Đặt vấn đề Đồng Tháp là vùng đất có tiềm năng to lớn trong sản xuất nông – lâm – ngƣ nghiệp. Theo Sở nông nghiệp Đồng Tháp, tính đến ngày 28 tháng 3 năm 2014, diện tích nuôi trồng thu sản trong toàn tỉnh trên 5.341,78 ha, trong đ diện tích nuôi cá tra khoảng 1.230,74 ha và sản lƣợng cá tra là 112. Hiện nay, ở Đồng Tháp c hơn 50 công ty, xí nghiệp chế biến cám cá viên có kho dự trữ từ 2.000 tấn tập trung chủ yếu ở các huyện Lai Vung, Lấp Vò, Thanh Bình, thành phố Sa Đéc và thành phố Cao Lãnh (Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Đồng Tháp, 2013). Tuy nhiên, công tác bảo quản cám cá viên trong các kho gặp rất nhiều kh khăn do sự gây hại của nhiều loài sâu mọt.
Trong những loài mọt gây hại trên cám cá viên thì loài Lasioderma serricorne chiếm mật số khá lớn. serricorne xuất hiện và gây hại nặng ở các kho, trong đ mọt non là nguyên nhân chính làm giảm trọng lƣợng, nhiễm bẩn cám cá viên bảo quản (Roesli và ctv. serricorne gây thiệt hại hơn 300 triệu USD (Muhammad Saeed, 2008). Tại các nƣớc trên thế giới, đã c khá nhiều nghiên cứu về mọt L.
serricorne tuy nhiên những nghiên cứu này chỉ tập trung chủ yếu trên thuốc lá và các loại nông sản bảo quản khác mà có rất ít nghiên cứu về mọt L. serricorne trong các kho chứa cám cá viên. Ở Việt Nam, ngoài những nghiên cứu của Hoàng Lệ H ng (2010) về đặc điểm sinh học, khả năng gây hại và biện pháp quản l loài mọt L. serricorne trên thuốc lá thì cho đến hiện nay, vẫn chƣa c một số liệu nào về mọt L.
serricorne gây hại cám cá viên tại Việt Nam n i chung và Đồng Tháp n i riêng, trƣớc tình hình đ những nghiên cứu mới về mọt L. serricorne là cần thiết. Chính vì vậy, đề tài “ Điều tra thành phần sâu mọt hại cám cá viên và nghiên cứu đặc điểm sinh học 1 của loài Lasioderma serricone Fabricius 1792 (Anobiidae - Coleoptera) tại tỉnh Đồng Tháp” đƣợc thực hiện. Mục đích của đề tài Cung cấp số liệu nghiên cứu về thành phần loài sâu mọt, khả năng gây hại, đặc điểm hình thái và sinh học của mọt L.
serricorne trên cám cá viên nh m cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng biện pháp quản lí mọt L. serricorne trong các kho thức ăn thủy sản tại địa phƣơng. c n hi n c - Xác định đƣợc thành phần loài, mật độ sâu mọt gây hại cám cá viên ở một số kho thức ăn thu sản tại Đồng Tháp. - Xác định đƣợc tỉ lệ trọng lƣợng cám cá viên hao hụt do mọt L.
serricorne gây hại. - Nghiên cứu đƣợc một số đặc điểm hình thái và đặc điểm sinh học chính của mọt L. serricorne trên cám cá viên. - Xác định đƣợc tiềm năng phát triển quần thể của mọt L.
serricorne trong điều kiện thí nghiệm. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. M ốk ả nghi n ứ ọ h i kh trên th gi i 1. Thành phần sâu mọt h i kho Theo Haines và Pranata (1982), đã ghi nhận có 53 loài côn trùng ở các kho bán lẻ ở Indonesia, trong đ c 29 loài đƣợc xem là dịch hại.
Các loài sâu mọt hại nghiêm trọng ảnh hƣởng kinh tế là Sitophilus oryzae, Sitophilus granarius và Tribolium castaneum. Cũng theo nh m tác giả trên đã xác định đƣợc 265 loài chân đốt trong tổng số 1235 loài côn trùng và nhện trong quá trình điều tra các kho ở Indonesia vào năm 1997. Trong đ , tần số xuất hiện của loài Tribolium castaneum là cao nhất chiếm tỉ lệ 40%. Snelson (1987), đã thống kê đƣợc số lƣợng loài côn trùng gây hại hạt trong các kho dự trữ trên thế giới gồm 43 loài, trong đ c 19 loài thuộc nhóm côn trùng gây hại chủ yếu và 24 loài gây hại thứ yếu.
Theo kết quả điều tra của Haines (1991), thành phần côn trùng hại kho nông sản thuộc Bộ Cánh cứng (Coleoptera) và Bộ Cánh vảy (Lepidoptera) ở Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Philippines và một số nƣớc khác thuộc khu vực Đông Nam Á có 174 loài thuộc 38 họ, trong đ Bộ Cánh cứng (Coleoptera) có 153 loài thuộc 34 họ khác nhau, chiếm 87,93%, Bộ Cánh vảy (Lepidoptera) có 21 loài thuộc 4 họ khác nhau, chiếm 12,07%. Kết quả trên cho thấy, khu vực Đông Nam Á là vùng c thành phần côn trùng hại kho nông sản tƣơng đối phong phú và đa dạng.000 loài côn trùng thuộc Bộ Cánh cứng (Coleoptera), có rất nhiều loài côn trùng gây hại nghiêm trọng trong kho, chúng phân bố rộng khắp trên phạm vi toàn thế giới, phần lớn các loài tập trung vào 7 họ: Bostrichidae, 3 Bruchidae, Cucujidae, Curulionidae, Dermetidae, Silvanidae và Tenebrionidae (Bhadriraju và ctv. Theo Christian (1999), côn trùng gây hại trên sắn, thuốc lá gồm các loài mọt răng cƣa (Oryzaephilus surinamensis), mọt ngô (Sitophilus zeamais), mọt thuốc lá (L. serricorne), mọt đục hạt nhỏ (Rhizopertha dominica), mọt cà phê (Araecerus fasciculatus), mọt tre (Dinoderus minutus).
Ở Đức, Christoph và Reichmuth (2000) đã ghi nhận đƣợc 55 loài côn trùng trên một số sản phẩm bảo quản. Kết quả điều tra của Roesli và ctv. (2003), ghi nhận trong 8 kho bảo quản thức ăn thu sản và thức ăn gia súc ở Kansas - Thái Lan, c 30 loài côn trùng thuộc 20 họ, 4 bộ. Trong đ , bộ Coleoptera có 24 loài, bộ Hymenoptera có 3 loài, bộ Lepidoptera có 1 loài và bộ Psocoptera có 2 loài.
Các loài Sitophilus spp. serricorne là các loài phổ biến trong kho. Theo kết quả điều tra của Chomchalow (2003), côn trùng hại bắp bảo quản ở Thái Lan c 12 loài thƣờng xuyên xuất hiện và gây hại là Corcyra cephalonica, Crolestes ferrugineus, Cryptolestes pusillus, Esphestia cautella, Latheticus oryzae, Oryzaephilus mercator, Rhizopertha dominica, Sitophilus oryzae, Sitophilus granarius , Sitophilus zeamays, Sitotroga cerealela và Tribolium confusum. Trên thế giới c hơn 60 loài côn trùng gây hại nông sản trong các loại kho bảo quản.
Các loài xuất hiện phổ biến là Rhyzopertha dominica, Sitophilus oryzae, Sitophilus zeamays, Tribolium confusum và Tribolium castaneum (Herbert, 2010). Thiệt h i do sâu mọt gây ra trong kho Ở Cộng hoà liên bang Ðức, chỉ riêng một loài mọt thóc Sitophilus granarius đã làm thiệt hại trên 100 triệu Max (Schulze, 1964). Theo Barak và Harein (1981), ở Hoa Kỳ lƣơng thực trong kho tổn thất hơn 500.000 USD m i năm, nguyên nhân chủ yếu là do côn trùng và nấm bệnh gây hại. Hầu hết các loài côn trùng gây hại trong kho là loài gây hại sơ cấp.
Theo USDA (2005), ƣớc tính thiệt hại sau thu hoạch do côn trùng gây ra trên bắp và lúa mì khoảng 1,25 – 2,5 t USD chiếm 5 – 10% tổng giá trị xuất nhập khẩu bắp và lúa mì, về mất mát nông sản sau thu hoạch ở các nƣớc công nghiệp phát triển đã lên đến 42 4 triệu tấn, b ng 95% tổng sản lƣợng thu hoạch của nƣớc Canada hay gấp đôi sản lƣợng lƣơng thực trong năm 1992 của nƣớc ta. Theo kết quả điều tra của FAO (1991), nhiều loài mọt đã gây ra những thiệt hại lớn cho những kho dự trữ ngô ở Tanzania và các nƣớc Trung Phi khác, thiệt hại lên đến 34% ở các kho chứa ngô và khoảng 70% ở các kho chứa ngũ cốc. Sigmund và Gustav (1991), có nhiều loài sâu hại lá và thân thuốc lá, trong đ mọt L. serricorne và ngài thuốc lá (Ephestia cantella) làm ảnh hƣởng nghiêm trọng đến năng suất và phẩm chất trong quá trình tồn trữ và chế biến thuốc lá.
Theo Alleoni (2007), hàng năm trên thế giới, mức tổn thất lƣơng thực trong kho bảo quản là 10%, ở Mỹ là 5% so với tổng số lƣơng thực sản xuất. Ở các nƣớc Châu Á, Châu Mỹ La tinh và Châu Phi, mức thiệt hại này là 10%, riêng ở các nƣớc c trình độ bảo quản nông sản còn thấp và vùng khí hậu nhiệt đới thì mức tổn thất lƣơng thực lên đến 20%. Thiệt hại từ khi thu hoạch đến khi tiêu thụ từ 25 – 50% phẩm chất hạt thóc ở các nƣớc phát triển. Tại Campuchia, thiệt hại trong quá trình bảo quản hạt trong kho chiếm trung bình 10,7 năng suất thóc.
Sâu bệnh hại sau thu hoạch gây tổn thất ƣớc tính khoảng 10% tổng sản lƣợng và tổn thất trọng lƣợng từ 0,5 - 17%. Tuy nhiên ở các nƣớc châu Phi mức tổn thất này rất cao, đặc biệt bắp tổn thất lên đến 30% sau vài tháng bảo quản (Ukeh, 2009). Theo Macharia (2010), Sitophilus oryzae là một trong những loài mọt gây hại nghiêm trọng tại Kenya chúng làm giảm khả năng nảy mầm của hạt, giảm trọng lƣợng và chất lƣợng của hạt đồng thời tạo điều kiện cho mọt thứ cấp, nấm bệnh và vi sinh vật gây hại và xâm nhập. M t số nghiên cứu v mọt Lasioderma serricorne 1.
Vị trí phân lo i Mọt L. serricorne có tên tiếng Anh là Cigarette beetle, Tobacco beetle, Two bug hoặc Herbarium beetle. Theo kh a phân loại của Haines (1991), mọt L. serricorne c vị trí phân loại nhƣ sau: 5 Ngành: Arthropoda Lớp: Insecta Bộ: Coleoptera Họ: Anobiidae Giống: Lasioderma Loài: Lasioderma serricorne 1.
Phân bố và ký chủ Loài L. serricorne phân bố ở các nƣớc ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và lần đầu tiên đƣợc ghi nhận trên thuốc lá tại Paris năm 1848 (Ryan, 1999) và là dịch hại chính trên các kho thuốc lá trên toàn thế giới (Papadopoulou và Athanassiou, 2004). Ngoài các kho thuốc lá, mọt L. serricorne còn gây hại còn gây hại trên các kho chứa thức ăn chăn nuôi và nông sản dự trữ nhƣ khoai tây, bột mì, cám, cà độc dƣợc, hoa cúc, bông vải khô (Yokoyama và Mackey, 1987).
serricorne cũng gây hại trên các gia vị khô và thảo mộc nhƣ tiêu, ớt, quế, rau mùi, thì là, bột cà ri, tỏi, gừng, rễ nhân sâm, hành tây, nghệ (Jacob, 1992). Theo Scheurer và Bauer (1999), kết quả kiểm tra 4.078 kho hàng hóa tại Berlin phát hiện có 29 loài, các loài gây hại phổ biến là L. serricorne, Tenebrio moliter và Trogoderma angustorn. Theo Ryan (1999), mọt L.
serricorne có phổ thức ăn khá phong phú với trên 50 loại sản phẩm nông sản khác nhau. serricorne là loài mọt gây hại sơ cấp trên thuốc lá và ngủ cốc. Thiệt hại chủ yếu do mọt non gây ra. Chúng là nguyên nhân trực tiếp làm giảm trọng lƣợng và chất lƣợng hàng h a.
Ngoài ra, mọt L. serricorne còn làm giảm khả năng nảy mầm của hạt. serricorne cũng gây hại phổ biến lên các hàng hóa có giá trị kinh tế cao nhƣ coca, café, thuốc bắc, nho khô… và các nông sản đã qua chế biến. Chúng còn gây hại trên tiêu bản thực vật, động vật, vải, nilong, sách báo (Dimetry, 2004).
M ố ặ iểm hình thái, sinh học của mọt Lasioderma serricorne Theo Ryan (1999), mọt L. serricorne trƣởng thành c chiều dài 2,0 – 3,7 mm.