Đặt vấn đề Đa dạng sinh học có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự nhiên và cân bằng sinh thái. Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vượng của loài người và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất. Vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH ) có ý nghĩa chiến lược trong thời đại hiện nay. Hội nghị thượng đỉnh RiodeJaneiro ngày 5 tháng 6 năm 1992 là tiếng chuông thức tỉnh toàn thế giới “Hãy cứu lấy trái đất”, bởi vì sự Đa dạng sinh học liên quan đến sự sống của trái đất.Việt Nam là một trong những trung tâm đa dạng sinh học cao của thế giới, nên vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học là một yêu cầu rất cấp bách, đã từ lâu Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới điều đó, sự tồn tại của xã hội loài người liên quan mật thiết đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên sinh vật.
Tuy nhiên con người đang lạm dụng quá mức việc khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên này và kết quả là tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên sinh vật, môi trường bị suy thoái, gây ra mất cân bằng sinh thái, đe dọa cuộc sống của các loài sinh vật trong đó có loài người của chúng ta, sức khỏe của hành tinh phụ thuộc vào sự đa dạng của các loài sinh vật, Vì vậy việc bảo tồn đa dạng sinh học được coi là nhiệm vụ rất cấp bách hiện nay và cũng là trách nhiệm của toàn nhân loại. Việt Nam là một trong 10 quốc gia ở Châu Á và một trong 16 quốc gia trên thế giới có tính đa dạng sinh học cao. Tuy nhiên Việt Nam cũng đang phải đối mặt với một thực trạng rất đáng lo ngại đó là sự suy thoái nghiêm trọng về môi trường và tài nguyên đa dạng sinh học, đe dọa cuộc sống của các loài sinh vật và cuối cùng là ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước. Để ngăn ngừa sự suy thoái ĐDSH ở Việt Nam đã tiến hành công tác bảo tồn và hiện nay cả nước có khoảng 128 khu bảo tồn.
Mặc dù các loài thực vật được bảo tồn cao như vậy, nhưng những nghiên cứu về các loài thực vật ở Việt Nam hiện nay còn rất thiếu. Phần lớn các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở 2 mức mô tả đặc điểm hình thái, định danh loài mà chưa đi sâu nghiên cứu nhiều về các đặc tính sinh học, sinh thái học, gây trồng và bảo tồn loài. Với tầm quan trọng của loài cây Thủy xương bồ lá to trong đời sống của người dân và tình hình khai thác quá mức dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng. Do đó tôi tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp nhằm: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học cây thủy xương bồ lá to (ACORUS MACROSPADICEUS (YAM.) làm cơ sở cho việc bảo tồn loài thực vật quý hiếm tại khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén Tỉnh Cao Bằng”.
Mục tiêu nghiên cứu đề tài - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái cây Thuỷ xương bồ lá to - Đề xuất một số biện pháp nhằm bảo tồn và phát triển loài thực vật quý hiếm tại KBT Phia Oắc – Phia Đén. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu Qua việc nghiên cứu và thực hiện đề tài này sẽ giúp tôi làm quen được với công việc nghiên cứu khoa học, bên cạnh đó còn củng cố được lượng kiến thức chuyên môn đã học, có thêm cơ hội kiểm chứng những lý thuyết đã học trong nhà trường đúng theo phương châm học đi đôi với hành. Nắm được các phương pháp nghiên cứu, bước đầu tiếp cận và áp dụng kiến thức đã được học trong trường vào công tác nghiên cứu khoa học.Qua quá trình học tập nghiên cứu đề tài tại khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén Tỉnh Cao Bằng, tôi đã tích lũy thêm được nhiều kiến thức và kinh nghiệm thực tế trong việc bảo tồn loài cây thủy xương bồ lá to.
Đây sẽ là những kiến thức rất cần thiết cho quá trình nghiên cứu, học tập và làm việc sau này. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Việc nghiên cứu và đánh giá đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài thủy xương bồ lá to nhằm đề xuất một số biện pháp bảo tồn loài. Thành công của đề tài có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giữ gìn, bảo tồn và phát triển loài cây thủy xương bồ lá to quý này góp phần vào phát triển nền kinh tế - xã hội của huyện, của tỉnh cũng như toàn bộ khu vực miền núi phía bắc. 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học của nghiên cứu Hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguyên ĐDSH của Việt Nam đã và đang bị suy giảm. Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều Taxon loài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng trong một tương lai gần. Nằm ở vùng Đông Nam á với diện tích khoảng 330.541 km2 , Việt nam là một trong 16 nước có tính DDSH cao nhất thế giới (BNN&PTNT, 2002 chiến lược quốc gia quản lý hệ thống khu bảo tồn của Việt Nam 2002-2010). Bảo tồn nội vi là hình thức bảo tồn chủ yếu của Việt Nam trong thời gian vừa qua.
Kết quả của phương pháp bảo tồn này thể hiện rõ rệt nhất là đã xây dựng và đưa vào hoạt động một hệ thống rừng đặc dụng. Việt Nam là một trong những nước sớm quan tâm đến vấn đề bảo tồn tài nguyên ĐDSH. Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN 1978, Việt Nam cũng công bố trong Sách đỏ (Sách đỏ Việt Nam, 1996) phần II, thực vật. Sách đỏ Việt Nam năm 2007 ( Sách đỏ Việt Nam, 2007) Phần II thực vật để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên phân chia ra các thứ hạng sau: + Bị tuyệt chủng (EX) + Tuyệt chủng trong tự nhiên (EW) Nhóm các loài nguy cấp được chú trọng bảo vệ hang đầu gồm các phân hạng chính sau: + Cực kì nguy cấp (CR) + Nguy cấp (EN) + Sắp nguy cấp (VU) Nhóm các loài ít nguy cấp: 4 + Ít nguy cấp (LR) Phụ thuộc vào bảo tồn (LR/cd) Sắp bị đe dọa (LR/nt) Ít quan tâm: Least Concern (LR/lc) + Thiếu dẫn liệu: Data Deficient (DD) + Không đánh giá: Not Evaluated (NE) Để bảo vệ và phát triển các loài động thực vật quý hiếm Chính phủ đã ban hành (Nghị định số 32/2006/NĐ-CP) [1].
Nghị định quy định các loài động, thực vật quý, hiếm gồm hai nhóm chính: + IA, B: Thực vật rừng, động vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại (IA đối với thực vật rừng). + IIA, B: Thực vật rừng, động vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại (IIA đối với thực vật rừng) Căn cứ vào phân cấp bảo tồn loài và ĐDSH thì trong đó thủy xương bồ lá to (Acorus macrospadiceus (Yam. Li) thuộc họ thủy xương bồ là một loài cây quý, đa tác dụng, Hiện tại nó được xếp vào loại nguy cấp (EN) và trong sách đỏ Việt Nam (1996), Đây là loài cây có giá trị kinh tế, thân và rễ dùng cho chế biến các sản phẩm thuốc và để sản xuất tinh dầu. Do đây là cây thông dụng nên bị người dân thu hái làm cho loài bị suy giảm trầm trọng.
Đây là cơ sở khoa học giúp tôi tiến đến nghiên cứu và thực hiện khóa luận Để khắc phục tình trạng trên Chính phủ Việt Nam đã đề ra biện pháp, cùng với các chính sách kèm theo nhằm bảo về tốt hơn tài nguyên ĐDSH của đất nước. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Họ Xương bồ (danh pháp khoa học: Acoraceae) là một họ trong thực vật có hoa. Chi duy nhất của họ là Acorus với khoảng từ 2-4 tới 7-9 loài, tùy Theo nguồn dữ liệu 5 Theo IPNI, chi này chứa khoảng 7-9 loài, còn theo APG II thì nó chứa khoảng 2-4 loài.
Số liệu dưới đây dẫn theo cơ sở dữ liệu của IPNI. Acorus americanus (Raf. calamus thứ americanus) - xương bồ Bắc Mỹ; dạng lưỡng bội hữu sinh (2n = 24); có tại khu vực Alaska, Canada và miền bắc Hoa Kỳ. Các dạng lưỡng bội có tại Siberi và khu vực ôn đới châu Á có thể thuộc về loài này, nhưng chưa được nghiên cứu đầy đủ (Quần thực vật Bắc Mỹ).
Gần đây, nó được coi là loài riêng biệt, theo như trang Web của Quần thực vật Bắc Mỹ. Acorusangustatus (đồng nghĩa: A. calamus thứ angustatus). Dạng tứ bội hữu sinh (4n=48), có tại Đông Á, Nhật Bản và Đài Loan.
Acorus asiaticus Acoruscalamus L. verus) – Người Trung Quốc gọi là xương bồ, xương bặc còn tại Việt Nam gọi là thủy xương bồ; dạng tam bội vô sinh (3n = 36); có lẽ có nguồn gốc gieo trồng. Nó có nguồn gốc châu Âu, ôn đới miền núi thuộc Ấn Độ và Himalaya cũng như miền nam châu Á, được gieo trồng rộng rãi và thích nghi với thủy thổ ở nhiều nơi. Acorus cochinchinensis: có nguồn gốc Nam Bộ, Việt Nam.
Acorus gramineus Sol. pusillus) – Người Trung Quốc gọi là kim tiền bồ còn người Việt gọi là thạch xương bồ; dạng lưỡng bội hữu sinh (2n = 18); có tại Himalaya tới Nhật Bản, Myanmar, Thái Lan, Philippines.Zhu: có nguồn gốc Trung Quốc. Acorus rumphianus (đồng nghĩa: A.Zhu: có nguồn gốc Trung Quốc. 6 - Theo nghiên cứu của Asaron: Những nghiên cứu gần đây tập trung vào thành phần tinh dầu có trong cây, những chất có tác dụng chữa ung thư.
Cây thủy Xương Bồ Mỹ (A.calamus biến thế americanus) rất đa dạng, thường có nhiều ở châu Âu nhưng không chứa asarton và chỉ bào chế thuốc khi sử dụng. Nghiên cứu ở Việt Nam - Theo nghiên cứu của Trịnh Vũ Phi (1982). Trung Hoa y học tạp chí 38 (4): 315-318) trong ống nghiệm thì cây Thủy xương bồ có tác dụng sát khuẩn đối với một số khuẩn ngoài da. - Theo nghiên cứu Nguyễn Ngọc Doãn, Nguyễn Địch, Bùi Thế Kỳ và Vũ Anh Vinh (1966) (Tạp chí y học Việt Nam, I: 8-14) đã nghiên cứu tác dụng của cây Thủy xương bồ trên thực nghiệm và trên lâm sàng đã đi tới kết luận: cây Thủy xương bồ có tác dụng dự phòng và điều trị loạn nhịp tim gây ra trên động vật (thỏ và chó) bằng clorua, strohantin, hoặc thắt động mạch vành trái.
- Trong lâm sàng thành phần triết xuất từ cây Thủy xương bồ có tác dụng điều hòa nhịp tim trong các trường hợp: nhịp xoang nhanh, nhịp đa hiệp xoang nút, ngoại tâm thu thành chuỗi.