Mở đầu là Koshevnikov đo vào năm 1900, tiếp theo năm 1901 Martynov tiếp tục đo đếm kích thước ong mật và Kulagin đo vào năm 1906. Qua những lần đo đạc đầu tiên, các nhà khoa học gặp phải trở ngại về số lượng mẫu ong với vấn đề đưa ra là lượng mẫu ong bao nhiêu sẽ đảm bảo độ tin cậy về hình thái. Năm 1916, Chochlov đã sử dụng số lượng mẫu ong đảm bảo cho phân tích thống kê hình thái (Phạm Hồng Thái, 2014). 3 Theo Ruttner (1988), ong A.
mellifera bao gồm 24 loài phụ và các phân loài đó là Apis mellifera caucasia Gobatschev, Apis mellifera carnica Pollmann , Apis mellifera ligustica Spinola, Apis mellifera Linnaeus, A. capensip Eschoitz,… trong số đó có 3 phân loài được nuôi phổ biến và có kinh tế hơn cả là Apis mellifera caucasia, Apis mellifera carnica, Apis mellifera ligustica. Theo Spinola (1806), Apis mellifera ligustica là một phân loài của ong mật phương tây, là giống ong Ý, chúng có nguồn gốc từ phần lục địa của Ý, Nam của daxy Alps và Bắc của đảo Xisin. Ong có mầu sắc điển hình là vàng sáng, chỉ số Cubital của ong thợ 2,2-2,8; chiều dài vòi hút 6,5-6,7 mm; đường kính tổ ong thợ 5,25 mm.
Đây là giống ong thích nghi với vùng khí hậu ẩm dịu, về mùa Đông ít lạnh của vùng khí hậu Địa Trung Hải. Ở những nước có mùa Đông không quá lạnh, ong Ý có khả năng qua Đông khá tốt với việc duy trì thế đàn lớn, vì vậy khi bước vào vụ Xuân chúng phát triển sớm hơn so với ong A. Tuy nhiên tốc độ phát triển trong vụ Xuân của chúng không cao được bằng với ong Carniolan. Ong Ý là giống có xu tính chia đàn thấp, tiết sáp xây tổ nhiều, nhưng chúng lại có xu tính ăn cướp, dễ bị trôi dạt do định hướng kém hơn Carniolan.
Đây là giống ong được nuôi rộng rãi nhất trên thế giới và phổ biến ở Bắc Mỹ, Nam Mỹ và Nam Châu Âu, vì khả năng thích nghi rất rộng nên chúng được gọi là ong thương mại. Ong Ý có đặc điểm là đẻ trứng cao trong thời vụ khan hiếm nguồn hoa cũng như trong vụ mật nên thế đàn của chúng ít khi bị suy giảm, tuy nhiên nhược điểm của chúng là tiêu tốn nhiều thức ăn nhất là đối với các vùng có mùa Đông dài, phải dự trữ cho đàn ong lượng thức ăn nhiều hơn so với những giống ong khác. Ong Ý có khả năng chống bệnh thối ấu trùng cao nhưng lại dễ nhiễm bệnh Nosema (Rinderer, 1986). Theo Polmann (1806), phân loài Apis mellifera carnica chúng được biết 4 đến với cái tên “ong mật Carniolan”.
Giống ong Carniolan có xuất xứ từ Kranska của Slovenia, miền Nam của dãy Alps thuộc Áo nên nó còn có tên là Carinthian. Chúng phân bố từ vùng lòng chảo Banube và từ Balkans cho đến dãy Alps, chúng thích nghi rất tốt với các vùng khí hậu lạnh. Tuy nhiên hiện nay do việc nuôi ong di chuyển, nhu cầu trao đổi và xuất nhập khẩu ong nên chúng đã có mặt ở rất nhiều nước trên thế giới. carnica là giống ong có mầu đen điển hình, ong thợ có chỉ số Cubital từ 2,4-3,0; chiều dài vòi hút 6,5-6,8 mm; đường kính lỗ tổ ong thợ 5,5 mm (Ruttner, 1988).
Carniola là giống ong rất hiền lành, ít bị xáo động trên cầu khi kiểm tra, ít lấy keo và có xu tính ăn cướp thấp. Giống ong này có khả năng định hướng tốt nên ít bị trôi dạt hoặc vào nhầm tổ khác như ong Ý. Ong Carniola có sức đề kháng cao với bệnh thôi ấu trùng, khoảng cách bay để kiếm thức ăn xa hơn so với ong Ý. Đây là giống ong được nuôi rộng rãi thứ hai trên thế giới, nhưng chúng cũng có nhược điểm là khả năng chống chịu với mùa hè nóng nực kém.
Theo Polmann (1889), phân loài Apis mellifera caucasia là giống ong có nguồn gốc từ núi Caucasus. caucasia là loài có vòi hút rất dài (có nơi dài hơn 7 mm), thích nghi rất tốt với các vùng núi cao, cơ thể ong mầu xám đen, kích thước cơ thể trung bình. Loài ong này rất thích hớp cho việc nuôi công nghiệp, khả năng thu mật tốt và chúng cũng rất hiền lành nên chúng được nuôi phổ biến trên thế giới. caucasia có khả năng thu keo rất tốt nên vào vụ Đông chúng thương dùng keo vít kín quanh tổ chỉ để lại một lỗ nhỏ ở cửa ra vào, tuy nhiên phân loài ong này ở vùng Bắc Âu lại mân cảm với Nosema (Ruttner, 1988).
Hệ thống học, phân bố của ong ngoại Apis mellifera trên thế giới. Loài ong Apis mellifera là loài ong bản chất của Châu phi, Châu Âu và khu vực Trung Đông được giới thiệu đến Châu Á, châu Mỹ và Australia ( Sivaram, 2012 ) Theo Michener (2007) ong Apis mellifera thuộc: Ngành Chân đốt ( Ảthropoda) o Lớp côn trùng ( Insecta) Bộ cánh màng ( Hymenoptera) Họ Ong mật ( Apidae ) o Tộc Apini Chi Apis Loài ( Apis mellifera) Những mô tả đặc điểm hình thái để phân biệt các vùng sinh thái được nhiều tác giả nghiên cứu ( Rinderer & cs. 1990; Nazzi, 1992; Kauhausen – Keller, 1994; Diniz – Filho & cs. Bằng công cụ phân tích phân biệt ( Princin component), Amsalu (2004) phân tích các mẫu ong thợ của 57 quần thể Apis mellifera ở Ethiopian chỉ ra các vùng này rất đa dạng về hình thái.
Các quần thể này phân thành 5 nhóm khác biệt: nhóm ong Apis mellifera jemenitica ở Tây Bắc , đông vùng khô cằn, bán đồng bằng; Apis mellifera ở những cao nguyên trung bình; Apis mellifera woyi- gambell ở vùng tây bắc vùng bán khô cằn và một hần bán đồng bằng Ethiopian; Apis mellifera monticola ở những vùng bắc nui cao nguyên. ( 2006) đã xem xét sự khác biệt hình thái trong một tế bào cách duy nhất để đánh giá các phương pháp phân biệt của phân loài A. Phân tích các kết quả cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa thương mại My ong Ý , ong Carniolan và ong mật Africanized. Bằng kết hợp phân tích hình thái, địa lý 6 sinh vật và sự phân bố của ông mật Châu Phi có mối tương quan với nhau ( Hepburn anh Radloff, 1997 ).
Loài ong Apis mellifera là loài ong bản địa của châu Phi, châu Âu và khu vực Trung Đông được giới thiệu đến châu Á, châu Mỹ và Úc (Sivaram, 2012). Trong đàn ong, ong thợ là thành phần cơ bản và giữ vai trò quan trọng trong đang ong, nó thực hiện mọi hoạt động để duy trì, phát triển đàn và tạo ra các sản phẩm (Ioiris, 1982). Ong thợ của các giống ong khác nhau có đặc điểm hình thái riêng biệt thể hiện thông qua màu sắc và kích thước của các bộ phận của cơ thể liên quan đến tập tính sinh học và khả năng sản xuất của các giống ong (Severson & cs. Có thể sử dụng các chỉ tiêu hình thái ong thợ để làm cơ sở phân loại giống ong mật (Marletto & cs.
Việc nghiên cứu, phân tích hình thái và phân tích AND ong thợ xác định được phần loài mới Apis mellifera ruttneri ở Malta (Sheppara & cs. Rutter (1978) đo đếm 33 chỉ tiêu hình thái của 404 mẫu ong mật ở các vùng khác nhau để phân tích phân biệt chỉ ra các vùng phân bố địa lý của chúng. Những mô tả đặc điểm hình thái để phân biệt các vùng sinh thái được nhiều tác giả nghiên cứu (Rinderer &cs. Bằng công cụ phân tích phân biệt, Amssalu (2004) phân tích các mẫu ong thợ của 57 quần thể Apis mellifera ở Ethiopian chỉ ra các vùng này rất đã dạng về hình thái.
Marlettor &cs (1984) đã nghiên cứu 39 chỉ tiêu hình thái của nhiều mẫu ong thợ ở thung lũng Tanaro và Maria của vùng Piedont thuộc nước Ý. Keestquar cho thấy ong ở trên cao của thung lũng Tanaro là ong Apis mellifera, còn ở dưới thấp của thung lugn Maria là ong Apis mellifera ligustica. Nghiên cứu về đặc điểm hình thái của Apis mellifera. Ruttner (1988) đã nêu cách lấy mẫu và các vật liệu, dụng cụ để đo các chỉ tiêu hình thái của ong giúp cho việc lấy mẫu, đo đếm thuận lợi và đơn giản hơn.
7 Các chỉ tiêu đo đếm hình thái bao gồm: chiều dài vòi, chiều dài chân, chiều dài và chiều rộng cánh trước, chiều dài và chiều rộng cánh sau, chiều ngang và chiều dọc tấm lưng và tấm bụng. Ruttner cũng chỉ ra chiều dài, chiều rộng cánh, một số đoạn gân góc cánh là các chỉ tiêu được cho phép sử dụng để giám định loài và các chủng ong trong nghiên cứu hình thái ong mật. Ruttner (1988) cho thấy loài ong A. mellifera có một số chỉ tiêu hình thái đặc trưng như chiều dài vòi là 6,11mm, chiều dài cánh trước là 9,42mm, chiều ngang tấm lưng của đốt bụng thứ 3 là là 9,32mm, chiều ngang tấm bụng thứ 3 là 5,24mm.
Bên cạnh đó, cũng đã nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của ong Apis mellifera và cho thấy ong thợ có màu sắc đen, đôi khi có những chấm nhỏ màu vàng ở tấm lưng bụng thứ nhất, có chỉ số Cubitan là 1,7mm, chiều dài vòi hút là 6,35mm. Currie & Jay (1988), nghiên cứu về hình thái nên lấy mẫu ong thợ do ong thợ ít bị trôi dạt hơn so với ong đực, tập tính sinh sống gắn liền với đàn. Nếu lấy mẫu ong đực sẽ gặp khó khăn do ong đực có xu hướng dễ trôi dạt và thường bị phụ thuộc vào mùa vụ. Mẫu ong phục vụ cho mục đích và phương pháp nghiên cứu khác nhau sẽ có lượng mẫu cần lấy khác nhau, ong sử dụng phân tích morphometric cần sử dụng cỡ mẫu là 15 con ong thợ, ở mức tối thiểu là 10 con.
Tuy nhiên để tránh xảy ra sai sót trong quá trình phân tích mẫu nên lấy mẫu ở mỗi đàn từ 30-40 con, trong đó sử dụng 20 con làm mẫu nghiên cứu. Ở mỗi dòng ong lấy mẫu ong thợ ít nhất 3 đàn. Đặc điểm hình thái của các thế hệ di truyền trong quần thể ong Apis mellifera ligustica ở Thổ Nhĩ Kì có sự sai khác rõ rệt giữa các chỉ tiêu (Kademir & cs., (1984) đã nghiên cứu một số chỉ tiêu hình thái như chiều dài 8 vòi, kích thước gương sáp của ong A. ligustica được nhập vào ấn Độ có kích thước lớn hơn so với các chỉ tiêu tương ứng của ong Apis cerana vùng Hymachal Pradesh và các chỉ tiêu đó không có sự thay đối đáng kể về hình thái học.
Sử dụng một số chỉ tiêu của ong thợ để làm cơ sở phân loại giống ong mật. Bằng kết hợp phân tích hình thái, địa lý sinh vật và sự phân bố, Hepburn & Radloff (1997) nhận thấy rằng ong mật ở châu Phi có mối tương quan với nhau.