Đặt vấn đề Hoa phong Lan là một trong những loài hoa mang vẻ đẹp kiêu sa, kiều diễm nhƣng cũng rất hoang dại. Loài hoa này mang trong mình những nét đẹp cuốn hút làm say mê biết bao ngƣời, hoa Lan có hàng trăm loại khác nhau đƣợc phân bổ khắp mọi nơi trên thế giới. Và Việt Nam cũng là một quốc gia có nhiều loài hoa Lan cƣ trú. Hoa phong Lan tại Việt Nam khá đa dạng, chúng có nhiều chủng loại, hình dáng và màu sắc khác nhau.
Để phân chia chủng loại Lan các nhà nghiên cứu dựa trên những đặc điểm sinh học của chúng, hiện nay phong Lan Việt Nam có 2 loại chính là phong Lan và địa Lan. Nếu loài hoa phong Lan sống dựa trên việc bám vào các thân cây chủ mọc trên núi cao hoặc trong rừng thì địa Lan lại sống nhờ vào mặt đất, chúng mọc nhiều ở các khu vực gần bờ suối, sƣờn núi hoặc dƣới những tán rừng lớn. Đây là một trong những họ lớn nhất của thực vật, và chúng phân bố nhiều nơi trên thế giới và Việt Nam. Tại Việt Nam, Lan mọc và sinh trƣởng nhiều nhất tại Đà Lạt, nơi có khí hậu mát mẻ và ôn hòa quanh năm.
Theo thống kê chƣa chính xác số lƣợng Lan tìm thấy tại Đà Lạt lên tới 200 loài và có 5 loài Lan lần đầu tiên đƣợc phát hiện trên thế giới. Với ngƣời dân trồng Lan tại Đà Lạt chúng đƣợc phân ra thành 3 loại là thổ Lan, thạch Lan và phong Lan. Thổ Lan chính là Lan đất, mọc chủ yếu ở bờ suối, nơi đất ẩm, thạch Lan là Lan đá sống chủ yếu ở các khe hay trên sƣờn núi đá có nhiều rêu xanh. Còn phong Lan sinh trƣởng cộng sinh trên những thân cây khỏe mạnh khác.
Do có giá trị kinh tế cao, đƣợc nhiều ngƣời ƣa thích, các loài Lan rừng đã bị khai thác kiệt quệ. Để tìm hiểu một số đặc điểm sinh học, phân bố của các loài Lan trong điều kiện sinh cảnh tự nhiên ở tỉnh Thái Nguyên phục vụ công tác bảo tồn và phát triển các loài Lan rừng, tôi nghiên cứu khóa luận: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và phân bố của các loài Lan (Orchidaceae spp) tại xã Yên Ninh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”. c 2 Trên cơ sở phân tích các số liệu thu đƣợc, đề xuất phƣơng pháp khai thác hợp lý, góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên quý này. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài thực hiện nhằm đạt mục tiêu sau: Xác định phân bố của các loài Lan tại khu vực nghiên cứu và tìm hiểu đặc điểm sinh học, sinh thái học trên cơ sở đó đƣa ra một số biện pháp để bảo tồn và phát triển các loài Lan.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Việc nghiên cứu và đánh giá đặc điểm sinh thái, tình trạng phân bố của các loài Lan nhằm đề xuất một số giải pháp bảo tồn. Ý nghĩa trong thực tiễn - Giúp tôi hiểu thêm về sự phân bố và các đặc điểm sinh thái các loài Lan trong khu vực nghiên cứu. - Ƣng dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn.
- Biết đƣợc tầm quan trọng của các loài thực vật quý hiếm nói chung và các loài Lan nói riêng. - Biết đƣợc tầm quan trọng của công tác bảo tồn trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng hiện nay c 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Về cơ sở sinh học Công việc nghiên cứu đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng cần phải nắm rõ đặc điểm sinh học của từng loài. Việc hiểu rõ hơn về đặc tính sinh học của loài giúp chúng ta có những biện pháp tác động phù hợp, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm, từ đó giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật.
Về cơ sở bảo tồn Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, chính phủ Việt Nam cũng công bố Sách đỏ Việt Nam để hƣớng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên, trong đó có rất nhiều loài Lan. Sách đỏ Việt Nam (2007) phần II thực vật. Nghị định 32/NĐ-CP ngày 30/3/2006: Về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. Đã đƣa vào phụ lục dang lục quản lý một số loài thực vật và động vật rừng quý, hiếm, có nguy cơ tuyệt củng cao.
Đặc biệt có nhiều loài Lan thuộc nhóm IA và IIA có nhiều loài Lan rừng đang có nguy cơ tuyệt chủng trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 2. Tình hình nghiên cứu thực vật quý hiếm trên thế giới * Tổng quan về công tác bảo tồn nguồn gen Sự suy thoái nhanh chóng của diện tích rừng nhiệt đới trên toàn cầu với tốc độ ƣớc tính khoảng 12,6 triệu ha mỗi năm, tƣơng đƣơng 0,7% tổng diện tích rừng nhiệt đới (FAO, 2001) đã gây ra những tác hại to lớn về kinh tế, xã hội và môi trƣờng. Rừng nhiệt đới đƣợc xem nhƣ những “kho chứa” về tính đa dạng sinh học (ĐDSH) của thế giới (Kanowski và Boshier, 1997) [17] nên sự suy thoái về số lƣợng lẫn chất lƣợng của rừng nhiệt đới đồng nghĩa với sự suy giảm tính ĐDSH.
Vì vậy, c 4 việc phát triển những chiến lƣợc hiệu quả nhằm bảo tồn, khôi phục và phát triển tính ĐDSH cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới đang nhận đƣợc sự quan tâm của nhiều tổ chức quốc tế và nhiều dự án bảo tồn ĐDSH cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới đang đƣợc tiến hành trên quy mô toàn cầu. Bảo tồn các tài nguyên sống có ba mục tiêu chủ yếu, đó là (1) Bảo vệ các hệ sinh thái (bảo tồn thiên nhiên), (2) Bảo tồn sự đa dạng di truyền (bảo tồn nguồn gen) và (3) Bảo đảm sử dụng lâu bền các nguồn tài nguyên. Nhƣ vậy có thể dễ dàng nhận thấy vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng của bảo tồn nguồn gen trong chiến lƣợc bảo vệ đa dạng sinh học (FAO, 1983). Bảo tồn nguồn gen thực chất là bảo tồn đa dạng di truyền tồn tại bên trong mỗi loài và giữa các loài.
Đặc điểm của nguồn gen các loài Lan rừng nhiệt đới là có rất nhiều chủng loại, trong đó có một số lớn là chƣa có ích hoặc chƣa biết giá trị sử dụng của chúng, số loài đƣợc gây trồng và sử dụng không nhiều. Nên ngoài nhiệm vụ bảo tồn tính đa dạng di truyền, bảo tồn nguồn gen các loài Lan rừng còn có nét đặc thù là phải gắn với nhiệm vụ bảo vệ thiên nhiên. Phải có sự thỏa hiệp giữa các nhân tố sinh học với các nhân tố kỹ thuật, kinh tế và hành chính. Giữa bảo tồn nguồn gen với bảo vệ thiên nhiên tuy có quan hệ mật thiết với nhau, song lại có sự phân biệt quan trọng.
Theo Roche (1975) và Frankel (1975) thì bảo tồn thiên nhiên là nhằm bảo vệ các diện tích đại diện cho các sinh cảnh và các quần xã, những đối tƣợng có thể phân định đƣợc. Còn bảo tồn nguồn gen thì đi xa hơn, nó quan tâm đến những khác biệt di truyền, những cái chỉ có thể đoán định chứ không thể phân biệt đƣợc. * Tổng quan về các loài Lan - Đặc điểm thực vật Họ Lan (Orchidaceae) là một họ thực vật có hoa, thuộc bộ Lan Orchidales, lớp thực vật một lá mầm. Lan thuộc vào loài hoa đông đảo với khoảng 750 loài và hơn 25.000 giống nguyên thủy và khoảng một triệu giống đã đƣợc lai giống nhân tạo hay thiên tạo, c 5 hoa Lan (Orchidaceae) là một loài hoa đông đảo vào bậc thứ nhì sau hoa cúc (Asteraceae).
Ngƣời ta thƣờng gọi lầm tất cả các loại hoa Lan là phong Lan. Hoa Lan mọc ở các điều kiện, giá thể khác nhau và đƣợc chia làm 4 loại: 1. Epiphytes: Phong Lan bám vào cành hay thân cây gỗ đang sống. Terestrials: Địa Lan mọc dƣới đất.
Lithophytes: Thạch Lan mọc ở các kẽ đá. Saprophytes: Hoại Lan mọc trên lớp rêu hay gỗ mục. Đối với các loài Lan (phong Lan và địa Lan), hầu nhƣ từ trƣớc tới nay, ngƣời dân mới biết đến chúng là những loài đƣợc sử dụng làm cây cảnh trang trí ở các hộ gia đình mà chƣa biết rằng trong số hàng ngàn loài Lan đã phát hiện có một số loài còn có tác dụng cung cấp các hoạt chất sinh học làm nguyên liệu chế biến thuốc và thực phẩm chức năng. Trong số những loài đó ngƣời ta đã phát hiện trong Lan Thạch hộc tía và Lan kim tuyến có chứa một loại hoạt chất để sản xuất thuốc chữa ung thƣ.
Chính vì vậy, giá thị trƣờng hiện nay lên tới 7 triệu đồng/kg Lan Thạch hộc tía. - Phân bố Đây là một trong những họ lớn nhất của thực vật, và chúng phân bố nhiều nơi trên thế giới. Gần nhƣ có mặt trong mọi môi trƣờng sống, ngoại trừ các sa mạc và sông băng. Phần lớn các loài đƣợc tìm thấy trong khu vực nhiệt đới, chủ yếu là châu Á, Nam Mỹ và Trung Mỹ.
Chúng cũng đƣợc tìm thấy tại các vĩ độ cao hơn vòng Bắc cực, ở miền nam Patagonia và thậm chí trên đảo Macquarie, gần với châu Nam Cực. Nó chiếm khoảng 6-11% số lƣợng loài thực vật có hoa. Theo Helmut Bechtel (1982), hiện nay trên thế giới có hơn 750 loài Lan rừng, gồm hơn 25.000 giống đƣợc xác định, chƣa kể một số lƣợng khổng lồ Lan lai không thể thống kê chính xác số lƣợng. Lan rừng phân bố trên thế giới gồm 05 khu vực: + Vùng nhiệt đới Châu Á gồm các giống: Bulbophyllum, CaLanthe, Ceologyne, Cymbidium, Dendrobium, Paphiopedilum, Phaius, Phalaenopsis, Vanda, Anoectochillus… c 6 + Vùng nhiệt châu Mỹ gồm các giống: Brassavola, Catasetum, Cattleya, Cynoches, Pleurothaillis, Stanhopea, Zygopetalum, Spathoglottis.
+ Châu Phi gồm các giống: Lissochilus, Polystachiya, Ansellia, Disa… + Châu Úc gồm các giống: Bulbophyllum, CaLanthe, Cymbidium, Dendrobium, Eria, Phaius, Pholidota, Sarchochilus… + Vùng ôn đới của Châu Âu, Bắc Mỹ và Đông Bắc Châu Á gồm các giống: Cypripedium, Orchis, Spiranthes… Danh sách dƣới đây liệt kê gần đúng sự phân bố của họ Orchidaceae: Nhiệt đới châu Mỹ: 250 - 270 chi Nhiệt đới châu Á: 260 - 300 chi Nhiệt đới châu Phi: 230 - 270 chi Châu Đại Dƣơng: 50 - 70 chi Châu Âu và ôn đới châu Á: 40 - 60 chi Bắc Mỹ: 20 - 25 chi - Những nghiên cứu về Lan Cây hoa Lan đƣợc biết đến đầu tiên từ năm 2800 trƣớc công nguyên, trải qua lịch sử phát triển lâu dài, đến nay ở nhiều quốc gia đã lai tạo, nhân nhanh đƣợc nhiều giống mới đem lại giá trị kinh tế cao.