Đặt Vấn Đề Cây Quế là loài cây thân gỗ, sống lâu năm, ở cây trưởng thành có thể cao trên 15m, đường kính ngang ngực (1,3m) có thể đạt đến 40cm. Quế có lá đơn mọc cách hay gần đối lá có 3 gân gốc kéo dài đến tận đầu lá và nổi rõ ở mặt dưới của lá, các gân bên gần như song song, mặt trên của lá xanh bóng, mặt dưới lá xanh đậm, lá trưởng thành dài khoảng 18 – 20cm, rộng khoảng 6 – 8cm, cuống lá dài khoảng 1cm. Quế có tán lá hình trứng, thường xanh quanh năm, thân cây tròn đều, vỏ ngoài màu xám, hơi nứt rạn theo chiều dọc. Trong các bộ phận của cây Quế như vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu, đặc biệt trong vỏ có hàm lượng tinh dầu cao nhất, có khi đạt đến 4 – 5%.
Tinh dầu Quế có màu vàng, thành phần chủ yếu là Aldehyt Cinamic chiếm khoảng 70 – 90%. Cây Quế khoảng 8 đến 10 tuổi thì bắt đầu ra hoa, hoa Quế mọc ở nách lá đầu cành, hoa tự chùm, nhỏ chỉ bằng nửa hạt gạo, vươn lên phía trên của lá, màu trắng hay phớt vàng. Quế ra hoa vào tháng 4 và tháng 5 và quả chín vào tháng 1 và tháng 2 năm sau. Quả Quế khi chưa chín có màu xanh, khi chín chuyển sang màu tím than, quả mọng trong chứa một hạt, quả dài 1 đến 1,2 cm, hạt hình bầu dục, 1 kg hạt Quế có khoảng 2500 – 3000 hạt.
Bộ rễ Quế phát triển mạnh, rễ cọc cắm sâu vào lòng đất, rễ bàng lan rộng, đan chéo nhau vì vậy Quế có khả năng sinh sống tốt trên các vùng đồi núi dốc. Cây Quế lúc còn nhỏ cần có bóng che thích hợp mới sinh trưởng và phát triển tốt, càng lớn lên mức độ chịu bóng càng giảm dần và sau khoảng 3 – 4 năm trồng thì cây Quế hoàn toàn ưa sáng. Tinh dầu Quế có vị thơm, cay, ngọt rất được ưa chuộng. Sản phẩm chính của cây Quế là vỏ Quế và tinh dầu Quế được sử dụng nhiều trong công nghiệp y dược, công nghiệp chế biến thực phẩm, hương liệu n 2 và chăn nuôi.
Xu hướng sử dụng các loại tinh dầu thực vật thay thế các hoá chất có ảnh hưởng đến sức khoẻ con người ngày một tăng rất có lợi cho người sản xuất Quế, các địa phương có Quế và xuất khẩu Quế. Ngoài lợi ích về mặt kinh tế, cây Quế còn đóng góp vào bảo vệ môi trường sinh thái, làm tăng độ che phủ rừng, giữ đất, giữ nước ở các vùng đất đồi núi dốc, bảo tồn và phát triển sự đa dạng các nguồn gen quý cây bản địa – cây Quế còn đóng góp vào định canh - đinh cư, xoá đói giảm nghèo tạo thêm công ăn việc làm cho nông dân miền núi nước ta. Quế được sử dụng làm thuốc chữa bệnh, vỏ Quế được mài ra trong nước đun sôi để nguội để uống, hoặc trong các bài thuốc có Quế để chữa một số bệnh đường tiêu hoá, đường hô hấp, kích thích sự tuần hoàn của máu, lưu thông thuyết mạch, làm cho cơ thể ấm lên. Chống lại giá lạnh và có tính chất sát trùng.
Quế được nhân dân coi như một trong bốn vị thuốc rất có giá trị: Sâm, Nhung, Quế, Phụ (Theo tác giả Lê Trần Đức trong: “Cây thuốc Việt Nam” trang 263 “… Nhục Quế vị ngọt cay tính nóng, thông huyết mạch, làm mạnh tim, tăng sức nóng, chữa các chứng trúng hàn, hôn mê, mạch chạy chậm, nhỏ, tim yếu (truỵ mạch, huyết áp hạ) và bệnh dịch tả nguy cấp…”). Quế được sử dụng một khối lượng lớn để làm gia vị vì Quế có vị thơm, cay và ngọt có thể khử bớt được mùi tanh, gây của cá, thịt, làm cho các món ăn hấp dẫn hơn, kích thích được tiêu hoá. Quế còn được sử dụng trong các loại bánh kẹo, rượu: như bánh Quế, kẹo Quế, rượu Quế được sản xuất và bán rất rộng rãi. Quế được sử dụng làm hương vị, bột Quế được trộn với các vật liệu khác để làm hương khi đốt lên có mùi thơm được sử dụng nhiều trong các lễ hội, đền chùa, thờ cúng trong nhiều nước châu á nhất là các nước có đạo phật, đạo Khổng Tử, đạo Hồi.
Gần đây nhiều địa phương còn sử dụng gỗ Quế, vỏ Quế để làm ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ như bộ Khay, ấm, chén bằng n 3 vỏ Quế, đĩa Quế, đế lót dầy có Quế. Bột Quế còn được nghiên cứu thử nghiệm trong thức ăn gia súc để làm tăng chất lượng thịt các loại gia súc, gia cầm. Huyện Văn Yên (Yên Bái) vốn là vương quốc của Quế. Từ bao đời nay, cuộc sống của người dân xứ này phụ thuộc vào Quế.
Nhiều gia đình coi Quế như một thứ “vàng ròng” quý giá, là của cải để dành cho con cháu đời sau. Tuy nhiên, do một số nguyên nhân khác nhau nên diện tích rừng Quế cổ đang bị thu hẹp nhanh chóng. Từ những vấn đề đang đặt ra trong thực tế, để cây Quế thực sự phát huy tác dụng, là cây xóa đói giảm nghèo và làm giàu cho người dân Văn Yên (Yên Bái) một cách bền vững cần những giải pháp mang tính đồng bộ với những giải pháp cụ thể trước mắt cũng như lâu dài. Vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh học từ đó đề xuất những giải pháp phát triển bền vững cho cây Quế ở Huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái”.
Mục đích nghiên cứu Đề tài nghiên cứu nhằm tìm hiểu đặc điểm sinh học, sinh thái và đề xuất giải pháp để phát triển bền vững cho cây Quế tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.3 Mục tiêu của nghiên cứu - Xác định được kiến thức bản địa liên quan đến cây Quế. - Xác định được thực trạng khai thác, sử dụng của cây Quế trên địa bàn nghiên cứu. - Đề xuất được một số giải pháp nhằm phát triển bền vững cây Quế trên địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập n 4 Củng cố lý thuyết đã học, rèn luyện kỹ năng thực hành và nâng cao kiến thức. Biết phương pháp học tập, làm việc và nghiên cứu khoa học trong thực tiễn. Kế thừa số liệu đã được thống kê thông qua cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn ở địa phương mình. Làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đề tài cụ thể.
Học tập và hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu. Biết cách tiếp cận thực tiễn những vấn đề trong sản xuất, kinh doanh rừng, quản lý nguồn tài nguyên rừng hiện nay, nâng cao tính bền vững của hệ sinh thái rừng. Giúp nắm rõ hơn về đặc điểm phân bố và sinh trưởng phát triển của loài cây Quế. Tìm ra phương pháp phát triển bền vững và lâu dài cho cây Quế.
Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở để các nhà nước quản lý, các cấp chính quyền địa phương, cán bộ xã đưa ra các quyết định và định hướng mới về phát triển sản xuất cây trồng, vật nuôi và mở rộng mô hình. Là cơ sở để người dân tham khảo trước khi ra quyết định phát triển, mở rộng sản xuất nhất là trong trồng trồng và phát triển cây Quế. n 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Quế là một loại cây lâm sản ngoài gỗ (LSNG) cho hiệu quả kinh tế cao.
Tuy nhiên, nguồn nguyên liệu Quế hiện đã không còn dồi dào. Nhất là hiện nay, người dân chuyển sang trồng cây keo nhiều hơn cây Quế, do cây keo sớm thu lợi nhuận hơn (chỉ khoảng 4-5 năm là thu hoạch). Vì lợi ích trước mắt, người trồng Quế đã tự thu hẹp diện tích trồng, làm giảm sản lượng sản phẩm. Sự suy giảm năng suất, phẩm chất Quế tại địa phương do những nguyên nhân như sau: Việc trồng, chăm sóc, khai thác Quế tại huyện Văn Yên vẫn còn theo kinh nghiệm truyền thống, có đất là trồng, trồng tùy tiện, không đúng kỹ thuật, chỗ trồng quá dày, không đủ điều kiện ánh sáng cho cây, tạo điều kiện để sâu bệnh hại phát triển; bảo quản Quế sau thu hoạch chưa đúng cách, chủ yếu sấy khô theo phương pháp thủ công; đất trồng manh mún, mang nặng tính tự phát.
Ngoài ra, giá cả thị trường trong thời gian gần đây luôn biến đổi do nhiều nguyên nhân khác nhau và có chiều hướng giảm dần. Ngoài ra, cây Quế trên địa bàn huyện Văn Yên bị bệnh tua mực và các loại bệnh khác như: Bệnh đốm lá, khô đọt, thán thư, sâu khô đọt. gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng và năng suất cây Quế. Cây Quế chủ yếu nhiễm bệnh từ 3 năm tuổi trở lên.
Giống Quế bản địa là một loại Quế có chất lượng tốt, hàm lượng tinh dầu cao đang bị thoái hoá, nên nếu không có chủ chương, chính sách bảo tồn, cải tạo rừng Quế bản địa thì sản lượng, đặc biệt là chất lượng sẽ giảm trong những năm sắp tới. Vì vậy cần phải có biện pháp hỗ trợ và phát triển toàn diện để đem lại năng suất và hiệu quả cho cây Quế trên địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Giá trị của cây Quế đối với kinh tế của huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái Yên Bái là tỉnh có diện tích Quế lớn nhất khu vực miền núi phía Bắc, mỗi năm khai thác gần 5.000 tấn vỏ, chất lượng Quế thuộc hàng tốt nhất Việt Nam. Với diện tích gần 30.000 ha, chủ yếu tập trung ở các huyện: Văn Yên 16.000 ha, trấn Yên 6.000 ha… Quế là cây trồng truyền thống của đồng bào Dao, tày.
Mỗi khi con cái đến tuổi dựng vợ gả chồng, cha mẹ đều trồng một đồi Quế tặng con để làm vốn. Bởi thế các xã vùng cao: Đại Sơn, Viễn Sơn, mỏ Vàng, Châu Quế Hạ, Phong Dụ thượng, Xuân tầm, Tân Hợp (Văn Yên), Quy mông, Kiên Thành, Y Can (Trấn Yên), Sùng Đô, nậm mười, nậm Búng, Sơn Lương (Văn Chấn) bà con trồng Quế với diện tích rất lớn. Cây Quế không những có giá trị kinh tế cao mà còn góp phần bảo vệ thiên nhiên, môi trường sinh thái, giữ đất, giữ nước ở những vùng đồi núi dốc, bảo tồn và phát triển sự đa dạng các nguồn gen quý của cây bản địa, đồng thời góp phần quan trọng giúp nhiều hộ đồng bào dân tộc xóa đói giảm nghèo và vươn lên làm giàu. Nhiều hộ thu hàng trăm triệu đồng mỗi năm từ rừng Quế, hàng ngàn gia đình có cuộc sống ổn định và trở nên giàu có nhờ cây Quế.
So với nhiều cây trồng khác, cây Quế đã mang lại cho người dân một nguồn thu lớn và ổn định.