Đặt vấn đề Khoa học ngày nay đã chứng tỏ các biện pháp bảo vệ, sử dụng và tái tạo lại rừng chỉ có thể được giải quyết thỏa đáng khi có một sự hiểu biết đầy đủ về bản chất các qui luật sống của rừng. Trước hết là các quá trình tái sinh, sự hình thành và động thái biến đổi của rừng tương ứng với những điều kiện tự nhiên môi trường khác nhau. Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái. Nó bảo đảm cho nguồn tài nguyên rừng có khả năng tái sản xuất mở rộng, nếu chúng ta nắm được qui luật tái sinh, chúng sẽ điều khiển qui luật đó phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh.
Vì vậy, tái sinh rừng trở thành vấn đề then chốt trong việc xác định các phương thức kinh doanh rừng. Hiện nay, trong nhiều vùng rừng tự nhiên của nước ta đã mất rừng do sử dụng phương thức khai thác - tái sinh không đáp ứng được những lợi ích lâu dài của nền kinh tế và bảo vệ môi trường. Các phương thức khai thác - tái sinh không hợp lý đã và đang làm cho rừng tự nhiên suy giảm cả về số lượng và chất lượng. Ở Việt Nam, năm 1943 diện tích rừng còn khoảng 14,3 triệu ha, tỷ lệ che phủ khoảng 43%.
Đến năm 1999, theo số liệu thống kê chỉ còn 10,9 triệu ha rừng, trong đó 9,4 triệu ha rừng tự nhiên và 1,5 triệu ha rừng trồng với độ che phủ tương ứng là 33,2%. Do vậy, việc tái sinh tự nhiên là một trong những biện pháp và nhiệm vụ quan trọng. Trong những năm gần đây công tác nghiên cứu, đánh giá thành phần loài, tính đa dạng thực vật tại tỉnh Thái Nguyên diễn ra tương đối mạnh mẽ. Tuy nhiên, các công trình đó mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát, chưa nghiên cứu sâu về đặc điểm tái sinh, thành phần loài, sự phân bố và giá trị của từng họ từng loài.
Trong bài này em muốn đề cập đặc biệt đến sự tái n 2 sinh tự nhiên của loài Xoan đào tại xã Tân Thịnh, huyện Định Hóa - tỉnh Thái Nguyên. Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) thuộc Họ Hoa hồng (Rosaceae) là loài cây bản địa đa tác dụng có giá trị kinh tế cao, sinh trưởng nhanh, dễ gây trồng, phù hợp với nhiều loại đất và nhiều vùng sinh thái khác nhau. Trong điều kiện tự nhiên, cây có thể cao tới 40m, đường kính ngang ngực đạt 75cm; ở rừng trồng, cây cao từ 20 -25m, thân thẳng tròn, đường kính 40 - 45 cm. Ở Việt Nam, loài Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc như: Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang, Quảng Ninh… và một số tỉnh Tây Nguyên.
Tại Thái Nguyên, Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) có phân bố ở một số huyện như: Định Hóa, Võ Nhai, Đại Từ…. Nhìn chung các tỉnh miền núi phía Bắc có điều kiện thuận lợi để phát triển trồng rừng Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) phục vụ kinh doanh rừng trồng gỗ lớn. Gỗ Xoan đào có đặc tính cơ lý rất tốt, tỷ trọng trung bình 0,518, bề mặt gỗ màu đỏ nhạt dễ gia công dùng để đóng đồ nội thất cao cấp và rất được ưa chuộng ở thị trường trong và ngoài nước.Hạt Xoan đào có thể dùng để làm thực phẩm hoặc dược liệu. Việc theo dõi thu hái hạt để gieo ươm gây trồng Xoan đào tại địa phương chưa được thực hiện, vì thế giải pháp trước mắt cho việc gây trồng loài cây này là bứng những cây con tái sinh tự nhiên ở những nơi có mật độ cao để trồng rừng.
Xoan đào được trồng thuần với mật độ 1. Xoan đào là loài cây đem lại giá trị kinh tế cao khi được trồng phổ biến và thông dụng, dễ sinh trưởng và thời gian có thể thu hoạch ngắn. Sau chu kỳ từ 8 đến 10 năm (với các tỉnh phía Bắc); 7 - 8 năm (với các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên), cây Xoan đào đã cho khai thác. Hiện tại, hầu hết gỗ Xoan đào trên thị trường Việt Nam được nhập khẩu từ Indonexia và Nam Phi.
Trong lĩnh vực nông lâm nghiệp đang bị thiếu hụt trầm trọng nguyên liệu n 3 gỗ phục vụ xây dựng phát triển đô thị, khu công nghiệp, dân dụng. Để giải quyết một phần khủng hoảng thiếu các loại gỗ phục vụ nhu cầu xin giới thiệu các bạn chú ý tới một loại gỗ quen thuộc lâu nay lãng quên trong các căn nhà của người dân đó là cây Xoan đào. Xoan đào rất dễ trồng, lớn nhanh, gỗ tốt, giá lại gấp 10 lần keo và bạch đàn. Một cây Xoan đào 15 năm tuổi có đường kính 35 - 40 cm giá từ 3 - 3,5 triệu đồng.
Một sào Xoan đào (1000m ) có thể trồng từ 150 - 200 cây. Thời gian thu hoạch tốt nhất của cây Xoan đào từ 6 - 8 năm tuổi. Xuất phát từ những vấn đề đặt ra và căn cứ vào một số đặc điểm cũng như giá trị của cây Xoan đào, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) tại xã Tân Thịnh, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích là đề xuất các biện pháp bảo vệ cây Xoan đào tái sinh tự nhiên tại xã Tân Thịnh, huyện Định Hóa - tỉnh Thái Nguyên để cải tạo và làm giàu rừng.
Mục tiêu Xác định được một số đặc điểm tái sinh tự nhiên của cây Xoan đào tại - xã Tân Thịnh, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, làm cơ sở để đề xuất giải pháp nhằm phát triển loài cây này. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Tìm hiểu và làm quen với một số phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng. - Quá trình thực hiện đề tài tạo cơ hội tiếp cận phương pháp nghiên cứu khoa học, phương hướng giải quyết vấn đề trong thực tiễn.
- Góp phần bổ sung cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, gây trồng cây Xoan đào. Ý nghĩa thực tiễn - Biết cách tiếp cận thực tiễn những vấn đề trong thực tiễn sản xuất, kinh doanh rừng, quản lý bền vững nguồn tài nguyên rừng. - Đề xuất được một số biện pháp nhằm xúc tiên tái sinh loài Xoan đào, đề xuất để giúp loài sinh trưởng, phát triển tốt và nhân rộng loài. - Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tài liệu có giá trị, có ý nghĩa tham khảo cho các công trình nghiên cứu tiếp theo và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất.
n 5 Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Các chuyên - gia sinh thái học đã khẳng định rừng là một sinh thái hoàn chỉnh nhất. Thực vật rừng có sự biến động cả về chất và lượng khi yếu tố ngoại cảnh thay đổi. Rừng cây và con người hệ mật thiết với nhau.
Chính lẽ đó, cây rừng được con người quan sát, xem xét, nghiên cứu từ thủa xa xưa. Một trong khía cạnh con người nghiên cứu để phục hồi lại rừng là tái sinh rừng. Nghiên cứu tái sinh rừng tự nhiên đã trải qua hàng trăm năm, nhưng ở rừng nhiệt đới, vấn đề này được đề cập từ năm 1930 trở lại đây. Đầu thế kỷ 19 khi công nghiệp phát triển mạnh, nhu cầu gỗ đòi hỏi quá lớn, con người phải tập trung khai thác rừng tự nhiên và tiến hành tái sinh nhân tạo.
Nhưng từ những thất bại tái sinh rừng nhân tạo ở Đức nhiều nhà khoa học ủng hộ và đồng nhất quan điểm “Hãy quay trở lại với tái sinh tự nhiên”. Họ Hoa hồng (Rosaceae) là một họ lớn trong thực vật, với khoảng 2.000 loài trong khoảng 90 - 120 chi, tùy theo hệ thống phân loại. Hiện tại hệ thống APG II công nhận 2.520 loài trong 90 chi. Theo truyền thống nó được chia thành 4 phân họ: Rosoideae, Spiraeoideae, Maloideae, Amygdaloideae.
Các phân họ này được miêu tả đặc trưng chủ yếu theo cấu trúc của quả, mặc dù cách tiếp cận này không phải là được tuân theo một cách rộng khắp. Các công trình gần đây đã xác nhận rằng kiểu phân chia truyền thống 4 phân họ như vậy không phải đều có tính đơn ngành, vì thế cấu trúc của họ này vẫn phải chờ giải pháp hoàn thiện và tổng thể hơn. Các nhánh đã được nhận dạng có: Phân họ Rosoideae: Theo truyền thống bao gồm các chi có quả nhỏ, là dạng quả bế hay quả hạch nhỏ và thường có phần cùi thịt của quả (ví dụ dâu n 6 tây) là hypanthium hay cuống mang các lá noãn. Định nghĩa của phân họ này hiện tại bị thu hẹp lại (ví dụ loại bỏ tông Dryadeae), nhưng nó vẫn còn là một nhóm lớn và đa dạng, chứa 5 hay 6 tông và trên 20 chi.
Các loài thông dụng và được biết đến nhiều có Hoa hồng, mâm xôi, dâu tây, ỷ lăng, thủy dương mai. Phân họ Spiraeoideae: Theo truyền thống bao gồm các chi với quả không có cùi thịt bao gồm 5 lá noãn. Hiện nay có lẽ chỉ bao gồm Spiraea và Sorbaria cùng các đồng minh của chúng. Phân họ Maloideae (hay Pomoideae): Theo truyền thống bao gồm các chi (như táo tây, sơn tra, lê, mộc qua, thanh hương trà v.v), với quả bao gồm 5 lá noãn trong vỏ quả trong dày cùi thịt, được bao quanh bằng mô cuống chín.
Quả dạng này gọi là quả táo. Ngoài ra còn có các chi như Lindleya và Vauquelinia, chia sẻ nhiễm sắc thể đơn bội 17 (x=17) với các chi có quả dạng quả táo, Kageneckia, trong đó x=15 và chi cây thân thảo Gillenia (x=9), có quan hệ chị em ruột với phần còn lại của Maloideae. Phân họ Amygdaloideae (hay Prunoideae): Theo truyền thống bao gồm các chi với quả là quả hạch đơn có đường nối, hai gân cạnh đường nối và một gân đối diện đường nối. Hiện nay được mở rộng để gộp cả 5 chi Exochorda, Maddenia, Oemleria, Prinsepia và Prunus (mận, đào, hạnh, anh đào, mơ).
Tông Dryadeae: Quả dạng quả bế với các vòi nhụy như lông. Bao gồm 5 chi (Dryas, Cercocarpus, Chamaebatia, Cowania và Purshia), phần lớn các loài tạo ra các nốt sần trên rễ là nơi sinh sống của vi khuẩn cố định đạm Frankia. Tông Neillieae: Neillia (bao gồm Stephanandra) và Physocarpus. Trong số các nhóm này, Neillieae dường như là nhóm chị em với Maloideae, còn Dryadeae có thể là chị em ruột với Rosoideae.
Các chi khác, ví dụ Kerria, dường như không thuộc về bất kỳ nhóm nào kể trên. Trong đó Xoan đào thuộc phân họ Rosoideae. n 7 Họ thực vật Hoa hồng (Rosaceae), là một họ thực vật điển hình của rừng nhiệt đới Đông Nam Á, có phân bố rộng trải suốt khu vực từ Ấn Độ đến Philippin, gồm 13 chi và 470 loài.