MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây, nghề nuôi trồng thủy sản ở nước ta đã và đang gặp một số khó khăn. Môi trường ô nhiễm và dịch bệnh ngày càng nghiêm trọng (dịch bệnh trên tôm thẻ chân trắng, tôm hùm và cá biển gây thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng). Nghề nuôi trồng thủy sản phát triển tự phát nên khó giám sát và quản lý. Cộng đồng dân cư ở các vùng nuôi tôm và cá biển đang gặp nhiều khó khăn về đời sống, kinh tế trong hoạt động nuôi trồng thủy sản.
Để góp phần cải thiện và phát triển ổn định nghề nuôi trồng thủy sản, vấn đề đặt ra là cần nghiên cứu phát triển đa dạng hóa đối tượng nuôi và hình thức nuôi nhằm tận dụng hệ thống ao đìa nuôi đang bỏ hoang và đẩy mạnh phát triển nuôi cá lồng trên biển. Bên cạnh, nguồn lợi thủy sản ngày càng suy giảm do các hoạt động khai thác bất hợp lý, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu. Do vậy, nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản làm cơ sở nghiên cứu sản xuất giống phục vụ nuôi thương phẩm các loài cá biển có giá trị kinh tế và bảo vệ nguồn lợi thủy sản là vấn đề cần thiết và cấp bách hiện nay. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Quyết định số 1523/QĐ-BNN-TCTS, 2011) đã định hướng phát triển nuôi cá biển bao gồm nuôi trên lồng bè đơn giản, nuôi lồng bè tập trung qui mô công nghiệp và nuôi trong ao đất nước mặn, nước lợ.
Nuôi đa loài, ưu tiên một số loài có giá trị cao, có thể chế biến xuất khẩu. Mục tiêu phát triển nuôi cá biển nhằm tạo ra số lượng lớn sản phẩm phục vụ xuất khẩu và tiêu thụ nội địa góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế chung của đất nước, xóa đói giảm nghèo, giữ vững an ninh quốc phòng. Đồng thời giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái góp phần phục hồi và tái tạo nguồn lợi hải sản ở các thủy vực biển và ven biển. Nghề nuôi cá biển ở nước ta có những bước phát triển đáng kể.
Nhiều loài cá có giá trị kinh tế đã và đang được nghiên cứu, sản xuất giống như: cá mú (Epinephelus spp), cá giò (Rachycentron canadum), cá hồng bạc (Lutjanus argentimaculatus), cá hồng mỹ (Sciaenops ocellatus), cá chẽm (Lates calcarifer), cá chẽm mõm nhọn (Psammoperca waigiensis), cá chim vây vàng (Trachinotus bloochi),… Cá thiều (Arius thalassinus) là loài phân bố tương đối rộng. Trên thế giới, cá thiều phân bố ở các vùng biển Biển Đỏ, Tây Bắc Ấn Độ Dương, Phi-líp-pin và Vịnh Thái Lan (Nelson, 2006). Ở Việt Nam, cá thiều phân bố hầu hết các vùng biển Vịnh Bắc 2 Bộ, Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Trong đó, cá thiều tập trung nhiều nhất ở vùng biển Tây Nam Bộ (Bộ Thủy sản, 1996).
Đây là loài cá có kích thước lớn nhất trong họ cá úc (Ariidae). Cá thiều có chiều dài lớn nhất đã xác định được là 1.119 mm và khối lượng là 15,49 kg với giá bán hiện nay là 70. Do cá thiều bị khai thác quanh năm và khai thác cá còn nhỏ nên nguồn lợi cá thiều ngày càng giảm. Hiện nay nhu cầu nguyên liệu cá thiều để làm khô ngày càng hiếm.
Tuy nhiên ở Việt Nam cho đến nay, loài này mới được nghiên cứu sơ bộ về đặc điểm hình thái phân loại và phân bố. Do vậy, nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản làm cơ sở khoa học xây dựng quy trình sản xuất giống và bảo vệ nguồn lợi cá thiều là cấp thiết. Để đưa cá thiều trở thành đối tượng nuôi chính và nuôi lồng trên biển cùng với các loài cá biển có giá trị kinh tế khác, cần phải tập trung nghiên cứu nhiều vấn đề. Trong đó nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh sản, tiếp đến nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo là một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, nhằm đáp ứng nhu cầu con giống cho nuôi thương phẩm, góp phần thúc đẩy nghề nuôi cá biển ở Việt Nam phát triển trong tương lai.
Góp phần thực hiện mục tiêu phát triển nuôi cá biển theo định hướng đến năm 2020 của Bộ NN&PTNT. Định hướng sản lượng cá biển nuôi tại Kiên Giang đến năm 2020 là 36.600 tấn so với cả nước là 260. Và nguồn lợi thủy sản ven bờ tỉnh Kiên Giang đang ngày càng suy giảm. Cần tăng cường kiểm soát các phương thức và cường lực khai thác để bảo vệ nguồn lợi thủy sản phát triển bền vững (Mai Viết Văn và Lê Thị Huyền Chân, 2018).
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên, đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học làm cơ sở cho sinh sản nhân tạo và bảo vệ nguồn lợi cá thiều (Arius thalassinus Ruppell, 1837) tại vùng biển Kiên Giang” được thực hiện. Mục tiêu của đề tài Mục tiêu tổng quát Thu được các dẫn liệu ban đầu về đặc điểm sinh học và sinh sản của cá thiều, làm cơ sở khoa học cho công tác nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo cá thiều; góp phần định hướng khai thác hợp lý và bảo vệ nguồn lợi cá thiều ngoài tự nhiên. 3 Mục tiêu cụ thể Luận án cần đạt các mục tiêu cụ thể sau: - Xây dựng dữ liệu về đặc điểm dinh dưỡng, sinh trưởng và sinh sản của cá thiều. - Xây dựng dữ liệu về các thông số quần đàn của cá thiều.
Các nội dung nghiên cứu chính - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng: chiều dài thân, khối lượng thân, mối tương quan giữa chiều dài thân và khối lượng cá, phương trình sinh trưởng Von Bertanlanffy, chỉ số tăng trưởng Φ’ của cá thiều. - Nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng: mô tả ống tiêu hóa, tương quan giữa chiều dài toàn thân và ruột cá (RLG), xác định độ no, chỉ số độ no, chỉ số GaSI, thành phần thức ăn, tần số xuất hiện thức ăn, tính ăn của cá thiều. - Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản: tuổi và kích thước thành thục sinh dục, hệ số thành thục sinh dục, sức sinh sản, đường kính trứng, các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục, và mùa vụ sinh sản của cá thiều. - Nghiên cứu một số thông số quần đàn: Chiều dài tối đa của cá thiều (L∞), hệ số chết tổng (Z), hệ số chết tự nhiên (M), hệ số chết do khai thác (F), hệ số khai thác (E), sự bổ sung quần đàn, và sản lượng trên lượng bổ sung.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Nội dung luận án là cơ sở dữ liệu khoa học quan trọng, là nguồn tài liệu tham khảo tốt cho các nghiên cứu tiếp theo trên cá thiều và một số loài trong họ cá úc Ariidae. Sự thành công của luận án góp phần làm phong phú thêm các công trình nghiên cứu cơ bản về đặc điểm sinh học làm cơ sở cho sinh sản nhân tạo và bảo vệ nguồn lợi cá thiều nói riêng và cá biển ở Việt Nam nói chung. Xây dựng cơ sở dữ liệu về đặc điểm sinh học và sinh sản của cá thiều. Góp phần định hướng khai thác hợp lý và bảo vệ nguồn lợi cá thiều ngoài tự nhiên, làm cơ sở khoa học cho công tác nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo cá thiều.
Điểm mới của công trình Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu về đặc điểm sinh học và thông số quần đàn cá thiều được công bố ở Việt Nam, các nội dung chính gồm: 4 Cung cấp dẫn liệu về đặc điểm sinh học (đặc điểm sinh trưởng, dinh dưỡng và sinh học sinh sản) và một số thông số quần đàn cá thiều một cách có hệ thống. Cung cấp cơ sở khoa học phục vụ hoạt động quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi cá thiều hợp lý; nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu họ cá úc (Ariidae) trên thế giới 1.
Hệ thống phân loại Họ cá úc (Ariidae) gồm 12 giống 120 loài, phân bố ở các vùng nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Họ cá úc là một họ cá da trơn, chủ yếu sinh sống ở biển, với một số loài sinh sống trong các môi trường nước lợ hay nước ngọt. Chúng phân bố trong các khu vực cận nhiệt đới và nhiệt đới (Berg, 1940). Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu khác cho rằng họ cá úc bao gồm 14 giống và 120 loài cá úc biển nhiệt đới và cận nhiệt đới (Nelson, 1976; Rimmer và Merrick, 1982; Reis, 1986a).
Trước đây, họ cá úc (Ariidae) được gộp chung trong bộ phụ Doradoidea, sau đó được chuyển sang bộ phụ Bagroidea (cùng với Austroglanididae, Claroteidae, Schilbeidae, Pangasiidae, Bagridae và Pimelodidae) (Nelson, 2006). Hai giống Gogo và Ancharius đã được chuyển sang họ khác là Anchariidae (Hee và Sparks, 2005). Nhìn chung, các loài này có kích thước lớn, tuổi thọ lớn, tăng trưởng chậm, sức sinh sản thấp và ấp trứng trong miệng cá đực. - Vị trí phân loại: Động vật có xương sống Vertebrata Lớp cá xương Osteichthyes Bộ cá nheo Siluriformes Họ cá úc Ariidae Giống cá úc Arius Loài A.
thalassinus (Rüppell, 1837) - Tên khoa học: Arius thalassinus Rüppell, 1837 - Synonyms: Ariodes aeneus, Arius nasutus, A. serratus, Bagrus carchariorhynchos, B. thalassinus, Netuma thalassina, N. thalassinus, Tachysurus thalassinus - Tên tiếng Anh: Catfish, Giant Cat - Fish, Giant Catfish, Giant Marine – Catfish, Giant Salmon Catfish, Giant Sea Catfish, Giant Seacatfish, Khagga, Marine Catfish, Sea Catfish.
- Tên tiếng Việt: cá thiều, cá úc thường. Đặc điểm hình thái Cá thiều Arius thalassinus có 3 đôi râu, một đôi ở hàm trên và hai đôi ở hàm dưới. Thành phần cấu tạo râu gồm có biểu bì, hạ bì và phần sụn ở giữa hình que (Kapoor và Bhargava, 1967). Cá thiều Arius thalassinus có thân tương đối dài.
Vây đuôi của cá thiều phân thành hai thùy rất sâu, không bằng nhau. Vây lưng thứ nhất có gai cứng, vây lưng thứ hai là vây mỡ tương đối phát triển, vây hậu môn ngắn. Vây ngực lớn hơn và dài hơn vây bụng rất rõ rệt. Màng mang liền với eo mang.
Hàm dưới và mép của cá thiều có râu. Chiều dài đầu cá thiều xấp xỉ bằng chiều cao thân và bằng khoảng 1/4 chiều dài từ mút mõm đến chẽ vây đuôi. Lưng cá màu xám bạc hoặc xám tro, hai bên thân màu sáng hơn và càng về phần bụng càng chuyển dần sang màu trắng bạc. Các vây khác của cá thiều có màu tối hơn.
Một số chỉ tiêu hình thái loài Arius felis: D I, 7; A 19-20; P I, 6-10; V 6. Cá có 2 đôi râu ngắn ở hàm dưới và 1 đôi râu dài gần đầu. Vây ngực và vây lưng không có tia gai riêng biệt. Thân cá dài, có màu xanh lục phía trên và màu bạc phía dưới.
Chiều dài thân tối đa là 495 mm (Perret và cộng sự, 1971).