MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Khu BTTN Pù Luông nằm trên địa phận của 2 huyện Quan Hóa và Bá Thước, phía Tây Bắc tỉnh Thanh Hóa, Bắc Trung bộ Việt Nam. Khu BTTN Pù Luông có diện tích rừng đặc dụng là 16.999,81 ha, chiếm vị trí quan trọng ở phía Tây Bắc của dải núi đá vôi Pù Luông - Cúc Phương - Ngọc Sơn, là một khu vực đại diện điển hình quan trọng mang tính toàn cầu về hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi, là khu vực đất thấp lớn duy nhất còn lại ở miền Bắc Việt Nam. Liên khu này được xem như một khu vực cần được ưu tiên cho việc bảo tồn tính đa dạng sinh học trong khu vực.
Theo kết quả điều tra lập danh lục khu hệ động, thực vật rừng năm 2013 tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông đã ghi nhận có 2.487 loài động thực vật, trong đó có 1.579 loài thực vật thuộc 680 chi, 200 họ, 76 bộ, 12 lớp và 6 ngành đã được ghi nhận, với nhiều loài thực vật quý hiếm được xếp trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) [1]. Theo kết quả điều tra này, khu bảo tồn đã khẳng định sự có mặt của loài thực vật quý, hiếm: Trà hoa trái mỏng. Loài Trà hoa trái mỏng thuộc chi Camellia là một chi lớn thuộc họ Chè Theaceae. Các loài trong chi Camellia có nhiều tác dụng như làm gỗ, làm đồ gia dụng bền chắc, lá và hoa làm đồ uống, làm dược liệu và làm cây cảnh.
Ngoài ra, có thể trồng dưới tán cây khác trong các đai rừng phòng hộ chống xói mòn, nuôi dưỡng nguồn nước. Trong số đó, các loài trà hoa vàng là loài hiện mới chỉ phát hiện được tại Việt Nam và Trung Quốc. Trà hoa vàng là một loại đồ uống bổ dưỡng cao cấp có tác dụng phòng và chữa bệnh tốt, các ứng dụng khác sử dụng các chất dinh dưỡng trong lá, hoa còn có tác dụng hạ huyết áp, tim mạch, giảm tiểu đường, hạ cholesterol, hạ mỡ máu, chống u bướu, tăng cường hệ miễn dịch nhưng chưa được khai thác, do rất hạn chế về nguồn giống. Ngoài ra đây còn là một loài cây cảnh quan được ưa chuộng do màu vàng của Trà hoa vàng rất đặc trưng, khó có thể tạo ra được bằng phương -pháp lai hữu tính.
Trà hoa vàng còn có giá trị sử dụng để lấy gỗ, có thể làm cây trồng tầng dưới ở các đai 1 rừng phòng hộ. Ngày nay các nhà thực vật thế giới xem các loài trà hoa vàng là nguồn gen quý hiếm cần được bảo vệ nghiêm ngặt. Ở Việt Nam, từ những năm 90 của thế kỷ XX Trà hoa vàng được phát hiện -ở nhiều nơi ở một số vùng phía Bắc. Trà hoa trái mỏng (trà hoa vàng quả bẹt) Camellia pleurocarpa (Gagner) Sealy lần đầu tiên được phát hiện vào tháng 8/1920 tại Tỉnh Thanh Hoá, Việt Nam.
Hiện tiêu bản đang được lưu giữ tại Bảo tàng dược liệu tại Paris, Pháp. Đây là loài đặc hữu của Việt Nam. Cây trà hoa trái mỏng có tên trong sách đỏ Việt Nam tình trạng bảo tồn: VU- sắp nguy cấp (IUCN 2.3) cho đến nay chưa có nghiên cứu chi tiết về loài này tại khu BTTN Pù Luông, Bá Thước. Vì thế việc nghiên cứu về Trà hoa trái mỏng hiện nay ở khu BTTN Pù Luông Bá Thước là một việc làm cần thiết.
Để góp phần cho công tác bảo tồn và phát triển bền vững loài cây Trà hoa trái mỏng, ngăn chặn các tổn thất đa dạng sinh học, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm thực vật học, sinh thái học của loài Trà hoa trái mỏng (Camellia pleurocarpa (Gagnep.) Sealy) tại khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hoá”. Mục tiêu nghiên cứu Xác định được một số điểm thực vật học, sinh thái học của loài Trà hoa trái mỏng (Camellia pleurocarpa (Gagnep.) Sealy) tại Khu BTTN Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa, làm cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn và phát triển bền vững loài thực vật quý hiếm này. Nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu một số điểm thực vật học của loài Trà hoa trái mỏng (Camellia pleurocarpa (Gagnep.) Sealy) tại Khu BTTN Pù Luông. - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái học của loài Trà hoa trái mỏng (Camellia pleurocarpa (Gagnep.) Sealy) tại Khu BTTN Pù Luông.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Vị trí phân loại của loái Trà hoa trái mỏng Camellia pleurocarpa Gagnep.) Sealy Loài Camellia pleurocarpa Gagnep.) Sealy thuộc chi Camellia, Chè (Theaceae), tbộ Chè (Theales), phân lớp Sổ (Dilleniidae), lớp Ngọc lan (Magnoliopsida), ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), giới Thực vật (Plantae). Khái quát về chi Camellia 1.Lịch sử nghiên cứu chi Camellia 1. Trên thế giới Chi Camellia lần đầu tiên được xác lập bởi Linnaeus (1753) trong cuốn “Species Plantarum” [49].
Kể từ đó, vị trí của chi Camellia đã trải qua nhiều thay đổi trong các hệ thống phân loại. Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để phân loại chi Camellia, tuy nhiên vẫn chưa có được sự thống nhất hoàn toàn giữa các hệ thống phân loại. Ngày nay, nó được chấp nhận rộng rãi như một chi của họ Theaceae. Camellia ban đầu được hiểu là các cây trà (tea tree) và loài đầu tiên được nghiên cứu và mô tả bởi Linnaeus là Thea sinensis (sau đó được đổi tên thành Camellia sinensis) [49].
Tiếp sau đó, loài Camellia japonica cũng được mô tả bởi Linnaeus. Tác giả đã thiết lập hai chi Thea và Camellia, trong đó Thea sinensis thuộc chi Thea và Camellia japonica thuộc chi Camellia. Quan điểm này được duy trì tới tận năm 1859, sau đó hai chi này được sáp nhập thành một chi gọi là Camellia với nhiều nhóm nhỏ. Dyer (1874) [39] là tác giả đầu tiên phân chia chi Camellia thành 2 đoạn (sections) bao gồm Thea and Camellia với 14 loài.
Hệ thống của Cohen-Stuart (1916) bao gồm 38 loài được sắp xếp thành 5 đoạn (Camelliopsis, Camellia, Calpandria, Eriandria và Euthea) [32]. Kế thừa từ các hệ thống phân loại của các tác giả đi trước và các nghiên cứu của mình, Sealy (1958) [62] đã đề xuất phân chia chi Camellia thành 12 đoạn với tổng 82 loài (Bảng 1. Cho đến nay, hệ thống này của Sealy vẫn được coi là tài liệu tham khảo quý cho các nhà khoa học quan tâm đến chi Camellia. Dựa trên hệ thống phân loại của Sealy (1958) và Chang (1981, 1998), Ming và Bartholomew [55] đã tạo ra một hệ thống phân loại mới với rất nhiều thay đổi.
Các tác giả phân chia chi Camellia thành 2 phân chi và loại bỏ 9 đoạn từ hệ thống phân loại của Chang (Bảng 1. Tổng hợp từ các công bố loài mới gần đây của chi Camellia và kế thừa từ các hệ thống của các tác giả trước, Orel and Curry (2015) [68] đã đề xuất một hệ thống phân chia chi Camellia mới gồm 4 phân chi và 27 đoạn (Bảng 1. Các hệ thống phân loại chính của chi Camellia trên thế giới Ghi chú: gạch chân là phân chi, in nghiêng là đoạn (Nguồn: Q.Hoi và cs. Trên đây là các hệ thống phân loại dựa chủ yếu trên các đặc điểm hình thái của thực vật.
Cùng với sự phát triển của các phương pháp phân loại hiện đại dựa trên kỹ thuật sinh học phân tử, cấu tạo giải phẫu phấn hoa, cấu tạo giải phẫu lá… đã được các tác giả trên thế giới sử dụng trong phân loại và hệ thống học nhằm giúp giải quyết các vấn đề còn tồn tại, đánh giá đầy đủ về tính đa dạng di truyền và quan hệ chủng loại phát sinh. Kết quả phân loại dựa trên phân 5 tích trình tự nrlTS của 112 loài thuộc chi Camellia của Vijayan và cộng sự (2009) [66] đã đồng thời đưa ra kết quả đồng thuận và mâu thuẫn với các kết quả từ các hệ thống phân loại hình thái trước đó. Các kết quả nghiên cứu của các tác giả khác như Jiang và cộng sự (2010) về phân tích đa biến hình dạng lá, giải phẫu và dữ liệu Hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR) [45], Lu và cộng sự (2012) về điểm hình thái và vị trí của lá [50] đã bổ sung cho các nghiên cứu truyền thống sử dụng các đặc điểm hình thái lá trước đó trong phân loại học. Như vậy, cho đến nay giữa các hệ thống phân loại chi Camellia hiện có đều có những sai khác ít nhiều và chưa có một hệ thống phân loại nào được thống nhất bởi các nhà phân loại học.
Do đó, các nghiên cứu sâu hơn về chi Camellia vẫn cần tiếp tục được tiến hành. Ở Việt Nam Những nghiên cứu về chi Trà Camellia ở Việt Nam bắt đầu cách đây hơn 100 năm bởi các nhà khoa học người Pháp. Nghiên cứu sớm nhất về chi Camellia ở Việt Nam là của tác giả người Pháp Lanessan (1886) với hai loài đầu tiên là Thea domoyana và Thea piquetiana dựa trên các phát hoeenj của Pierre lần lượt vào năm 1873 và 1877 [46]. Kể từ những nghiên cứu đầu tiên, trong thế kỷ 20, số tác giả công bố nghiên cứu về các loài Trà ở Việt Nam ngày càng nhiều, điều này góp phần làm đa dạng thêm cho dữ liệu hệ thực vật Việt Nam.
Trước đó, Chevalier (1919) đã công bố hai loài Thea fleuryi và Thea giberti được tìm thấy ở Việt Nam [37]. Điều đặc biệt đây cũng là những loài đầu tiên thuộc chi Camellia trên thế giới được mô tả là có hoa màu vàng. Sealy (1958) đã ghi nhận 27 loài thuộc chi Trà hoa ở Việt Nam [63], bao gồm C. Corallina, Thea yersini, Thea nervosa, C.
Giai đoạn sau đánh dấu sự có mặt của các tác giả Việt Nam. Trần Ninh là nhà khoa học Việt Nam đầu tiên đi sâu nghiên cứu về chi Trà ở Việt Nam. Tác giả và cộng sự đã phát hiện và công bố cho khoa học nhiều loài mới như C. Ông chia chi này thành 4 phân chi Protocamellia, Camellia, Thea và Metacamellia.
Tuy nhiên, nghiên cứu của Trần Ninh (2002) không đưa ra tiêu chí phân loại, cũng như khóa phân loại cho các bộ phân loại trong chi Camellia. Trong cuốn Danh lục các loài thực vật Việt Nam do Nguyễn Tiến Bân chủ biên 2003 [2] đã thống kê 45 loài và 04 thứ thuộc chi Camellia ở Việt Nam. Nguyễn Hữu Hiến (2017) đã báo cáo có 54 loài thuộc chi Camellia ở Việt Nam [14]. Nghiên cứu của ông dựa trên hệ thống phân loại của Ming (1999, 2000), chia chi Camellia ở Việt Nam thành 2 phân chi và 12 đoạn.
Luận án tiến sĩ của Lê Nguyệt Hải Ninh (2018) là công trình đầu tiên của Việt Nam phân loại chi Camellia L. một cách đầy đủ về hệ thống [22]. Tác giả đã kế thừa hệ thống phân loại của Chang (1998) để thiết lập một hệ thống có chỉnh sửa gồm 4 chi và 20 đoạn chứa 68 loài và 01 thứ hoang dại cho Việt Nam. Ngày càng nhiều các chuyên gia trong nước có phát hiện và công bố cho.