Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng và Cận Lâm Sàng của Thai To Tại Bệnh Viện Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng thai to tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ năm 2019-2020, đánh giá kết quả thai kỳ.

Chuyên ngành

Chuyên Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn

2020

125
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. GIẢI PHẨU TỬ CUNG, ÂM ĐẠO VÀ KHUNG CHẬU

1.2. NGUỒN DINH DƢỠNG CHO SỰ PHÁT TRIỂN THAI NHI

1.2.1. Quá trình trao đổi chất của bánh nhau

1.2.2. Thành phần dinh dƣỡng có trong nƣớc ối

1.3. THAI TO VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THAI TO

1.3.1. Tỷ lệ thai to

1.3.2. Các yếu tố liên quan đến thai to

1.3.2.1. Chỉ số khối cơ thể (BMI) của mẹ

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Đặc Điểm Thai To Tại Bệnh Viện Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ

Nghiên cứu đặc điểm thai to tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ là một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực sản khoa. Thai to, được định nghĩa là thai có trọng lượng từ 3500g trở lên, đang ngày càng trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng. Việc hiểu rõ các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của thai to sẽ giúp cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho sản phụ và thai nhi.

1.1. Đặc Điểm Lâm Sàng Của Thai To

Đặc điểm lâm sàng của thai to bao gồm các triệu chứng như tăng cân nhanh chóng của mẹ, khó thở, và các vấn đề về huyết áp. Những sản phụ mang thai to thường gặp khó khăn trong việc sinh nở, đặc biệt là khi thai nhi có trọng lượng lớn hơn 4000g.

1.2. Tình Hình Nghiên Cứu Thai To Tại Việt Nam

Tại Việt Nam, tỷ lệ thai to đang gia tăng. Theo nghiên cứu của Lâm Đức Tâm (2015), tỷ lệ thai từ 3500g trở lên là 22,9%. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Liên Quan Đến Thai To

Thai to không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của thai nhi mà còn gây ra nhiều biến chứng cho mẹ. Các vấn đề như mổ lấy thai, chấn thương trong quá trình sinh nở, và các biến chứng sau sinh là những thách thức lớn mà các bác sĩ và sản phụ phải đối mặt.

2.1. Nguy Cơ Biến Chứng Khi Sinh Thai To

Sinh thai to có thể dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng như đờ tử cung, chấn thương sinh dục, và tăng tỷ lệ mổ lấy thai. Theo Hiệp hội Sản Phụ khoa Hoa Kỳ, tỷ lệ sinh khó do thai to kẹt vai là 0,6-1,4%.

2.2. Tác Động Của Dinh Dưỡng Đến Thai To

Chế độ dinh dưỡng của mẹ có ảnh hưởng lớn đến trọng lượng thai nhi. Mẹ có dinh dưỡng kém có thể dẫn đến thai nhẹ cân, trong khi dinh dưỡng đầy đủ có thể làm tăng nguy cơ thai to.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Đặc Điểm Thai To

Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp lâm sàng và cận lâm sàng để khảo sát đặc điểm của thai to. Việc thu thập dữ liệu từ các sản phụ tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ sẽ giúp cung cấp cái nhìn sâu sắc về vấn đề này.

3.1. Phương Pháp Lâm Sàng

Phương pháp lâm sàng bao gồm việc theo dõi sức khỏe của sản phụ và thai nhi trong suốt quá trình mang thai. Các chỉ số như cân nặng, huyết áp, và các triệu chứng lâm sàng sẽ được ghi nhận.

3.2. Phương Pháp Cận Lâm Sàng

Phương pháp cận lâm sàng bao gồm các xét nghiệm như siêu âm, xét nghiệm máu, và các kiểm tra khác để đánh giá tình trạng sức khỏe của mẹ và thai nhi.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Thai To Tại Bệnh Viện Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự gia tăng đáng kể về tỷ lệ thai to tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ. Các yếu tố như chỉ số khối cơ thể (BMI) của mẹ và chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng lớn đến trọng lượng thai nhi.

4.1. Đặc Điểm Chung Của Sản Phụ Thai To

Sản phụ sinh thai to thường có chỉ số BMI cao và có tiền sử bệnh lý như tiểu đường thai kỳ. Điều này cho thấy sự cần thiết phải theo dõi sức khỏe của mẹ trong suốt thai kỳ.

4.2. Kết Cục Thai Kỳ Ở Sản Phụ Thai To

Kết cục thai kỳ ở sản phụ thai to thường gặp nhiều biến chứng hơn so với sản phụ có thai bình thường. Tỷ lệ mổ lấy thai và các biến chứng sau sinh cao hơn đáng kể.

V. Kết Luận Về Nghiên Cứu Thai To Tại Bệnh Viện Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ

Nghiên cứu về đặc điểm thai to tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ đã chỉ ra rằng thai to là một vấn đề ngày càng nghiêm trọng. Cần có các biện pháp can thiệp kịp thời để giảm thiểu các biến chứng cho mẹ và thai nhi.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Thai To

Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc phát triển các phương pháp can thiệp hiệu quả để giảm thiểu tỷ lệ thai to và các biến chứng liên quan.

5.2. Khuyến Nghị Đối Với Chăm Sóc Sức Khỏe Mẹ Bầu

Cần có các chương trình giáo dục dinh dưỡng cho sản phụ để giúp họ hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của chế độ ăn uống trong thai kỳ.

09/07/2025
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng một số yếu tố liên quan và đánh giá kết quả kết cục thai kỳ thai to tại bệnh viện đa khoa trung ương cần thơ năm 2019 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Cân nặng của thai nhi là yếu tố đánh giá tình trạng dinh dưỡng, sự phát triển của thai nhi trong bào thai, trẻ thừa cân hay thiếu cân ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và tinh thần về sau. Trọng lượng thai nhi phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng của mẹ nên việc bổ sung các chất dinh dưỡng là yếu tố cần thiết trong quá trình phát triển của thai. Đúng là mẹ có dinh dưỡng kém sẽ dẫn đến thai nhẹ cân, thai suy dinh dưỡng…. khi bà mẹ ăn đủ chất con có phát triển quá mức bình thường hay không.

Thực tế cho thấy không phải như vậy mà theo số liệu thống kê của các nhà sản khoa trong nước cũng như ngoài nước thì không phải như thế. Cân nặng trẻ sơ sinh trong điều kiện mẹ dinh dưỡng đầy đủ sẽ phụ thuộc vào tính di truyền của nồi giống, sức khỏe và thể lực của mẹ, số lần sinh con, bệnh tật của mẹ,… Trong những năm gần đây ở Việt Nam với sự phát triển nền kinh tế xã hội, đời sống người dân được cải thiện, quản lý và chăm sóc thai nghén tốt hơn, trọng lượng trẻ sơ sinh cũng có khuynh hướng tăng hơn so với thời gian trước đây. Nguy cơ mang thai to và nguy cơ trong chuyển dạ của những trường hợp thai ≥ 3500 đang có xu hướng tăng. Cân nặng trung bình của trẻ sơ sinh của nước ta hiện nay là khoảng 3000 gram đến 3200 gram.

Đối với các nước phương tây trẻ sơ sinh từ 4000 gram trở lên được gọi là thai to, ở Việt Nam sinh con từ 3500 gram trở lên được cho là thai to [2]. Thai to có xu hướng ngày càng tăng. Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Thoa ghi nhận tại Đại Học Y Dược TP HCM có 10,7% sản phụ sanh con trên 3800 gram (2013). Theo nghiên cứu của Lâm Đức Tâm (2015) ghi nhận tỷ lệ thai từ 3500 gram trở lên là 22,9% [23].

Tại Huế theo kết quả của Lê Lam Hương và Hoàng Thanh Hà (2014) là 18,5% [18]. 2 Hậu quả của thai to khi sinh sẽ gây ra nhiều biến chứng cho mẹ như: tăng tỷ lệ mổ lấy thai và tăng tỷ lệ sanh giúp bằng thủ thuật sản khoa. Nếu sanh ngã âm đạo có nguy cơ đờ tử cung và chấn thương sinh dục, việc sinh thai quá to thường khó khăn và nguy hiểm trong lúc chuyển dạ và sổ thai, quan trọng nhất là kẹt vai (thường có đường kính lưỡng mỏm vai lớn hơn 12cm, theo Hiệp hội Sản Phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG), tỷ lệ sanh khó do thai to kẹt vai là 0,6-1,4% [33]. Trên thực tế lâm sàng vẫn có một tỷ lệ thai to sanh đường âm đạo, nhưng các nghiên cứu các vấn đề này ở Việt Nam còn hạn chế.

Do đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, một số yếu tố liên quan và đánh giá kết quả kết cục thai kỳ thai to tại Bệnh viện Đa khoa Trung ƣơng Cần Thơ năm 2019- 2020” với các mục tiêu: 1. Khảo sát đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng và một số yếu tố liên quan của sản phụ thai to tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ năm 2019- 2020. Đánh giá kết quả kết cục thai kỳ ở sản phụ thai to tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ năm 2019-2020. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

GIẢI PHẨU TỬ CUNG, ÂM ĐẠO VÀ KHUNG CHẬU 1.1 Sơ lƣợc về tử cung Trọng lượng tử cung: Bình thường nặng 50- 60g, cuối thai kỳ có thể tử cung nặng đến 1000g. Các yếu tố dẫn đến tăng trọng lượng tử cung: - Phì đại sợi cơ tử cung: sợi cơ dài thêm tới 40 lần, rộng gấp 3-5 lần. - Tăng sinh các mạch máu và xung huyết. - Tăng giữ nước ở cơ tử cung.

Hình thể tử cung: - Ba tháng đầu tử cung có hình cầu, cực dưới phình to, có thể sờ thấy qua túi cùng bên âm đạo, đó là dấu hiệu Noble. - Ba tháng giữa tử cung có hình trứng, cực nhỏ ở dưới, cực to ở trên. - Ba tháng cuối tử cung có hình dáng phù hợp với tư thế của thai nhi bên trong. Vị trí: Khi chưa có thai, tử cung nằm trong tiểu khung.

Khi mang thai, từ tháng thứ hai trở đi mỗi tháng tử cung lớn lên, trên khớp vệ trung bình mỗi tháng 4cm. Dựa vào tính chất này, người ta có thể tính được tuổi thai theo công thức: Chiều cao tử cung (cm) Tuổi thai (tháng) = +1 4 Cấu tạo: Cơ tử cung gồm 3 lớp. Lớp ngoài là lớp cơ dọc, lớp trong là lớp cơ vòng, quan trọng nhất là lớp cơ giữa gọi là lớp cơ đan. Đây là lớp cơ dày nhất, các sợi cơ đan chéo nhau về mọi hướng, trong lớp này có nhiều mạch máu.

Ở 4 đoạn dưới không có lớp cơ đan. Sau khi sổ rau, lớp cơ này co chặt lại tạo thành khối an toàn của tử cung để thực hiện cầm máu sinh lý. Bình thường cơ tử cung dày 1cm, khi có thai ở tháng thứ 4-5 lớp cơ này dày nhất có thể lên 2,5 cm, vào cuối thai kỳ lớp cơ này giảm xuống còn 0,5 – 1 cm. Niêm mạc tử cung: khi có thai niêm mạc tử cung biến đổi thành ngoại sản mạc, gồm ba phần: ngoại sản mạc trứng, ngoại sản mạc tử cung và ngoại sản mạc tử cung-rau.

Tử cung Mật độ: khi chưa có thai mật độ tử cung chắc. Dưới tác dụng của các nội tiết tố khi có thai tử cung mềm. Khả năng co bóp và co rút: khi có thai tử cung tăng mẫn cảm, dễ bị kích thích và co bóp. Eo tử cung Khi chưa có thai eo tử cung dài 0,5 – 1 cm, khi có thai eo tử cung giãn rộng dần, dài và mỏng ra trở thành đoạn dưới, đến cuối giai đoạn một của cuộc chuyển dạ đẻ, đoạn dưới tử cung dài 10cm.

Về giải phẫu eo tử cung chỉ có hai lớp cơ, đó là lớp cơ dọc và lớp cơ vòng, không có lớp cơ đan. Do đó đoạn dưới tử cung dễ vỡ nhất khi chuyển dạ và dễ chảy máu khi rau bám thấp. Khi có thai eo tử cung mềm ra, khi khám tưởng như thân tử cung tách rời khỏi phần cổ tử cung, đó là dấu hiệu Hegar. Cổ tử cung Cổ tử cung mềm dần, có màu tím nhạt do tăng tuần hoàn và phù nề toàn bộ cổ tử cung.

Ngay sau khi thụ thai, chất nhầy ống cổ tử cung đặc lại và tạo thành nút nhầy bít chặt cổ tử cung. Khi chuyển dạ nút nhầy bong ra và được tống ra ngoài. Âm hộ, âm đạo Có sự tăng sinh mạch máu, xung huyết trong da và cơ của vùng tầng sinh môn và âm hộ, các mô liên kết mềm hơn. Do hiện tượng xung huyết, niêm mạc âm đạo có màu tím nhạt và tăng tiết dịch (dấu hiệu Chadwick).

Độ pH của môi trường âm đạo dao động từ 3,5 - 6. Sơ lƣợc về khung chậu Cấu tạo và hình thể: Khung chậu được cấu tạo bởi 4 xương: Phía trước và hai bên là 2 xương cánh chậu. Phía sau ở trên là xương cùng và ở dưới là xương cụt. Xương cánh chậu là 2 xương dẹt to, hình cánh quạt.

Mặt trong có đường vô danh chia xương chậu ra làm 2 phần: Phần trên gọi là đại khung hay khung chậu lớn, phần dưới gọi là tiểu khung hay khung chậu nhỏ. Xương cùng có 5 đốt, đốt trên cùng nhô cao gọi là mỏm nhô. Xương cùng có mặt trước lồi, mặt sau lõm và 2 bờ hai bên. Xương cụt có từ 4 đến 6 đốt, cũng có các mặt như xương cùng.

Bốn xương của khung chậu được khớp với nhau bởi 4 khớp xương, phía trước là khớp mu, phía sau là khớp cùng - cụt, 2 bên là 2 khớp cùng - chậu. Đó là những khớp bán động cho nên các đường kính của khung chậu có thể thay đổi khi chuyển dạ. Đại khung: Về phương diện sản khoa, đại khung không quan trọng lắm, tuy nhiên nếu đại khung hẹp thì cũng ảnh hưởng đến tiểu khung. Các đường kính của đại khung cần nhớ (đường kính ngoài): - Đường kính trước sau (đường kính Baudeloque): đi từ gai đốt sống thắt lưng thứ 5 đến bờ trên xương mu, đường kính này đo được là 17, 5 cm (người Việt Nam).

- Đường kính lưỡng gai: nối 2 gai chậu trước trên = 22,5cm. - Đường kính lưỡng mào: nối 2 điểm xa nhất của 2 mào chậu = 25,5cm. - Đường kính lưỡng ụ: nối 2 ụ lớn của xương đùi = 27,5cm. Hình trám Michaelis Nối 4 điểm: 6 - Ở trên là gai đốt sống thắt lưng thứ 5.

- Hai bên là hai gai chậu sau trên. - Dưới là đỉnh của nếp liên mông. Kết quả: - Đường kính dọc = 11cm. - Đường kính ngang = 10cm.

- Đường kính ngang cắt đường kính dọc làm 2 phần: trên 4cm, dưới 7cm. Tiểu khung: rất quan trọng về phương diện sản khoa. Thai lọt hay không là do các đường kính của tiểu khung quyết định. Tiểu khung là một ống xương hình trụ, hơi cong, mặt lõm quay ra phía trước.

- Thành trước của tiểu khung là chiều cao của khớp vệ = 4cm. - Thành sau là độ dài của xương cùng xương cụt khoảng 12,5cm. - Hai thành bên hẹp dần từ trên xuống dưới nhất là ở gần gai hông nhưng sau đó lại rộng ra. - Mặt phẳng đi qua eo trên gọi là mặt phẳng lọt.

- Mặt phẳng đi qua eo dưới gọi là mặt phẳng sổ 1. NGUỒN DINH DƢỠNG CHO SỰ PHÁT TRIỂN THAI NHI 1. Quá trình trao đổi chất của bánh nhau Khoảng gian gai nhau là ngăn vận chuyển sinh học chính giữa mẹ và con. Máu mẹ nằm trong khoang này và ngoài mạch, nó thấm đẫm chung quanh các nguyên bào nuôi.

Sự vận chuyển các chất từ mẹ sang thai trước tiên phải đi từ khoảng gian gai nhau vào hợp bào nuôi. Đó là oxy và chất dinh dưỡng, sự đào thải các sản phẩm chuyển hóa cũng theo đường này với hướng ngược lại. Các gai nhau và khoảng gian gai đóng vai trò như là phổi, hệ tiêu hóa và thận của thai nhi. Khả năng trao đổi chất của mẹ và thai nhi tốt hay xấu tùy thuộc vào cấu trúc và tình trạng của gai nhau.

Gai nhau tắm trong máu mẹ, nhưng máu mẹ không lưu thông trực tiếp với máu của con, vì có màng ngăn cách của thai thường gọi là màng chắn của nhau. Thai càng lớn, màng chắn càng mỏng và 7 sự ngăn cách về mặt sinh lý giữa mẹ và con cũng kém đi. Máu mẹ không thông trực tiếp với máu con mà thường trao đổi các chất qua lớp hội bào của gai nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ