Liên:
    1. Giáo dục và truyền thông: Tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng, đưa nội dung bảo vệ nguồn nước và đa dạng sinh học vào chương trình giáo dục tại các trường học địa phương.
    2. Quy hoạch du lịch sinh thái bền vững: Khuyến cáo du khách không làm xáo trộn cấu trúc nền đáy suối, không xả rác bừa bãi; xây dựng các tour du lịch học tập kết hợp nghiên cứu khoa học; đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý môi trường.
    3. Xây dựng hạ tầng xử lý chất thải: Đầu tư đồng bộ hệ thống thu gom, thoát nước mặt nhằm tránh ứ đọng; xử lý triệt để nước thải sinh hoạt và chăn nuôi trước khi thoát ra môi trường, đặc biệt tại các điểm tập trung khách du lịch.
  • Đóng góp học thuật: Công trình là nghiên cứu đầu tiên áp dụng phương pháp quan trắc sinh học bằng ĐVKXS cỡ lớn kết hợp hệ thống tính điểm $\text{BMWP}_{\text{VIET}}$ và chỉ số $\text{ASPT}$ tại vùng đệm Vườn quốc gia Hoàng Liên, bổ sung dữ liệu cơ sở quan trọng cho công tác quản lý tài nguyên nước tại tỉnh Lào Cai.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Do giới hạn về thời gian và nguồn lực thực hiện khóa luận đại học, tác giả chỉ tiến hành thu thập mẫu vật thực địa trong một đợt khảo sát ngắn hạn (từ ngày 09/08/2018 đến ngày 17/08/2018 thuộc tháng 8/2018). Dữ liệu thu được chưa phản ánh được sự biến động theo mùa (mùa khô và mùa mưa) của quần xã sinh vật chỉ thị cũng như các chỉ số thủy lý hóa.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Cần mở rộng chu kỳ thu mẫu định kỳ vào nhiều tháng và các mùa khác nhau trong năm để so sánh, đánh giá chính xác hơn quy luật biến động của chỉ số $\text{ASPT}$, đồng thời bổ sung các điểm thu mẫu trên toàn bộ lưu vực suối của Vườn quốc gia Hoàng Liên.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý Môi trường, Sinh học môi trường, Khoa học Môi trường và Thủy sinh học. Các phần có giá trị tham khảo cao bao gồm:

  • Quy trình áp dụng hệ thống tính điểm $\text{BMWP}_{\text{VIET}}$ và chỉ số $\text{ASPT}$ trong đánh giá chất lượng nước suối miền núi.
  • Tổng quan tài liệu chi tiết về lịch sử phát triển của các chỉ số sinh học trên thế giới và tại Việt Nam.
  • Phương pháp khảo sát, định vị trạm thu mẫu bằng GPS và phương pháp xử lý, bảo quản mẫu ĐVKXS cỡ lớn trong điều kiện thực địa suối vùng cao.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận được bao nhiêu họ động vật không xương sống cỡ lớn tại vùng đệm Vườn quốc gia Hoàng Liên?
Nghiên cứu đã ghi nhận được tổng cộng 35 họ thuộc 14 bộ của 5 lớp, nằm trong 3 ngành động vật không xương sống cỡ lớn. Trong đó, ngành Chân khớp (Arthropoda) chiếm ưu thế với 30 họ thuộc lớp Côn trùng (Insecta) và 1 họ thuộc lớp Giáp xác (Crustacea); ngành Thân mềm (Mollusca) có 1 họ thuộc lớp Chân bụng (Gastropoda); ngành Giun đốt (Annelida) có 2 họ thuộc lớp Đỉa (Hirudinea) và 1 họ thuộc lớp Giun ít tơ (Oligochaeta).

2. Giá trị chỉ số sinh học ASPT và chất lượng môi trường nước tại khu vực nghiên cứu được đánh giá như thế nào?
Chỉ số $\text{ASPT}$ tại 9 điểm quan trắc dao động trong khoảng từ $3,7$ đến $6,5$, đạt giá trị trung bình là $5,6 \pm 0,8$. Chất lượng môi trường nước tại các điểm khảo sát được phân loại ở các mức độ: nước bẩn ít, nước bẩn vừa và nước khá bẩn; nhìn chung chất lượng môi trường nước toàn khu vực được đánh giá ở mức "nước bẩn vừa".

3. Các thông số thủy lý hóa trung bình của nguồn nước mặt ghi nhận được là bao nhiêu và có đạt quy chuẩn không?
Các thông số thủy lý hóa trung bình gồm: hàm lượng oxy hòa tan ($\text{DO}$) đạt $8,2 \pm 1,0\text{ mg/l}$; độ $\text{pH}$ đạt $7,4 \pm 0,4$; độ dẫn điện ($\text{EC}$) đạt $5,6 \pm 6,2\text{ mS/m}$; nhiệt độ nước đạt $21,5 \pm 0,7^{\circ}\text{C}$. Các chỉ số này nằm trong giới hạn cho phép đối với đời sống thủy sinh vật và đa phần các điểm nghiên cứu đạt chất lượng nước mức A1 theo $\text{QCVN 08:2008/BTNMT}$.

4. Khảo sát thực địa của khóa luận được tiến hành tại những địa bàn nào và trong khoảng thời gian nào?
Khảo sát thực địa được thực hiện tại 9 điểm thu mẫu (từ HM1 đến HM9) trên các suối thuộc 3 xã: Nậm Cang (3 điểm: HM1, HM2, HM3), Sa Pả (3 điểm: HM4, HM5, HM6) và Nậm Sài (3 điểm: HM7, HM8, HM9), huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Thời gian thu mẫu ngoài thực địa diễn ra từ ngày 09/08/2018 đến ngày 17/08/2018.

5. Tác giả đã chỉ ra những nguyên nhân chính nào gây suy giảm chất lượng nước tại khu vực nghiên cứu?
Tác giả xác định 3 nhóm nguyên nhân chính gây suy giảm chất lượng nước gồm: hoạt động du lịch gia tăng xả rác và xáo trộn đáy suối; hoạt động sinh hoạt và xả thải từ sản xuất nông nghiệp/chăn nuôi của người dân địa phương; và tác động từ quá trình xây dựng các đập thủy điện làm biến đổi dòng chảy và sinh cảnh thủy sinh.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Hương Ly đã ứng dụng thành công phương pháp quan trắc sinh học bằng động vật không xương sống cỡ lớn kết hợp phân tích thủy lý hóa để đánh giá chất lượng môi trường nước suối tại vùng đệm Vườn quốc gia Hoàng Liên (tỉnh Lào Cai). Kết quả đã xác định được 35 họ ĐVKXS cỡ lớn, ghi nhận chỉ số $\text{ASPT}$ trung bình đạt $5,6 \pm 0,8$ (mức độ "nước bẩn vừa") và chỉ rõ các thông số hóa lý cơ bản đạt tiêu chuẩn loại A1 theo $\text{QCVN 08:2008/BTNMT}$. Công trình cung cấp cơ sở khoa học thực chứng đầu tiên tại khu vực, đồng thời đề xuất 3 nhóm giải pháp thiết thực hỗ trợ công tác quản lý tài nguyên nước và bảo tồn đa dạng sinh học tại địa phương.