Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu sinh lý tử cung, vòi tử cung, sinh lý bệnh và tổn thương giải phẫu bệnh thai ngoài tử cung 1. Cấu tạo tử cung Tử cung là một cơ quan chứa thai và đẩy thai ra ngoài lúc đẻ. Tử cung nằm trong chậu hông ngay trên đường giữa phía sau bàng quang, trước trực tràng, dưới các quai ruột non và kết tràng xích-ma và trên âm đạo.
Kích thước trung bình là 2cm bề dầy (trước sau), 4cm chỗ rộng nhất và 6cm bề cao. Tử cung hình nón cụt hơi dẹt trước sau mà đỉnh quay xuống dưới, có một thân, một cổ và phần thắt lại giữa thân và cổ gọi là eo [29].1: Hình ảnh tử cung bình thường Nguồn: The McGraw-Hill Companies.Williams Obstetrics, 23rd, Chapter 10. Ectopic Pregnancy [57] 4 Thân tử cung có 2 mặt: mặt bàng quang và mặt ruột, có 2 bờ bên phải và trái dầy và tròn có dây chằng rộng bám dọc bờ bên có mạch tử cung và ống cạnh buồng trứng, đáy tử cung là bờ trên của thân tử cung, 2 góc bên của thân tử cung liên tiếp với eo vòi tử cung là nơi bám của dây chằng tròn và dây chằng riêng buồng trứng. Cổ tử cung có âm đạo bám vào chia cổ tử cung thành hai phần: phần trên âm đạo và phần âm đạo.
Các thành âm đạo quây xung quanh mõm cá mè tạo thành vòm âm đạo. Vòm âm đạo là một túi bịt vòng gồm bốn đoạn: túi bịt trước, túi bịt sau và hai túi bịt bên. Túi bịt sau sâu hơn cả và liên quan ở sau với túi cùng trực tràng- tử cung. Do đó, có thể thò ngón tay vào âm đạo tới túi bịt sau để thăm khám tình trạng của túi cùng trực tràng- tử cung (như trường hợp có mủ hoặc máu đọng ở túi cùng, bệnh nhân sẽ rất đau).
Buồng tử cung: Tử cung được đục rỗng thành một khoang dẹt theo chiều trước sau và thắt lại ở chỗ eo tử cung chia khoang tử cung thành 2 buồng, buồng nhỏ ở dưới là ống tử cung buồng to trong tử cung có hình tam giác, 2 góc bên thông với vòi tử cung,góc dưới thông với ống cổ tử cung. Hai thành trước và sau áp sát vào nhau. chiều sâu từ lỗ tử cung tới đáy buồng tử cung khoảng 3cm. Tử cung được cấu tạo từ ngoài vào trong gồm: - Lớp thanh mạc hay lớp ngoài tử cung.
Lớp này là phúc mạc bọc TC dưới là tấm dưới thanh mạc. - Lớp cơ hay khác nhau ở thân và cổ. + Ở phần thân tử cung có 3 tầng cơ. Tầng ngoài gồm các thớ cơ dọc và một ít cơ vòng.
Tầng giữa rất dầy gọi là lớp cơ rối gồm các thớ cơ đan chéo nhau chằng chịt quấn lấy các mạch máu gọi là tầng mạch. Chính nhờ tầng 5 giữa cơ này mà máu được cầm lại sau khi sinh đẻ. Tầng trong chủ yếu gồm các thớ cơ vòng. + Ở phần cổ tử cung, cơ mỏng hơn nhiều và không có tầng cơ rối.
Chỉ có 1 tầng cơ vòng kẹp giữa 2 tầng cơ dọc. - Lớp niêm mạc hay lớp trong tử cung mỏng mảnh và dính chặt vào lớp cơ. Niêm mạc dầy mỏng theo chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng và khi bong gây hiện tượng kinh nguyệt. Mạch và thần kinh: Tử cung nhận máu từ động mạch tử cung là một nhánh của động mạch chậu trong.
Trên đường đi, động mạch cho các nhánh bên cho niệu quản, bàng quang, âm đạo, cổ và thân tử cung. Động mạch tận cùng ở góc bên thân tử cung chia 2 nhánh cùng là nhánh buồng trứng và nhánh buồng trứng, 2 nhánh này nối 2 nhánh tương ứng của động mạch buồng trứng.Tĩnh mạch tử cung đổ vào các đám rối tĩnh mạch dầy đặc ở bờ bên tử cung. Các bạch mạch ở cổ và thân tử cung đổ vào thân chung đổ vào các hạch bạch huyết các động mạch chậu hoặc động mạch chủ bụng. Thần kinh tử cung được chi phối bởi đám rối thần kinh tử cung âm đạo tách ra từ đám rối thần kinh hạ vị dưới đi trong dây chằng tử cung - cùng để tới tử cung và chỗ eo tử cung [29].
Cấu tạo vòi tử cung - Là ống được nối từ buồng trứng tới tử cung (TC), đầu mở vào ổ bụng, một đầu thông với buồng TC. Có hai VTC bắt đầu từ mỗi bên sừng TC kéo dài tới sát thành chậu hông, mở thông với ổ bụng ở sát bề mặt của buồng trứng. VTC nằm giữa hai lá của dây chằng rộng và được treo vào phần còn lại của dây chằng rộng bởi mạc treo VTC. Người trưởng thành, VTC dài 10- 12 cm, đầu nhỏ ở sát sừng TC rồi to dần về phía tận cùng giống như chiếc kèn trompette.
- Vòi tử cung gồm 4 đoạn: đoạn kẽ, đoạn eo, đoạn bóng và đoạn loa. 6 + Ðoạn kẽ: nằm trong thành TC nên còn gọi là đoạn thành, dài 1 cm, đầu trong là miệng lỗ TC - VTC và đầu ngoài tiếp nối với đoạn eo. Ðây là đoạn có lòng ống hẹp nhất, đường kính 0,1 cm. +Ðoạn eo: tiếp theo đoạn kẽ chạy ngang ra ngoài, dài 3 - 4 cm, đây là vị trí cao nhất của VTC, lòng ống hẹp, đường kính 0,4 cm, lớp cơ dày, do đó khi thăm khám có cảm giác đoạn eo tròn và chắc.
Tại đây những cơn co nhịp nhàng của lớp cơ có xu hướng lan toả về phía TC. Tuy vậy sự vận chuyển qua eo VTC lại theo 2 chiều ngược nhau: tinh trùng đi ngược về phía đoạn bóng trong khi noãn sau khi thụ tinh đi xuôi về buồng TC. Do lòng ống hẹp, nằm gần thành TC và lớp cơ dày nên đoạn eo khó giãn nở, vì vậy khi trứng làm tổ tại đoạn eo thì VTC sẽ bị vỡ sớm. + Ðoạn bóng: tiếp nối giữa đoạn eo và đoạn phễu hay đoạn loa VTC, đi từ dưới lên trên dọc theo bờ trước của buồng trứng, dài 7 cm, phình to, lòng ống rộng, đường kính 0,8 - 1 2 cm.
Niêm mạc rất dày, đội biểu mô lên tạo thành những nếp gấp lồi lõm. Ðoạn bóng được ví như một cái buồng để tinh trùng và noãn gặp nhau, tạo nên hiện tượng thụ tinh. + Ðoạn loa: tiếp nối đoạn bóng, hình phễu, mở vào khoang bụng, có khoảng 10 - 12 tua, mỗi tua dài 1 -1,5 cm. Tua dài nhất là tua Richard dính vào dây chằng VTC - buồng trứng, có tác dụng hướng noãn vào VTC.
Vòi tử cung gồm 4 lớp: ngoài cùng là lớp thanh mạc, lớp liên kết có mạch và thần kinh, lớp cơ và lớp niêm mạc. Khi bổ đôi VTC thấy có nhiều lớp niêm mạc chạy song song với trục VTC, nhất là ở đoạn bóng dẫn ra các tua vòi VTC. Mạch- thần kinh: Động mạch VTC được tách ra từ 2 động mạch buồng trứng, động mạch TC, hai nhánh VTC của 2 động mạch này nối tiếp với nhau ở mạc treo VTC. Tĩnh mạch đi kèm theo động mạch của buồng trứng.
Bạch 7 mạch chảy vào hệ bạch mạch của buồng trứng. Thần kinh chi phối tách ra từ đám rối buồng trứng, nằm ở xung quanh động mạch buồng trứng. Cấu trúc mô học VTC: thành VTC gồm 3 tầng: tầng niêm mạc, tầng cơ và tầng vỏ ngoài [29] + Tầng niêm mạc: trong thời kỳ hoạt động sinh dục, biểu mô gồm 4 loại tế bào: tế bào có lông, tế bào không có lông, tế bào trung gian và tế bào đáy. Tế bào không có lông là những tế bào chế tiết có 2 tác dụng nuôi dưỡng trứng, nuôi dưỡng tinh trùng và góp phần vào dòng chảy vận chuyển trứng thụ tinh về buồng TC.
Lớp đệm ngăn cách biểu mô bởi màng đáy có chỗ lồi đội biểu mô lên tạo thành những nếp gấp của niêm mạc VTC, lớp đệm là một mô liên kết có nhiều mạch máu, mạch bạch huyết và các tế bào hình thoi giống như những nguyên bào sợi, trong trường hợp chửa VTC, các tế bào hình thoi có thể biệt hoá thành tế bào màng rụng. + Tầng cơ: gồm 2 lớp cơ trơn, lớp trong các sợi cơ xếp theo hướng vòng, lớp ngoài các sợi cơ xếp theo hướng dọc. ở sừng TC, tầng cơ VTC liên tiếp với tầng cơ TC. + Tầng vỏ ngoài: là một mô liên kết chứa mạch, dây thần kinh từ dây chằng rộng tới và được phủ ngoài bởi màng bụng [29].
Sinh lý bệnh của thai ngoài tử cung Cơ chế gây thai ngoài tử cung ở phụ nữ chưa được biết rõ ràng, nguyên nhân nào làm cản trở sự di chuyển trứng đã thụ tinh vào buồng tử cung được xem là thai ngoài nhưng có thể bất thường về vòi tử cung, sự hoạt động của nhu động VTC hoặc rối loạn chức năng là các yếu tố thường gặp nhất [83]. Sau khi phóng tinh, tinh trùng qua TC đến VTC nhờ 2 cơ chế: (1) tinh trùng tự di chuyển; (2) co bóp của cơ TC và VTC dưới tác dụng của prostaglandin. 8 - Mỗi lần giao hợp có khoảng nửa tỷ tinh trùng nhưng chỉ có khoảng vài ngàn tinh trùng di chuyển đến được VTC. - Sau khi phóng noãn, noãn được giải phóng rơi vào VTC.Nhờ những tế bào lông rung ở niêm mạc VTC mà noãn được đẩy dần về phía tử cung thời gian trứng tồn tại 24-48 giờ.
- Sự thụ tinh thường xảy ra ở 1/3 ngoài của VTC, thường chỉ có 1 tinh trùng xâm nhập vào trong noãn. - Sau hiện tượng thụ tinh, trứng phải mất 3 - 4 ngày để di chuyển vào buồng TC. Trứng di chuyển vào buồng TC nhờ 3 cơ chế: (l) dịch VTC; (2) hoạt động của tế bào có lông của niêm mạc VTC; (3) tác dụng giãn VTC ở đoạn sát với TC của progesteron. - Trong quá trình di chuyển, trứng được nuôi dưỡng bằng dịch VTC và thực hiện nhiều giai đoạn của quá trình phân chia, khi tới TC, trứng đã phân chia và được gọi là phôi bào với khoảng 100 tế bào.
Vì một lý do nào đó, trứng thụ tinh không di chuyển vào buồng TC, trứng có thể phát triển tại VTC hoặc bị đẩy ngược trở lại vào trong ổ bụng gây nên TNTC [57], [64]. Giải phẫu bệnh của thai ngoài tử cung Về đại thể: khi chưa vỡ, khối chửa dài khoảng 5- 6 cm, chiều ngang khoảng 2 - 3 cm, màu tím. Nếu cắt theo trung tâm chiều dọc VTC có thể thấy hốc ối, bào thai, rau lẫn máu cục có chân bám ở thành VTC. Về vi thể: sự xung huyết toàn bộ VTC làm biến đổi màng đệm, đặc biệt ở quanh những mạch máu và trở thành thoái hóa kính.
Lớp cơ tăng sinh phù nề, xoắn vặn, cuối cùng là chia rẽ, tan rã và biến mất. Lớp thanh mạc tăng sinh trung biểu mô làm cho thành VTC dày lên và ngấm đầy tơ huyết.