MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, chăn nuôi gà nước ta có những bước phát triển không ngừng và ngày càng có vị trí hết sức quan trọng trong cơ cấu kinh tế của ngành nông nghiệp. Chăn nuôi gà có ý nghĩa thiết thực đối với đời sống kinh tế xã hội của nhân dân, góp phần giải quyết công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, tăng thu nhập và cơ hội làm giàu cho nông dân, không chỉ cung cấp một lượng lớn thực phẩm cho nhu cầu trong nước mà còn góp phần thu ngoại tệ đáng kể đối với thu nhập quốc dân. Theo thống kê của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO), Việt Nam là một nước nuôi nhiều gà, đứng hàng thứ 13 thế giới và vị trí hàng đầu khu vực Đông Nam Á.
Hiện nay việc chăn nuôi gà đảm bảo cung cấp trên 80% sản phẩm thịt cho thị trường nội địa và một phần cho xuất khẩu. Tuy nhiên ngành chăn nuôi gia cầm vẫn gặp những khó khăn nhất định, đặc biệt là dịch bệnh xảy ra nhiều, thường xuyên trong đó có bệnh ký sinh trùng. Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, Tạo điều kiện thuận lợi cho các bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh giun kim ở gà nói riêng phát triển, kéo theo là sự phát triển của bệnh do đơn bào H. meleagridis gây ra.
Bệnh do đơn bào H. meleagridis (bệnh đầu đen) ở gà hiện nay đã xuất hiện ở nhiều địa phương, đặc biệt là ở các địa phương có mô hình chăn nuôi gà và gà tây theo lối tập trung công nghiệp. Bệnh gây tác hại đáng kể đối với chăn nuôi gà tại các địa phương và làm giảm hiệu quả kinh tế của người chăn nuôi. Bệnh đầu đen là một bệnh ký sinh trùng nguy hiểm ở gà và gà tây do đơn bào H.
meleagridis gây ra. Bệnh gây ra những biểu hiện bất thường ở da vùng đầu, ban đầu có màu xanh tím, sau đó nhanh chóng trở lên thâm đen nên có tên là bệnh đầu đen. Bệnh có những bệnh tích đặc trưng như: viêm hoại tử tạo mủ ở ruột thừa và gan, thể trạng xấu, da vùng đầu và mào tích thâm đen. Gà bệnh chết rải rác và thường chết về ban đêm, mức độ chết không ồ ạt nhưng hiện tượng chết kéo dài, gây cho người chăn nuôi cảm giác bệnh không nguy hiểm lắm.
Thực chất cuối cùng gà chết đến 85 - 95%. n 2 Mặc dù vậy, ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu nào về bệnh đầu đen ở gà, vì vậy cũng chưa có quy trình phòng chống bệnh. Mặt khác, tại một số tỉnh chăn nuôi nhiều gà như tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang,. trong 3 năm gần đây liên tục xuất hiện bệnh đầu đen trên đàn gà nuôi thả vườn, tỷ lệ chết cao, gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi.
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh, nâng cao năng suất chăn nuôi gà, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen (Histomoniasis) tại Bắc Giang và thử nghiệm phác đồ điều trị”. Mục đích nghiên cứu - Nghiên cứu tình hình nhiễm đơn bào H. meleagridis do gây nhiễm trên gà nuôi tại Bắc Giang. - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh đầu đen do đơn bào H.
meleagridis gây ra ở gà. - Thử nghiệm phác đồ điều trị, từ đó khuyến cáo người dân sử dụng điều trị đạt kết quả cao. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh đầu đen trên gà, có một số đóng góp mới cho khoa học.
Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để đề ra biện pháp phòng, trị bệnh có hiệu quả, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do bệnh đầu đen gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi gà phát triển. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Đơn bào Hisstomonas meleagridis và bệnh đầu đen Bệnh đầu đen (Histomoniasis) là một bệnh của các loài gia cầm, đặc biệt là gà và gà tây. Bệnh do một loại ký sinh trùng đơn bào có tên khoa học là H.
meleagridis gây ra. meleagridis ký sinh chủ yếu trong lòng manh tràng và nhu mô gan, gây hoại tử, xuất huyết niêm mạc manh tràng, rối loạn chức năng gan và gây chết gia cầm với tỷ lệ cao, ảnh hưởng tới thu nhập của người chăn nuôi. Đặc điểm của đơn bào H. meleagridis ký sinh ở gia cầm 2.
Vị trí của đơn bào H. meleagridis trong hệ thống phân loại động vật nguyên sinh. Theo Van der Heijden H. (2009) [32], vị trí của H.
meleagridis trong hệ thống phân loại nguyên sinh động vật như sau: Sinh vật: Eukaryota Giới: Excavata Ngành: Metamonada Lớp: Parabasalia Bộ: Trichomonadida Họ: Monocercomonadidae Giống: H. meleagridis Loài: Histomonas meleagridis Tuy nhiên, những năm sau đó việc phân loại H. meleagridis đã liên tục thay đổi. Gần đây, căn cứ vào kết quả phân tích trình tự gen, Cepicka và cs (2010) [7], đã cho biết vị trí phân loại của H.
meleagridis như sau: Bảng phân loại Giới: Protozoen Ngành: Parabasalia Lớp: Tritrichomonadea Bộ: Tritrichomonadida Họ: Dientamoebidae Giống: H. meleagridis Loài: Histomonas meleagridis n 4 2. Hình thái học loài H. meleagridis Khi nghiên cứu về bệnh đầu đen, Smith (1895) [27] nhận thấy, ở gà tây mắc bệnh thì gan và manh tràng là 2 cơ quan bị tổn thương nặng nề nhất.
Lấy chất chứa trong manh tràng gà bệnh soi tươi, tác giả đã tìm thấy tác nhân gây bệnh là một sinh vật đơn bào (Amoeba meleagridis) có hình tròn hoặc ovan, đường kính 8 - 14 µm. Trong mô gan được cố định và nhuộm màu, Smith nhận thấy đơn bào có dạng hình ovan, đường kính dao động từ 6 - 10 µm, ở giữa có nhiều cấu trúc nhỏ tập trung lại thành thể nhân. Tác nhân gây bệnh có tên là H. Hình thái của H.
meleagridis ở từng giai đoạn phát triển khác nhau: Ở giai đoạn kí sinh tại khu vực ngoại vi của các tổn thương ban đầu được gọi là giai đoạn xâm lấn. Trong giai đoạn này chúng di động kiểu amip và hình thành một chân giả, chiều dài amip lên tới 30 µm. Trong các mô cố định, quan sát được đường kính dao động từ 8 - 17 µm. Nguyên sinh chất trong giai đoạn này chứa các hạt không bào và một thể nhân.
Tiếp đến là giai đoạn sinh dưỡng, H. meleagridis tồn tại dưới dạng có tế bào chất mà không có thể vùi và một lượng nhỏ chất lưới hoặc dạng hạt phân phối xung quanh thể nhân. Ở giai đoạn này, chúng có kích thước lớn hơn, đường kính từ 12 - 21 µm. Một giai đoạn tồn tại khác của H.
meleagridis đã được Tyzzer mô tả và gọi với cái tên là giai đoạn kháng, kích thước nhỏ hơn, đường kính từ 5 - 22 µm. Khi quan sát dưới kính hiển vi, thấy H. meleagridis tồn tại lưỡng hình (dạng amip và có roi): Trong mô (giai đoạn xâm lấn) H. meleagridis có dạng amip.
Trong lòng manh tràng H. meleagridis ở dạng có roi, đường kính từ 6 - 20 µm, thường có một roi, hiếm khi có 2 roi, chiều dài roi từ 6 - 11 µm. Tyzzer (1934) [31], đã nghiên cứu sự chuyển động của H. meleagridis ở 42oC và mô tả, roi của đơn bào này nhịp nhàng rung động, giúp nó có thể xoay ngược chiều kim đồng hồ.
n 5 Nghiên cứu về cấu tạo của đơn bào H. meleagridis, các nhà khoa học cho biết, theo thứ tự từ ngoài vào trong, đơn bào H. meleagridis cấu tạo gồm 3 phần: màng, tế bào chất và nhân: - Màng đơn bào H. meleagridis là một màng đơn - Tế bào chất chứa: ß-glycogen, ribosome, ARN nhưng không có lưới nội sinh chất.
Ngoài ra tế bào chất của đơn bào H. meleagridis có bộ máy golgi, một số không bào và vi ống nằm theo trục dọc của tế bào để nâng đỡ và định vị các bào quan trong tế bào chất. mãi tới năm 1975 các nhà khoa học đã phát hiện thêm trong tế bào chất của đơn bào H. meleagridis còn có các hydrogenosome thay thế ti thể sản xuất năng lượng trong điều kiện yếm khí.
meleagridis có nhân hình trứng hoặc hình chữ U, bao gồm một nucleolus, màng nhân là một màng kép. Lê Văn Năm [4] khi nghiên cứu bệnh đầu đen ở Việt Nam, đã báo cáo rằng, H. meleagridis là một loại đơn bào đa hình thái: hình trùng roi (4 roi), hình amip và hình lưới hợp bào, tùy thuộc vào giai đoạn phát triển để có hình dạng tương ứng phù hợp,… H. meleagridis với hình amip có kích thước 8 - 30 µm, với hình roi thì có kích thước từ 20 - 30 µm, bé nhất khi H.
meleagridis ở thể lưới : 5 - 10 µm, nhưng ở thể hợp bào (bao gồm nhiều H. meleagridis thể hình lưới) thì chúng có kích thước cực đại đến 60 -80 µm. Trong các dạng hình thái thì hình roi là phổ biến nhất và dễ nhận biết nhất bởi chúng có 2 nhân (1 nhân to và 1 nhân nhỏ), từ nhân to mọc ra 4 cái roi, H. meleagridis chuyển vận động theo hai phương thức xoắn hoặc theo kiểu làn sóng (impuls).
Phương thức truyền lây của H. meleagridis sinh sản bằng hình thức phân đôi (trực phân). meleagridis lây truyền bằng 2 con đường: lây nhiễm trực tiếp và lây nhiễm gián tiếp. * Truyền bệnh trực tiếp Trong báo cáo ban đầu của Smith (1895) [27], sự lây truyền trực tiếp bệnh đầu đen đã được chứng minh qua thí nghiệm cho gà khỏe uống H.
Đồng thời ông cũng thí nghiệm cho gà tây khỏe ăn phân và các cơ quan bị tổn thương của gà bệnh, sau đó theo dõi và nhận thấy gà tây n 6 khỏe cũng bị nhiễm bệnh. Curtice (1907) [8], cũng làm các thí nghiệm gây nhiễm H. meleagridis cho gà khỏe theo cách tương tự. Tuy nhiên, các tác giả đều kết luận có thể gây nhiễm bệnh đầu đen ở gà và gà tây qua đường ăn, uống nhưng tỷ lệ nhiễm không cao.
Tyzzer và Collier (1925) [29] đã lấy gan của gà bị bệnh nặng nghiền nhỏ cho gà và vịt được 4, 6, 16 ngày tuổi ăn. Tiếp tục gây nhiễm bệnh đầu đen trên một số gà 5 ngày tuổi bằng cách cho ăn gan nhiễm bệnh. Sau hàng loạt thí nghiệm, Tyzzer (1926) [30] đã kết luận rằng H. meleagridis có thể được truyền đến một mức độ nào đó trong tự nhiên bằng cách ăn, uống các cơ quan của gà bệnh có chứa mầm bệnh.
(1960) [23] đã gây bệnh bằng đường miệng cho 109 gà ở 6 - 9 tuần tuổi, mỗi gà nuốt 10.