Đặt vấn đề Tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng đã trở thành nhân tố tích cực đối với phát triển kinh tế và xã hội của đất nƣớc. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích về kinh tế và xã hội, đô thị hóa nhanh đã tạo ra sức ép về nhiều mặt, dẫn đến suy giảm chất lƣợng môi trƣờng và nảy sinh nhiều vấn đề nhƣ: nƣớc thải, khí thải, rác thải và đặc biệt là vấn đề bùn thải đô thị. Cho đến nay, chƣa có văn bản pháp lý nào quy định về việc quản lý bùn thải ở Việt Nam, nên bùn thải vẫn đang là vấn đề bất cập và khó khăn trong công tác quản lý cũng nhƣ xử lý. Khi một lƣợng rác thải hay nƣớc thải tồn đọng một thời gian dài thì sẽ phát sinh mùi và nƣớc rỉ rác, một phần sẽ bị phân hủy tạo nên bùn, mặt khác trong rác thải tồn tại những loại chất thải có kích thƣớc nhỏ, khi có nƣớc chúng sẽ tạo thành những loại bùn rất ô nhiễm.
Trong thực tế bùn thải có nguồn gốc từ nhiều nguồn khác nhau: từ các trầm tích sông hồ, từ bùn đáy trong hệ thống kênh rạch-cống rãnh, từ các nhà máy xử lý nƣớc, bùn thải phát sinh từ hệ thống xử lý nƣớc thải của các nhà máy, các cơ sở công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp có chứa nhiều thành phần ô nhiễm, bùn thải từ hoạt động xây dựng… thải vào môi trƣờng ngày càng nhiều cả về lƣợng và thành phần. Tại các thành phố lớn của nƣớc ta hiện nay, ƣớc tính mỗi ngày có hàng trăm tấn bùn thải chƣa qua xử lý đổ trực tiếp ra kênh mƣơng, sông ngòi hay các bãi đổ tạm gây ảnh hƣởng đến môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời. Mỗi ngày hệ thống sông, hồ thoát nƣớc của Hà Nội phải gồng mình tiếp nhận khoảng 1 triệu m3 nƣớc thải sinh hoạt và công nghiệp từ các làng nghề, khu công nghiệp, bệnh viện… và tất cả hầu nhƣ chƣa qua xử lý hoặc xử lý chƣa triệt để. Chính những nguồn nƣớc thải này theo thời gian sẽ đƣợc bồi n 2 lắng và tạo ra một khối lƣợng bùn thải đô thị khá lớn.
Theo thời gian bùn thải sẽ bồi lấp những kênh mƣơng, cống rãnh, sông hồ nếu nhƣ không đƣợc nạo vét hay xử lý thƣờng xuyên, gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến môi trƣờng cũng nhƣ sức khỏe con ngƣời. Vì vậy, bùn thải đô thị cần phải đƣợc thu gom, vận chuyển và tái chế một cách hiệu quả để giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng cũng nhƣ tránh lãng phí tài nguyên. Hiện nay, có nhiều hƣớng nghiên cứu đặc tính của bùn thải có thể xử lý tận dụng các phƣơng pháp khác nhau: thiêu đốt, đồng thiêu đốt, tận dụng chất dinh dƣỡng cho mục đích nông nghiệp. Ngoài ra, bùn thải còn có thể làm vật liệu xây dựng, san nền… nhờ đó giúp giảm chi phí xử lý, tận dụng hiệu quả các thành phần có giá trị trong bùn.
Vì vậy, việc lựa chọn và thực hiện đề tài: “Nghiên cứu các đặc tính của bùn phát sinh từ hệ thống thoát nước thải sinh hoạt đô thị và nhà máy xử lý nước thải trên địa bàn thành phố Hà Nội” nhằm điều tra,đánh giá ƣớc tính hiện trạng phát sinh và nghiên cứu các đặc tính của các loại bùn thải phát sinh trên địa bàn thành phố Hà Nội. Mục tiêu của khóa luận: - Nghiên cứu đƣợc đặc tính của bùn thải từ quá trình xử lý nƣớc thải, từ đó đề xuất giải pháp sử dụng bùn thải. - Điều tra đánh giá hiện trạng phát sinh các loại bùn thải từ hệ thống thoát nƣớc thải sinh hoạt đô thị và nhà máy xử lý nƣớc thải trên địa bàn thành phố Hà Nội. - Nghiên cứu các đặc tính của bùn thải phát sinh từ hệ thống thoát nƣớc thải sinh hoạt đô thị và nhà máy xử lý nƣớc thải trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Có đƣợc giải pháp về khả năng sử dụng bùn thải đô thị làm phân bón hữu cơ. Ý nghĩa của khóa luận Yêu cầu của khóa luận: Góp thêm tƣ liêu đánh giá đặc tính, đặc điểm các loại bùn thải đô thị, làm cơ sơ khoa học cho các nhà quan lý môi trƣờng trong việc xử lý, sử dụng bùn thải,góp phần giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trƣờng do bùn thải,đề xuất giải pháp xử lý và hƣớng sử dụng bùn thải. Giúp cho sinh viên vận dụng kiến thức đã đƣợc học vào trong thực tiẽn - Nâng cao khả năng giao tiếp và làm việc độc lập cho sinh viên - Giúp nâng cao kiến thức, kĩ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này - Bổ xung tƣ liệu cho học tập - Đề tài giúp cho có cái nhìn tổng quát về quy trình xử lý cũng nhƣ ảnh hƣởng của bùn thải tác động đến môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời. - Phù hợp với khả năng trình độ năng lực - Có mục tiêu rõ ràng - Đảm bảo tính khoa học - Đảm bảo tính khả thi - Sát với thực tiễn nghề nghiệp - Có phát hiện, khám phá mới n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Tổng quan chung về bùn thải đô thị 2. Khái niệm và nguồn phát sinh bùn thải đô thị Khái niệm bùn thải Bùn thải là hỗn hợp các chất rắn, đƣợc tách, lắng, tích tụ và thải ra từ quá trình xử lý nƣớc. Bùn từ hệ thống thoát nƣớc thải sinh hoạt đô thị là hỗn hợp các chất hữu cơ và vô cơ từ đƣờng ống thoát nƣớc đô thị. Ngoài ra, bùn thải có thể chứa các chất dễ bay hơi, sinh vật gây bệnh, vi khuẩn, kim loại nặng, các ion vô cơ cùng với hóa chất độc hại từ chất thải công nghiệp, hóa chất gia dụng và thuốc trừ sâu.
Theo cơ quan bảo vệ môi trƣờng Hoa Kỳ (US-EPA) bùn thải là sản phẩm thải cuối cùng đƣợc tạo ra từ quá trình xử lý nƣớc thải dân dụng và nƣớc thải công nghiệp từ nhà máy xử lý nƣớc thải ở dạng hỗn hợp bán rắn. Việc xử lý và thải bùn rất khó do lƣợng bùn lớn, thành phần khác nhau, độ ẩm cao và bùn rất khó lọc. Giá thành xử lý và thải bùn chiếm khoảng 25 – 50 % tổng giá thành quản lý chất thải [19]. Nguồn phát sinh bùn thải đô thị Bùn thải đƣợc phát sinh từ một số nguồn sau : - Bùn thải từ hệ thống thoát nƣớc, kênh rạch: Thành phần và đặc tính của bùn chủ yếu là chất hữu cơ (70 – 82 %) và một số kim loại nặng với hàm lƣợng cao.
- Bùn thải từ hệ thống xử lý nƣớc thải đô thị : Nƣớc thải đô thị bao gồm cả nƣớc thải hộ gia đình, nƣớc thải công nghiêp,. Nhƣ vậy, nƣớc thải đƣợc hình thành trong quá trình sinh hoạt của con ngƣời. Đặc trƣng nƣớc n 5 thải đô thị là: hàm lƣợng chất hữu cơ cao (55-65% tổng lƣợng chất bẩn), chứa nhiều vi sinh vật trong đó có các vi sinh vật gây bênh, vi khuẩn phân hủy chất hữu cơ cần thiết cho các quá trình chuyển hóa chất bẩn trong nƣớc thải. Nƣớc thải đô thị giàu chất hữu cơ, chất dinh dƣỡng, là nguồn gốc để các loại vi khuẩn (bao gồm ca vi khuẩn gây bênh) phát triển, là một trong những nguồn gây ô nhiễm chính đôi với môi trƣờng nƣớc.
Nƣớc thải sinh hoạt đô thị thông qua các mạng lƣới công thoát nƣớc, đƣợc chuyển tới các nhà máy xử lý nƣớc thải sinh hoạt và các hệ thống thoát nƣớc cuả thành phố. Bùn sinh ra tƣ quá trình này là kết qủa của các vật chất đƣợc nƣớc thải mang lắng đọng trong các hệ thống cống thoát và hoạt động của các vi sinh vật trong các hệ thống này, biến cát thành bùn. Bùn này thƣờng bị ô nhiễm với nhiều hợp chất hữu cơ và vô cơ độc hại, tùy thuộc vào các nguồn thải đẩy vào, do nồng độ của các vật liệu trong các chất rắn còn lại là kết qủa của quá trình xử lý nƣớc thải. - Bùn thải từ hố ga, bể phốt: Là phần rắn đƣợc tạo thành do sự lắng bề mặt nƣớc đen, nƣớc xám từ các hộ gia đình, nƣớc mƣa chảy tràn.
Bùn này giàu chất hữu cơ, vô cơ (chủ yếu là cát). Bùn thải từ các hệ thống này chiếm khối lƣợng lớn bùn thải đô thị. - Bùn thải nuôi trồng thủy hải sản: Là nguồn chất lắng đọng vô cùng nguy hiểm cho vấn đề lan truyền dịch bệnh và ô nhiễm môi trƣờng. Thành phần bùn thải thủy sản rất phức tạp, bao gồm: vôi, hóa chất, lƣu huỳnh, lắng đọng bùn phèn trong đất chứa các độc tố môi trƣờng, những vi khuẩn gây bệnh, nấm bệnh, tảo lục và đặc biệt là các sản phẩm phân hủy của quá trình yếm khí: NH3, H2S, CH4… Ngoài ra còn một lƣợng nhỏ bùn thải từ công nghiệp, xây dựng và một số nguồn khác trong hoạt động và phát triển đô thị.
Phân loại, đặc điểm và tính chất của bùn thải Phân loại bùn thải Bùn đƣợc phân loại dựa vào nguồn gốc phát sinh và thành phần của chúng. - Dựa vào nguồn gốc của bùn có thể phân loại thành các loại sau: + Bùn thải từ hệ thống thoát nƣớc: bùn cống rãnh, bùn kênh rạch, bùn nạo vét sông hồ. + Bùn thải từ hệ thống xử lý nƣớc đô thị. + Bùn thải từ hố ga, bể phốt.
+ Bùn thải nuôi trồng thủy sản. + Bùn thải từ các công nghiệp và các nhà máy xử lý nƣớc thải. - Dựa vào thành phần bùn có thể phân loại thành một số loại bùn chính nhƣ sau: + Bùn hữu cơ ưu nước: Đó là loại phổ biến nhất, khó khăn của việc làm khô bùn là do sự có mặt của phần lớn các chất keo ƣa nƣớc. Ngƣời ta xếp trong loại này tất cả các loại bùn thải xử lý sinh học nƣớc thải, mà hàm lƣợng chất bay hơi có thể đến 90% toàn bộ chất khô (nƣớc thải công nghệ thực phẩm, hóa hữu cơ).
+ Bùn vô cơ ưa nước: Các bùn này chứa hydroxyt kim loại tạo thành của phƣơng pháp hóa lý bằng cách làm kết tủa ion kim loại có trong nƣớc xử lý (Al, Fe, Zn, Cr) hoặc do sử dụng kết bông vô cơ (muối ferreux hoặc ferit, muối nhôm). + Bùn chứa dầu: Nó đặc trƣng bằng việc trong các chất thải có mặt một lƣợng dầu nhỏ hoặc mỡ khoáng chất (hoặc động vật). Các chất này ở dạng nhũ hoặc hấp thụ các phần tử bùn ƣa nƣớc. Một phần bùn sinh học cũng có thể có mặt trong trƣờng hợp xử lý cuối cùng bằng bùn hoạt tính (Ví dụ: xử lý nƣớc thải của nhà máy lọc dầu).