Đặt vấn đề Tỉnh Hòa Bình nói chung và huyện Đà Bắc nói riêng, nghề truyền thống của người dân là sản xuất nông nghiệp. Đối với ngành chăn nuôi, chăn nuôi lợn chiếm vị trí quan trọng. Tập quán chăn nuôi lợn chủ yếu mang tính chất quảng canh, tự phát manh mún, tận dụng các giống lợn nội và lợn lai có tỷ lệ máu ngoại thấp, ít có sự chọn lọc, nuôi phân tán ở các nông hộ. Lợn Bản Đà Bắc là giống lợn nội được nuôi phổ biến trong các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, đa phần là dân tộc Mường tại các xã vùng cao, vùng sâu của tỉnh Hòa Bình với ưu điểm là có sức đề kháng cao với dịch bệnh, chịu đựng tốt với điều kiện, hoàn cảnh nông hộ nghèo, không đòi hỏi thức ăn dinh dưỡng cao, chi phí đầu tư thấp, chất lượng thịt thơm ngon, rất phù hợp thị hiếu người Việt Nam.
Lợn có đặc điểm đặc trưng là lông đen, dài, cứng, da đen tuyền, 4 bàn chân và bụng có thể trắng. Tai nhỏ, dựng đứng, chân nhỏ đi móng, mặt nhỏ, mõm dài, lưng hơi võng hoặc thẳng, mình dài. Tuy nhiên, nó cũng có những nhược điểm như: khả năng tăng trọng, sinh sản thấp, khối lượng cơ thể nhỏ, thời gian nuôi kéo dài. Hiện nay, nhiều xã vùng sâu, vùng cao của tỉnh Hoà Bình vẫn còn nuôi giữ, bảo tồn giống lợn thuần chủng này, nhưng việc nuôi chỉ mang tính tự cung, tự cấp.
Mới đây đã xuất hiện những hộ, mô hình nuôi quy mô, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Không ít hộ đã chuyển từ nuôi lợn lai sang nuôi lợn Bản Đà Bắc; từ phương thức tự cấp sang hướng hàng hoá. Nhiều xã đã đưa chăn nuôi lợn Bản Đà Bắc vào Nghị quyết trong kế hoạch phát triển kinh tế của xã, coi đây là một mũi nhọn để phát triển kinh tế. Phát triển chăn nuôi lợn Bản Đà Bắc của người dân tộc Mường trên địa bàn tỉnh theo hướng hàng hoá là một hướng đi đúng, góp phần khai thác tiềm năng, thế mạnh của các xã vùng cao, vùng sâu.
Lợn Bản Đà Bắc được nhiều người ưa chuộng, nếu được tác động kỹ thuật để cải tạo, chọn giống tốt, có thể làm nguyên liệu để lai tạo với lợn ngoại nâng cao được năng suất, chất lượng thịt và hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi. Để chăn nuôi lợn Bản Đà Bắc phát triển có hiệu quả và 2 bền vững, ngoài sự tham gia của người dân, cần có sự nghiên cứu, vào cuộc của các nhà quản lý, chuyên môn. Xuất phát từ thực tế trên, nhằm góp phần bảo tồn, phát huy những ưu điểm, khắc phục nhược điểm và nâng cao năng xuất, chất lượng của giống lợn Bản Đà Bắc, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của lợn Bản Đà Bắc, Hòa Bình”. Mục đích của đề tài - Xác định được một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất chủ yếu của lợn Bản Đà Bắc.
- Định hướng bảo tồn và phát triển giống lợn này phục vụ thị trường và tăng thu nhập cho người dân tại địa phương. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. - Trên cơ sở nghiên cứu về đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của lợn Đà Bắc, để từ đó làm tiền đề cho việc hoạch định những định hướng, chính sách phát triển chăn nuôi lợn bản địa tại địa phương, đồng thời góp phần làm cơ sở cho việc bảo tồn nguồn gen lợn Đà Bắc. - Đề tài đóng góp thêm những số liệu khoa học phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy trong các trường Đại học, Cao đẳng và Viện nghiên cứu.
- Định hướng cho người dân chăn nuôi lợn nội chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm và phát triển nông nghiệp bền vững tại địa phương. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở về việc nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của lợn Đặc điểm về di truyền của lợn Cũng như các loài gia súc khác, đặc điểm di truyền các tính trạng chất lượng và số lượng trên lợn cũng tuân theo các quy luật di truyền của Mendel.
Màu sắc lông da như trắng, đen, vàng… là những tính trạng chất lượng do một đôi gen quy định, không thay đổi qua các thế hệ. Còn các tính trạng: Số con trên lứa, khả năng tăng trọng, phẩm chất thịt xẻ, chất lượng thân thịt… là những tính trạng số lượng, do nhiều đôi gen quy định và chịu sự tác động của ngoại cảnh với nhiều mức độ khác nhau. Các tính trạng số lượng và chất lượng đều chịu sự tác động giữa kiểu di truyền và môi trường. Kiểu di truyền hay kiểu gen là sự có mặt và hoạt động của từng gen riêng rẽ để ảnh hưởng đến sự hình thành của tính trạng hoặc là sự tổng hợp, sự tác động tương hỗ giữa các gen trong quá trình phát triển cá thể, thể hiện như một thể thống nhất, toàn vẹn, điều hoà toàn bộ đời sống của con vật.
Kiểu di truyền là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài thông qua sự chọn lọc tự nhiên. Kiểu hình là toàn bộ tính trạng của cá thể, hình thành biểu hiện gắn với kiểu di truyền, nhưng có thể quan sát, phân tích được và chịu ảnh hưởng thay đổi của các yếu tố môi trường. Sự phân chia đầu tiên của giá trị kiểu hình là sự phân chia nó thành các phần có thể bị ảnh hưởng của kiểu gen và môi trường. Kiểu gen là một tập hợp đặc biệt của các gen có được của một cá thể và môi trường là tất cả các yếu tố không di truyền (non - genetic).
Các giá trị có liên hệ với kiểu di truyền và môi trường là giá trị kiểu gen và sai lệch môi trường. Kiểu di truyền quy định một giá trị nào đó của cá thể và môi trường gây ra một sự sai lệch từ giá trị này theo hướng này hoặc hướng khác. Quan hệ này được biểu thị bằng công thức: P = G + E. 4 P là giá trị kiểu hình của 1 tính trạng (Phenotype); G là giá trị kiểu gen (Genotype) và E là giá trị ngoại cảnh hay gọi là sai lệch môi trường (Environment).
Giá trị kiểu gen (G) của giá trị số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minorgene) cấu tạo thành. Đó là các gen có hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu, hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen (Polygen). Các minorgene này tác động lên tính trạng theo 3 phương thức: Cộng gộp, trội và át gen. Vì vậy giá trị kiểu gen hoạt động thể hiện qua công thức: G=A+D+I Trong đó: G: Giá trị kiểu gen A: Giá trị cộng gộp D: Giá trị sai lệch trội I: Giá trị sai lệch tương tác A là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác định được và di truyền cho đời sau.
Hai thành phần D và I cũng có vai trò quan trọng vì đó là giá trị giống đặc biệt và chỉ xác định được thông qua con đường thực nghiệm. Những tính trạng có hệ số di truyền bằng 0,2 - 0,4 là những tính trạng có hệ số di truyền trung bình. Những tính trạng có hệ số di truyền bằng 0,5 trở lên là những tính trạng có hệ số di truyền cao và cho hệ quả chọn lọc cao. Những tính trạng cho hệ số di truyền thấp sẽ cho ưu thế lai cao.
Trong chăn nuôi lợn, tính trạng số lượng quyết định đến các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, các tính trạng về năng suất ở lợn cũng như các vật nuôi khác là kết quả tác động giữa các yếu tố di truyền và các yếu tố môi trường. Yếu tố di truyền được thể hiện cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều môi trường sống như: Khí hậu, dinh dưỡng, thức ăn. Hai cá thể giống nhau về kiểu gen nhưng có thể khác nhau về kiểu hình nếu được nuôi trong hai môi trường khác nhau. Đặc điểm ngoại hình 1.
Khái niệm ngoại hình Ngoại hình: Là hình dáng bên ngoài có liên quan đến thể chất, sức khoẻ, hoạt 5 động của các bộ phận bên trong cơ thể cũng như khả năng sản xuất của vật nuôi và hình dạng đặc trưng của phẩm giống. Ngoại hình của vật nuôi là hình dáng bên ngoài của con vật, bao gồm màu sắc lông, da, hình dáng từng bộ phận có sự liên quan đến thể chất, sức khoẻ, cấu tạo, chức năng của từng bộ phận trong cơ thể cũng như khả năng sản xuất của vật nuôi. Ngoại hình còn là hình dáng đặc trưng của một phẩm giống. Để đánh giá ngoại hình vật nuôi, người ta dùng mắt quan sát, dùng tay để sờ nắn, dùng thước để đo một số chiều nhất định.
Ngoại hình con vật nuôi được đánh giá không chỉ trên các bộ phận mà được xem xét trên sự cân đối hài hoà của của các bộ phận. Đánh giá ngoại hình vật nuôi là bước đầu tìm hiểu trạng thái sức khoẻ, sức sản xuất, hướng sản xuất của vật nuôi để từ đó giúp chọn lọc những vật nuôi tốt hơn. Theo Trần Văn Phùng và cs, muốn xác định ưu khuyết điểm về ngoại hình, người làm công tác giống phải nắm vững từng bộ phận trên cơ thể lợn và đặc điểm cấu tạo của chúng. Bộ phận cơ thể Bao gồm có các bộ phận sau: Đầu, trán, mõm, tai, mắt, hàm, cổ.
Đầu: Khi giám định ngoại hình lợn, cần quan sát hình dáng đầu, mức độ to nhỏ của nó. Đầu to hay nhỏ, thường thống nhất với thân hình và tỷ lệ thuận với nhau: dài đầu thường chiếm 18-24% dài thân. Trán: Nhìn chung, khi lợn có trán rộng thì thân cũng rộng và phát dục nhanh. Những giống lợn đã được cải tiến thì trán rộng, các giống lợn nguyên thuỷ thì trán hẹp.
Do đó, khi chọn giống cần chọn những cá thể trán rộng. Mõm: Hình dáng và độ dài của mõm là đặc trưng của từng giống lợn. Mõm cong hay quá ngắn hoặc mõm quá dài đều không tốt. Khi chọn lợn nên chọn những con có mõm dài vừa phải, có sự kết hợp tốt giữa hàm trên và hàm dưới.
Tai: Hình dáng và độ to nhỏ của tai là đặc trưng của giống: Lợn Ỉ tai nhỏ và đứng, lợn Landrace tai to và rũ xuống. Về độ dày và mỏng của tai thể hiện thể chất của lợn. Nếu lợn có tai dày chứng tỏ thể chất thô, tai mỏng thể chất thanh. Lợn tốt có tai mỏng và gốc tai hơi cứng.
6 Mắt: Mắt phải sang, tròn nhanh nhẹn, không lồi và lõm quá sâu, mắt không có nhiều nếp nhăn ở mi mắt.