Đặt vấn đề Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá, đóng vai trò rất quan trọng trong mọi mặt của đời sống con người. Có thể khái quát một số chức năng cơ bản của rừng như : Cung cấp gỗ củi và lâm sản - thực vật qúy hiếm, đóng vai trò chủ đạo trong phòng hộ chống lũ ống, lũ quét, chống xói mòn rửa trôi đất, điều hoà khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái. Ở nước ta, rừng và đất rừng chiếm 3/4 tổng diện tích lãnh thổ, song thực tế rừng tự nhiên còn rất ít, chủ yếu là rừng thứ sinh ở những mức độ thoái hoá khác nhau. Nguyên nhân chủ yếu là do ý thức tác động bất hợp lý của con người như đốt nương làm rẫy, khai thác lạm dụng quá mức cho phép hay nói đúng hơn là sự đói nghèo và thiếu hiểu biết của người dân.
Theo số liệu thống kê độ che phủ năm 1943 là 43%, nhưng đến những năm 1980 -1990 do rừng bị tàn phá nặng nề nên độ che phủ giảm xuống chỉ còn 28,4% và đang có xu hướng tăng vào những năm gần đây. Ngày nay chỉ còn khoảng hơn 9 triệu ha rừng tự nhiên trong đó rừng giàu chiếm khoảng 30%, rừng trung bình khoảng 35%, còn lại là rừng phục hồi. Rừng giàu còn lại chủ yếu ở vùng sâu vùng xa, núi cao có độ dốc lớn nên khả năng khai thác cung cấp sản phẩm cho xã hội bị hạn chế.[9] Do sự suy thoái rừng có rất nhiều mức độ nên các hoạt động phục hồi rừng cũng rất đa dạng, điều này phụ thuộc vào hiện trạng của rừng khi tiến hành phục hồi. Trong lâm sinh nhiệt đới các biện pháp kỹ thuật phục hồi rừng rất phong phú, tuy nhiên cơ sở xuyên suốt của các biện pháp đó là việc vận dụng tái sinh tự nhiên hay tái sinh nhân tạo hoặc vận dụng cả hai hình thức tái sinh này phụ thuộc vào từng quốc gia, từng lập địa cụ thể.
Bên cạnh đó cũng cần phải có những cơ chế khai thác rừng một cách bền vững sử dụng tối đa tiềm năng giá trị h 2 của rừng. Cần có những nghiên cứu về quản lý sử dụng rừng bám chặt theo các quy luật sinh thái, cần kiểm soát được đầu ra đầu vào của hệ sinh thái rừng, nhằm tạo lập và duy trì trạng thái cân bằng động của hệ sinh thái rừng. Thực tiễn đã chứng minh rằng các giải pháp nhằm phục hồi rừng, quản lý rừng bền vững chỉ có thể giải quyết thoả đáng một khi có sự hiểu biết đầy đủ về bản chất quy luật sống của hệ sinh thái rừng. Do đó nghiên cứu khả năng tái sinh, phục hồi cấu trúc rừng được xem là cơ sở quan trọng nhất, giúp các nhà lâm nghiệp có thể chủ động trong việc xác lập các kế hoạch và biện pháp kỹ thuật tác động chính xác vào rừng, góp phần quản lý và kinh doanh rừng lâu bền.
Chính vì lý do đó, được sự đồng ý của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên rừng phục hồi tại xã Nghinh Tường, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được thực trạng tái sinh tự nhiên rừng phục hồi tại xã Nghinh Tường, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. - Đề xuất được một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm thúc đẩy quá trình tái sinh tự nhiên của rừng phục hồi khu vực nghiên cứu. Ý nghĩa nghiên cứu khoa học 1.
Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học Góp phần củng cố các phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên, giúp sinh viên vận dụng những kiến thức đã học trong trường vào công tác nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất lâm nghiệp một cách có hiệu quả. Ý nghĩa thực tiễn sản xuất Trên cơ sở các quy luật tái sinh đề xuất một số giải pháp nhằm phục hồi rừng phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học và quản lý nguồn tài nguyên rừng tại xã Nghinh Tường, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên ngày hiệu quả hơn. h 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Vấn đề tái sinh phục hồi rừng ở nước ta đã được đặt ra từ rất sớm, từ đầu những năm 50 đến 60 của thế kỷ 20 và được sử dụng với cụm từ “khoanh núi nuôi rừng”, tuy nhiên trong một khoảng thời gian dài, ngành lâm nghiệp phải tập trung khai thác rừng tự nhiên để phục vụ cho công cuộc khôi phục và phát triển miền Bắc, đồng thời chi viện cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam.
Đến đầu thập kỷ 1970, lâm nghiệp tập trung đẩy mạnh trồng rừng với “tham vọng phủ xanh đất trống đồi núi trọc” trong kế hoạch 5 năm lần 1 và lần 2 như đã được nêu tại các Nghị quyết của Đảng và kế hoạch của Nhà nước vào giai đoạn này. Do vậy việc “khoanh núi nuôi rừng” lúc này gần như là một khẩu hiệu nên kết quả và tác dụng rất hạn chế. Đến giữa những năm 1980, “khoanh núi nuôi rừng” mới được định hình và chuyển hướng thành thuật ngữ mới là: Phục hồi rừng bằng “khoanh nuôi xúc tiến tái sinh”. Quá trình sinh học mang đặc thù của hệ sinh thái rừng đó chính là tái sinh rừng.
Tái sinh rừng xuất hiện các thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng như dưới tán rừng, khoảng trống trong rừng trên đất rừng sau khi đã khai thác hoặc sau khi làm nương rẫy, các cây con sẽ thay thế các cây già cỗi. Theo nghĩa hẹp, tái sinh rừng là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ. Đứng trên quan điểm triết học, tái sinh rừng là một quá trình phủ định biện chứng. Đứng trên quan điểm chính trị kinh tế học, tái sinh rừng là quá trình tái sản xuất mở rộng tài nguyên rừng, tạo tiền đề quyết định cho tái sản xuất mở rộng kinh tế trong lâm nghiệp.
Như vậy, tái sinh rừng không còn chỉ h 4 vấn đề tự nhiên, kỹ thuật mà còn là một vấn đề kinh tế, xã hội. Rừng tái sinh sẽ có xu hướng phát triển thích ứng ngày càng cao với điều kiện ngoại cảnh. Trên thực tế tùy theo điều kiện tự nhiên có 3 phương thức cơ bản để tái sinh rừng là tái sinh tự nhiên, tái sinh nhân tạo, xúc tiến tái sinh tự nhiên. Tái sinh tự nhiên là quá trình tạo thành thay thế hệ cây rừng bằng con đường tự nhiên về cơ bản không có sự tác động của con người, kết quả tái sinh tự nhiên phụ thuộc hoàn toàn vào các quy luật và điều kiện tự nhiên.
Những nghiên cứu về tái sinh tự nhiên trên thế giới Trên thế giới các công trình nghiên cứu chủ yếu về rừng mưa chỉ tập trung vào nghiên cứu các loài cây có giá trị dưới tán rừng ít bị biến đổi. Tuy nhiên có một số công trình nghiên cứu về tái sinh rừng nhiệt đới như: Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới vô cùng phức tạp và còn ít được nghiên cứu. Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa thường chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng đã ít nhiều bị biến đổi Van steenis (1956) [14] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng. Odum (1978) [10] đã dựa trên cơ sở thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P, năm 1935 để hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái.
Khái niệm hệ sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học. (1976) [1] đã đưa ra những tổng kết hết sức phong phú về các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại rừng cơ bản là đều tuổi, rừng không đều tuổi và các phương thức xử lý cải thiện rừng mưa, sau khi ông nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học nói chung và về cơ sở sinh thái học trong h 5 kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong đó đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên. Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Richards, P.W (1952), Bernard Rollet (1974), tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đã nhận xét: trong các ô có kích thước nhỏ (1 x 1m, 1 x 1.5m) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố cụm, một số ít có phân bố Poisson. ở Châu Phi trên cơ sở các số liệu thu thập Tayloer (1954), Barnard (1955) xác định số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng trồng rừng nhân tạo.
Ngược lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới Châu á như Budowski (1956), Bava (1954), Atinot (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, do vậy các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng (Nguyễn Duy Chuyên, 1996) [3]. Khi nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái Catinot R. (1965) [2]; Plaudy J [13] đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến. Như vậy, các công trình nghiên cứu được đề cập ở trên đã phần nào làm sáng tỏ việc đặc điểm tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới.
Đó là cơ sở để xây dựng các phương thức lâm sinh hợp lý. Tóm lại, kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trên thế giới cho chúng ta những hiểu biết các phương pháp nghiên cứu, quy luật tái sinh tự nhiên ở một số nơi. Đặc biệt, sự vận dụng các hiểu biết về quy luật tái sinh để xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm quản lý tài nguyên rừng bền vững.