Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học nghiên cứu về cây Hồi 1. Điều tra rừng Điều tra rừng, còn gọi là đánh giá tài nguyên rừng, có thể được hiểu là “quy trình thu thập thông tin về số lượng và tình trạng tài nguyên rừng, thảm thực vật và các thành phần liên quan cũng như nhiều đặc điểm của diện tích đất nơi có rừng” (Hush và cộng sự 2003). Thuật ngữ “điều tra rừng” đề cập đến cả danh mục thông tin về rừng cũng như việc đo lường và đánh giá dữ liệu làm cơ sở cho thông tin.
Điều tra rừng là nền tảng của quy hoạch rừng và chính sách lâm nghiệp. Trong khi các thiết kế ban đầu về quản lý rừng bền vững và điều tra rừng tập trung vào sản xuất gỗ (Hartig 1819; Cotta 1804), các thiết kế điều tra rừng hiện đại hỗ trợ cái nhìn toàn diện về hệ sinh thái rừng không chỉ giải quyết vấn đề sản xuất gỗ mà còn nhiều chức năng của rừng cũng như cần hiểu cơ chế hoạt động của hệ sinh thái rừng (Lund 1998; Corona và cộng sự 2003; Köhl và cộng sự 2006; Corona và Marchetti 2007). Phân loại cây Hồi Giới (regnum): Thực vật (Plantate) Bộ (ordo): Hồi (Illiciales) Họ (familia): Hồi (Illiciaceae) Phân họ (subfamilia): Hồi (Illiciaceae) Chi (genus): Hồi (Illicium) Loài (species): Hồi (Illicium verum Hook. Đặc điểm hình thái Illicium verum Hook.
Tên đồng nghĩa: Illicium anisatum Lour, 1790, non. L, 1759; Badianifera officinarum Kuntze, 1891. Họ: Illiciaceae, Tên trên thị trường: Chinese star anise, Star anise, Anise oil (Nguyễn Ngọc Bình & Trần Quang Việt, 2002) 4 Thân: Hồi là cây gỗ trung bình, xanh quanh năm, cao 6-8m, có khi cao tới 15m, đường kính thân 15-30cm. Thân mọc thẳng, tròn, dạng cột, vỏ ngoài màu nâu xám.
Cành non hơi mập, nhẵn màu lục nhạt, nhẵn, sau chuyển màu nâu xám, cành rất giòn và tương đối thẳng. Tán cây hình tháp, tròn đều. Lá: mọc cách, thường tập trung ở đầu cành trông như mọc vòng, mỗi vòng thường 3-5 lá. Phiến lá nguyên, dày, cứng, giòn dạng trái xoan hoặc hình trứng thuôn, dài 6-12 (cm), rộng 2-2,5 (cm), gốc lá hình nêm, chóp lá nhọn hoặc tù, mặt trên màu xanh thẫm, nhẵn bóng, mặt dưới xanh nhạt, gân lá lông chim gồm 9-12 đôi không nổi rõ; cuống lá dài 7-10 mm và nhẵn.
Hoa: Cây Hồi sau khoảng 5-7 năm tuổi thì bắt đầu ra hoa và cho quả. Một năm có 2 vụ hoa quả, vụ chính (vụ mùa) hoa nở vào tháng 7 đến tháng 10 năm trước và quả chín vào tháng 9-10 năm sau, vụ phụ (vụ chiêm) hoa nở vào tháng 6-7 năm trước và quả chín tháng 4-5 năm sau. Hoa lưỡng tính, to, mọc đơn độc hoặc từ 2-3 cái ở kẽ lá; cuống hoa to và ngắn; đài 5-6 phiến màu lục và rụng ngay sau khi hoa nở; cánh hoa 16-20, hình bầu dục, thường nhỏ hơn các lá đài mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu hồng thẫm. Quả: màu xanh nhạt khi tươi, chin ở dạng khô, cứng màu nâu, quả có 6-10 cánh, thường 8 cánh, mỗi cánh có 1 hạt.
Hạt màu đỏ hoặc nâu sẫm. Toàn bộ cây Hồi đều có tinh dầu, ở quả là nhiều nhất (khoảng 8-11 % ở quả khô). Tinh dầu Hồi thành phần chủ yếu là trans-anethol chiếm khoảng 80 %. Phân bố thực vật: Hồi (Illicium) có trên 40 loài, chủ yếu phân bố ở khu vực Bắc Mỹ, Đông Nam Á và Đông Á.
Ở Việt Nam, đã phát hiện được khoảng 16 loài (chiếm 40 % số loài của cả chi). Riêng tại Sa Pa (Lao Cai) đã gặp tới 6 loài. Quả và lá của các loài trong chi Hồi đều có tinh dầu. Các loài khác nhau dẫn đến thành phần hoá học tinh dầu mỗi loài cũng khác nhau (Nguyễn Ngọc Bình & Trần Quang Việt, 2002).
Lưu Đàm Cư và cộng sự (2005) đã xếp các dạng Hồi tại Lạng Sơn vào 3 nhóm dựa vào đặc điểm số lượng noãn trên quả: Nhóm 8 cánh: trong mỗi quả có (7-8-10) lá noãn. Trong đó số quả có 8 lá noãn chiếm ưu thế (75-91 %). 5 Nhóm trung gian: trong mỗi quả có (5-8-13) lá noãn. Trong đó số quả có 8 lá noãn không vượt quá 60,9 %.
Nhóm nhiều lá noãn: mỗi quả có 7-13 lá noãn. Trong đó số quả có 9-13 lá noãn chiếm ưu thế (61,9-95,6). Phân bố: Việc phát hiện ra Hồi sinh trưởng tự nhiên là không được tìm thấy. Đã có nhiều công bố, báo cáo Hồi là loài cây bản địa ở vùng Đông Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc.
Hồi được trồng chủ yếu tại Việt Nam, ở Quảng Ninh (Bình Liêu) và Lạng Sơn như: Thị xã Lạng Sơn, Đình Lập, Văn Lãng, Văn Quan, Bắc Sơn, Bình Gia, Cao Lộc, Chi Lăng, Lộc Bình, Tràng Định. Vài năm gần đây, Hồi được đưa trồng ở Bắc Kạn và Cao Bằng (Đông Khê). Ở Nam Trung Quốc cây Hồi cũng được trồng nhiều tại: Vân Nam, đảo Hải Nam, Quảng Đông, Quảng Tây. Hồi đã được nhập trồng tại Nhật Bản, Ấn Độ (Nguyễn Ngọc Bình & Trần Quang Việt, 2002).
Đặc điểm sinh thái * Sinh thái I. verum là loài ưa sáng khi trưởng thành và chịu bóng khi còn non. Không nên trồng, không thích hợp trên đất đá vôi; khe núi sâu thiếu ánh sáng, thiếu ẩm; khu vực trong đó loài chiếm ưu thế là Imperata cylindrica và các cây bụi như Artemisia annua, Rhodomyrtus tomentosa, Melastioma candidum chỉ thị đất bị thoái hóa nhiều (Orwa và cộng sự.org/output/agroforestree- database). * Giới hạn sinh học về độ cao Cây có thể sinh trưởng với độ cao lên tới 2000 m.
Nhiệt độ trung bình năm: 12-18 °C, Lượng mưa trung bình năm: 1. Loại đất: mọc trên đất feralit tạo thành trên đá phiến mica, sa thạch sét, độ sâu lớp đất từ 120 cm trở lên, độ pH từ 4-6 và hàm lượng mùn tối thiểu 2 % (Orwa và cộng sự-2009) http://www.org/output/agroforestree- database). Tại các khu vực đồi núi vùng Đông Bắc Việt Nam và miền Nam Trung Quốc, Hồi đã được trồng từ rất nhiều thế hệ. Hiện này,Rừng Hồi tập trung chủ yếu ở độ cao (200-300 và 400-600 m, với nhiệt độ trung bình năm 18-22 ºC và tổng lượng mưa trung bình năm (1.
6 Việt Nam và Trung Quốc đều chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Đông Bắc ảnh hưởng cả những vùng trồng Hồi tập trung, hàng năm nhiệt độ không khí xuống thấp 13,5-15 ºC, có tới 4 tháng và có sương muối. Hồi ở Việt Nam phân bố của Hồi thích nghi và phát triển với loại đất có lớp đất mặt dày, độ phì cao, thoát nước tốt, có độ pH 5-8, đặc biệt là đất feralit màu đỏ, màu nâu đến màu vàng, phát triển trên sa diệp thạch. Hồi là cây ưa sáng, song ở giai đoạn nhỏ cần che bóng. Cây Hồi sinh trưởng nhanh theo chiều cao, giai đoạn đầu (chiều cao có thể đạt 1,5-2,0 m/năm).
Cây 5-6 năm tuổi cao tới 9-10 m. Cây ra hoa, bói quả từ 5-6 năm tuổi, trồng bằng hạt. Thường, Hồi nảy chồi vào 2 vụ trong năm. Vụ chính hay gọi là vụ xuân, nảy chồi vào cuối tháng 1-2; vụ hè thu (phụ) từ tháng 6-7 và 10-11.
Ra hoa chính tháng 7-9 và quả chín tháng 7-9 năm sau, là vụ Hồi chính (vụ Hồi mùa). Tại địa phương vào tháng 3-4 hàng năm cũng có một vụ Hồi chiêm, nhưng chất lượng quả thấp, chủ yếu là quả non bị rụng, quả chưa phát triển hoàn toàn (gọi là: “Hồi chân chuột”, “Hồi đinh”, “Hồi chân chó”). Một số cây Hồi thường đặc biệt ra hoa, đậu quả rải rác quanh năm thường ít. Vụ chính Hồi cho năng suất, chất lượng quả cao, từ khi nở hoa, thụ phấn đến quả chín thường 1 năm, chu kỳ 2-3 năm cây lại sai quả một lần (Hướng.
- Công dụng: + Cây hồi (Illicium verum Hook.) thuộc họ Hoa tán, có hoa, có nguồn gốc ở khu vực phía đông Địa Trung Hải và Tây Nam Á; Đông và Đông Nam Á. Hương vị của nó có điểm tương đồng với một số loại gia vị khác, chẳng hạn như hoa hồi, thì là và cam thảo. Hồi là một loại cây thân thảo hàng năm. Lá đơn, dài và có thùy nông; Những bông hoa màu trắng, mọc thành chùm dày đặc.
Quả khô, dài, thường được gọi là 'hồi'. Thành phần của hồi Độ ẩm: 9-13 %, Protein: 18 %, Dầu béo: 8-23 %, Tinh dầu: 2-7 %, Tinh bột: 5 %, Chiết xuất không chứa N: 22-28 %, Chất xơ thô: 12-25 % Hoa hồi chứa 2-3 % dầu. Thành phần chính của Dầu là Anethole 80- 90 % (Tuan DQ and Ilangantileke SG, 1997). Nhưng nó cũng có thể chứa lipid giàu axit béo.
Dầu hồi được sử dụng trong công nghiệp chế biến thực phẩm để tạo hương vị cho bánh. Anethole được sử dụng để tổng hợp thuốc chloral, thuốc chống co giật và pentobarbital. Tất cả chúng ta đều quen thuộc với mùi hương dễ chịu tỏa ra từ hoa, gia vị và nhiều loại cây. Bản chất hoặc mùi thơm của thực vật là do các loại dầu dễ bay hơi có trong chúng.
Những loại dầu dễ bay hơi có mùi này có trong thực 7 vật được gọi là tinh dầu. Tinh dầu chứa các chất dễ bay hơi được cô lập bằng phương pháp hoặc quy trình vật lý. Dầu được sử dụng trong quá trình ướp xác, trong y học và trong các nghi lễ thanh tẩy. Hoa hồi (Illicium verum Hook.) từ lâu đã được sử dụng trong y học cổ truyền Trung Quốc và công nghiệp thực phẩm với tác dụng xua tan cảm lạnh, điều hòa dòng khí và giảm đau (Wang và cộng sự, 2011).
Là một cây thuốc, cây hồi đã được chứng minh là có đặc tính kích thích tiêu hóa, chống ký sinh trùng, kháng khuẩn, chống oxy hóa, kháng nấm và hạ sốt (Ertas và cộng sự, 2005; Mohammed, G. Hoa hồi chứa tinh dầu với trans-anethole, một paramethoxyphenyl propene là thành phần hoạt chất chính (85-90 %). Các hợp chất khác trong tinh dầu hồi là eugenol, estragole và anisaldehyde. Hoa hồi và tinh dầu của nó thường được công nhận là an toàn (GRAS) và được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp thực phẩm, nhà máy bia và thực phẩm bổ sung sức khỏe (Bayram, I.
+ Thành phần hoạt chất: Tinh dầu Hồi chủ yếu ở quả từ 3-3,5 % quả tươi và 8- 13 % ở quả khô. Lá Hồi chứa tinh dầu, hàm lượng thấp 0,3-1,0 %. Trans-anethol (80-98 %) là thành phần chủ yếu của tinh dầu; ngoài ra còn có khoảng trên 20 hợp chất khác (limonen, α-pinen, β-phellandren, linalool, δ-3-caren, methylchavicol, myrcen, anisaldehyd, sabinen, 4-terpineol, paracymen, α- terpinen. Cis-anethol thường chỉ có hàm lượng rất nhỏ (-0,1 %), nhưng lại rất độc và độ độc gấp 15-30 lần so với trans-anethol (Anon, 2004).
Nếu sr dụng nhiều, tinh dầu Hồi sẽ gây ngộ độc hoặc dùng quá liều lượng. Trong tinh dầu Hồi, chất lượng phụ thuộc chặt chẽ vào hàm lượng của trans- anethol. Dưới đây là mối tương quan giữa độ đông và hàm lượng trans-anethol trong tinh dầu Hồi: Bảng 1.