Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Bí xanh thơm là cây trồng bản địa của huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Đặc điểm quý của quả bí xanh thơm là tất cả thân, lá, hoa, quả đều có mùi thơm. Quả bí khi chế biến vẫn giữ được mùi thơm và có độ dẻo, vị đậm, ngậy béo.
Đặc biệt vỏ bí cứng, dày nên có thể bảo quản được lâu, đặc biệt hữu ích trong những thời điểm rau trái vụ. Ngoài việc dùng như rau xanh, loại quả này còn được dùng làm mứt, nước ép, nước đóng lon, phơi sấy khô để pha nước… đều rất ngon miệng và bổ dưỡng. Thấy giống bí xanh thơm khác hẳn các loại bí thông thường, nhiều người đã lấy giống mang về các nơi khác trồng nhưng đều không thành công vì khi bí ra trái thì mùi không có mùi thơm như trồng ở đất Ba Bể. Tuy nhiên, để có được năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất bí xanh thơm cần chọn lựa được dòng giống tốt phù hợp cao nhất với điều kiện vùng trồng, đồng thời hiểu rõ được đặc điểm nông sinh học của chúng để có những biện pháp kỹ thuật phù hợp áp dụng cho chúng trong sản xuất.
Dòng giống có vai trò rất quan trọng, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng của cây trồng nói chung và bí xanh thơm nói riêng. Năng suất cây trồng tăng lên rõ rệt nếu tuyển chọn được dòng giống có tiềm năng năng suất và chất lượng, phù hợp với điều kiện sinh thái vùng. Nguồn gốc, phân loại, đặc điểm thực vật học của bí xanh thơm 1. Nguồn gốc Bí xanh thơm hoặc bí phấn, là bí xanh có tên khoa học Benincasa hispida, là loài thực vật thuộc họ Bầu bí dạng dây leo, trái ăn được, thường được dùng nấu lên như một loại rau (Watson và Dallwitz, 1992).
Cây bí xanh được cho là có nguồn gốc từ Ấn Độ là khu vực nắng nhiều, nhiệt độ và độ ẩm cao. Bí yêu cầu ánh sáng ngày ngắn. Bí có khả năng chịu hạn khá nhờ hệ rễ phát triển. Tuy nhiên trong mỗi thời kỳ sinh trưởng, phát triển cần tưới tiêu hợp lý, đảm bảo đủ ẩm cho cây sẽ cho năng suất cao, chất lượng tốt.
Thời kỳ cây con đến ra hoa cần yêu cầu độ ẩm đất 65 n 5 - 70%, thời kỳ ra hoa đến đậu quả cần độ ẩm đất cao hơn từ 70 - 80%. Bí chịu úng kém, thời kỳ phát dục ra hoa kết quả gặp độ ẩm lớn sẽ gây vàng lá, rụng hoa, rụng quả, ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất của cây. Bí xanh thơm là cây trồng bản địa của huyện Ba Bể, khác so với giống bí đao có hình dáng thuôn dài, vỏ mỏng thì bí xanh thơm Ba Bể có dáng quả thon nhỏ, vỏ dày và cứng; toàn bộ thân, hoa, lá và quả có mùi thơm đặc trưng. Loại bí này đặc biệt thích hợp trồng trên đất ruộng 1 vụ, đất soi bãi.
Thời gian từ khi trồng đến khi thu hoạch chỉ khoảng 120 ngày, khối lượng trung bình đạt khoảng 1,5 – 3 kg/quả. Khi đến kỳ thu hoạch, bí có vỏ màu xanh phủ phấn trắng, thịt quả đặc, có màu xanh phớt, khi chế biến có độ dẻo và có mùi thơm đặc trưng. Phân loại Bí xanh thơm thuộc: - Bộ (Cucurbitales). Đặc điểm thực vật học - Rễ: Bí xanh thơm có hệ rễ chùm bao phủ bề mặt luống để dễ thu thập hấp thu các chất dinh dưỡng và nước, tuy nhiên khả năng chịu ngập úng kém (Watson và Dallwitz, 1992).
- Thân: Thân của bí thuộc loại thân thảo có đặc tính leo bò. Nếu trồng không giàn để cây bò tự nhiên chiều dài thân lên tới 20m. Thân bí xanh thơm là cơ quan dinh dưỡng quan trọng của cây giữ vài trò vận chuyển các chất hữu cơ từ lá xuống bộ rễ và vận chuyển các chất khoáng, các chất dinh dưỡng từ rễ lên các bộ phận của cây. Các dòng giống tham gia thí nghiệm đều thuộc dạng thân bò.
Trên thân có nhiều lóng, các mẫu giống khác nhau thì có số lượng lóng cũng khác nhau. Chiều dài của lóng quyết định chiều dài của cây. Bí xanh thơm có khả năng phân nhánh ở ngay nách lá. Vị trí bắt đầu phân nhánh thường bắt đầu từ đốt thứ 2 của thân.
Các nhánh trên thân chính được gọi là nhánh cấp 1. Màu sắc, chiều cao, số nhánh cấp 1 n 6 của bí xanh thơm phụ thuộc vào từng giống và điều kiện ngoại cảnh (Watson và Dallwitz, 1992). - Lá: là cơ quan quan trọng không thể thiếu của cây, lá tham gia trực tiếp vào quá trình quang hợp, biến đổi năng lượng ánh sáng thành năng lượng hóa học tích lũy trong chất hữu cơ. Lá bí xanh thơm là loại 2 lá mầm, 2 lá mầm đầu tiên mọc đối xứng nhau qua đỉnh sinh trưởng, hình trứng.
Độ lớn của lá mầm khác nhau giữa các loài trong họ bầu bí. Các chỉ tiêu đường kính thân, độ dài lóng là những yếu tố quan trọng đánh giá tình hình sinh trường của cây. Lá thật mọc cách trên thân chính, có độ lớn tối đa vào thời kì sinh trưởng mạnh, ra hoa rộ. Trên lá và cuống có lớp một lớp lông, lớp lông này có tác dụng bảo vệ và chống thoát hơi nước (Watson và Dallwitz, 1992).
- Hoa: Hoa của các loài trong họ bầu bí tính đực cái thể hiện rất phức tạp. Trong họ bầu bí có 2 kiểu sắp xếp hoa cơ bản đó là hoa đực, hoa cái. Số lượng các loại hoa trên cây là khác nhau, nhiều nhất là hoa đực, sau đó là hoa cái. Hoa đực ra sớm hơn hoa cái và ở vị trí thấp hơn hoa cái trên cùng một cây (Watson và Dallwitz, 1992).
- Quả và hạt: Quả có nhiều hình dạng khác nhau tùy thuộc vào từng loại giống. Hình dạng từ tròn dài, hình bầu dục, hình trụ. Vỏ quả nhẵn nhiều lồng hoặc có sọc, múi… (Watson và Dallwitz, 1992). Điều kiện ngoại cảnh cây bí xanh thơm 1.
Nhiệt độ Bí xanh thơm là cây trồng thuộc họ bầu bí, có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nên cây ưa thích khí hậu ấm áp, phát triển tốt trong điều kiện khô, nắng, nóng, không chịu rét và sương giá. Nhiệt độ thích hợp 250C - 300C, phạm vi tối thích tương đối rộng cho nên có thể gieo trồng ở hầu hết các tháng trong năm trừ những ngày giá rét. Độ ẩm đất thích hợp 75 - 80% (Tạ Thị Cúc và cs. Về ảnh hưởng của nhiệt độ đến nảy mầm và sinh trưởng của một số cây họ bầu bí được nghiên cứu và thể hiện ở bảng 1.
Ảnh hưởng của nhiệt độ đến nảy mầm và sinh trưởng của một số cây họ bầu bí (0C) Tên cây Nhiệt độ nảy mầm Nhiệt độ sinh trưởng >100C 300C Dưa hấu Opt 300C Chịu nhiệt độ cao >12 - 130C 20 - 250C Dưa chuột Opt 25 - 300C 50C thì gặp nguy hiểm >13 -150C 400C thì ngừng sinh trưởng Bí Xanh Opt 25 - 300C 24 - 250C Dưa thơm 30 - 350C 18 - 320C (Nguồn: Tạ Thị Cúc và cs. Ánh sáng Khi trời âm u, ít ánh sáng, lại có mưa phùn thì cây con (2 - 3 lá) dễ bị mắc bệnh thối nhũn, lở cổ rễ. Cây bí xanh thơm cũng phát triển kém trong điều kiện ánh sáng yếu, nhiệt độ cao, đặc biệt giảm khả năng đậu trái và chất lượng quả kém (Tạ Thị Cúc và cs. Độ ẩm Chúng có khả năng chịu hạn nhưng không chịu được ngập úng, cần thoát nước tốt.
Hệ rễ của cây ăn lan rộng, rễ chính dài, phân nhiều nhánh. Bí xanh thơm lại có khối lượng thân lá lớn , thời gian ra hoa và quả kéo dài, năng suất trên đơn vị diện tích cao nên những thời kì sinh trưởng quan trọng cần phải cung cấp đầy đủ nước cho cây. Độ ẩm thích hợp nhất là 70 - 80%. Độ ẩm không thích hợp là 45 - 55%.
Bí xanh thơm yêu cầu nhiều nước trong các thời kỳ như thân lá phát triển mạnh, thời kỳ hình thành hoa cái và thời kỳ quả phát triển (Tạ Thị Cúc và cs. Độ ẩm là yếu tố quan trọng vì thế cần quan sát cũng cấp đầy đủ nước cho đất luôn đủ độ ẩm, không quá khô cằn hay quá ướt làm cây không thể sinh trưởng, héo, úng nước dẫn đến chết cây. Chất dinh dưỡng và độ pH Bí xanh thơm có thể sinh trưởng, phát triển trên nhiều loại đất khác nhau. Tuy nhiên nếu trồng trên đất thịt nhẹ, đất thịt trung bình, đất cát pha, đất phù sa ven sông có pH trung bình, giàu chất dinh dưỡng thì cây sinh trưởng tốt, đạt được năng suất n 8 cao, chất lượng tốt, mẫu mã đẹp.
Yêu cầu của cây bí với NPK là cân đối. Cây sử dụng khoảng 93% đạm, 33% lân và 98 - 99% kali trong suốt mùa vụ trồng. Trong giai đoạn cây con chúng ta cần chú ý bón đạm và lân. Nhìn chung muốn đạt năng suất quả cao thì cần bón cho 1 ha gieo trồng như sau: Phân chuồng (20 - 30 tấn), N nguyên chất (90 - 100 kg), P2O5 (60 - 90 kg), K2O (90 - 180 kg).5 phù hợp cho sinh trưởng và phát triển của bí xanh thơm (Tạ Thị Cúc và cs.
Cơ sở thực tiễn của đề tài Ba Bể là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Kạn. Nhiệt độ trung bình năm giao động từ 21 - 230C, vào mùa đông thường xuất hiện sương muối, ở khu vực khe núi đôi khi có băng giá. Huyện Ba Bể được ban tặng là vùng khuất gió mùa đông bắc, nhưng lại đón gió mùa Tây Nam nên mưa nhiều, lượng mưa trung bình hơn 1.600 mm và có thảm thực vật vô cùng phong phú và đa dạng. Đây cũng chính là ngưỡng nhiệt độ thuận lợi nhất cho cây rau nói chung và cây Bí xanh thơm nói riêng phát triển khoẻ mạnh mang lại năng suất cao.
Do kiến tạo địa chất trải qua hàng triệu năm, từ sự bồi đắp của các con sông, suối đã tạo cho Ba Bể những bồn địa, những thung lũng lòng máng, lòng chảo, đất đai màu mỡ thích hợp với việc trồng lúa, ngô, các loại rau màu, đậu, cây công nghiệp như mía, bông và cây ăn quả (cam, quýt, chuối, hồng). Trước năm 2018, Ba Bể vẫn là một trong những huyện nghèo nhất của tỉnh Bắc Kạn và của cả nước theo Nghị quyết 30a của Chính phủ. Bằng nhiều giải pháp phù hợp, phát huy tiềm năng, thế mạnh của địa phương, chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tranh thủ các nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước và phát huy nội lực trong nhân dân, hết năm 2017, huyện Ba Bể được công nhận thoát nghèo.