ĐẶT VẤN ĐỀ Đại dịch HIV/AIDS là một căn bệnh toàn cầu. Bệnh ảnh hƣởng trầm trọng đến tính mạng con ngƣời, đời sống văn hóa, kinh tế xã hội, an ninh của mọi quốc gia. Triệu chứng lâm sàng của bệnh rất phong phú, đa dạng. Các cận lâm sàng thƣờng cho kết quả âm tính giả khi ở thời kì cửa sổ.
Hiện tại chƣa có một phƣơng pháp điều trị đặc hiệu nào có thể chữa khỏi bệnh cũng nhƣ việc phòng ngừa lây lan trong cộng đồng rất phức tạp chƣa đạt kết quả mong muốn [29]. Theo báo cáo cập nhật HIV/AIDS toàn cầu vào năm 2011 do Chƣơng trình phối hợp của Liên hợp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS) công bố ngày 20/11/2012, thì trong năm 2011 đã có 34 triệu ngƣời nhiễm HIV trên thế giới, trong đó có 2,5 triệu ngƣời mới nhiễm HIV và 1,7 triệu ngƣời đã tử vong do AIDS. Trong 34 triệu ngƣời nhiễm HIV/AIDS đang còn sống có khoảng 17 triệu ngƣời không biết về tình trạng nhiễm vi rút này của mình. Điều này hạn chế khả năng của họ tiếp cận đƣợc các dịch vụ dự phòng và chăm sóc, và do đó làm tăng khả năng lây truyền HIV từ họ ra cộng đồng [7], [29].
Ở Việt Nam, theo báo cáo của Bộ Y tế về tình hình nhiễm HIV/AIDS tính đến 30/11/2013 nhƣ sau: tổng số ngƣời nhiễm HIV còn sống là 216.533 bệnh nhân AIDS và 68.977 ngƣời tử vong vì AIDS. Phân bố ngƣời nhiễm HIV theo giới: phân bố ngƣời HIV phát hiện trong năm 2013 ở nam giới chiếm 67,5%, nữ giới chiếm 32,5%. Ƣớc tính có khoảng 248.500 ngƣời nhiễm HIV tại Việt Nam, tƣơng đƣơng với tỷ lệ hiện nhiễm 0.28% trong năm 2011 (ƣớc tính trung bình), dự báo số lƣợng ngƣời nhiễm HIV tại Việt Nam sẽ tăng lên 263. 2 Số trẻ em dƣới 15 tuổi nhiễm HIV chiếm 5.200 trƣờng hợp nhiễm HIV vào năm 2011 và có khả năng tăng lên 6.
Từ những thống kê trên, HIV/AIDS thật sự là vấn đề rất quan trọng ở thế giới nói chung và nƣớc ta nói riêng. Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị nhiễm HIV/AIDS ở trẻ em tại Khoa Khám bệnh Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ năm 2014-2015’’. Mục tiêu nghiên cứu 1. Xác định đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng nhiễm HIV/AIDS ở trẻ em tại Khoa Khám bệnh Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ từ tháng 7/2014 đến 4/2015.
Nhận xét kết quả điều trị nhiễm HIV/AIDS ở trẻ em tại Khoa Khám bệnh Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ từ tháng 7/2014 đến 4/2015. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cƣơng HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh (Human Immunodeficiency Virus) chỉ loại vi rút gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở ngƣời. Khi xâm nhập vào cơ thể HIV sẽ phá hủy dần hệ thống miễn dịch làm cho cơ thể mất khả năng chống lại bệnh tật [7], [9].
AIDS là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh (Acquered Immuno Deficiency Syndrome) có nghĩa là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, dùng để chỉ giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV, ở giai đoạn này hệ thống miễn dịch của cơ thể đã suy yếu nên ngƣời nhiễm HIV dễ dàng mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội (nhƣ viêm phổi, lao, viêm da, lở loét toàn thân…) hoặc ung thƣ, suy kiệt…. Những bệnh này nặng dần lên và có thể gây tử vong cho bệnh nhân [7], [9]. Ngƣời ta đã phân lập đƣợc HIV từ máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo, nƣớc bọt, nƣớc mắt, sữa mẹ, nƣớc tiểu và các dịch khác của cơ thể. Mặc dù có sự phân bố rộng lớn của HIV trong cơ thể nhƣ vậy, nhƣng nhiều nghiên cứu dịch tễ học cho thấy rằng chỉ có máu, dịch sinh dục và sữa mẹ đóng vai trò quan trọng việc làm lây truyền HIV [7], [9].2 Đặc điểm lâm sàng ở trẻ nhiễm HIV/AIDS 1.1 Một số triệu chứng lâm sàng thƣờng gặp - Sốt kéo dài.
- Tiêu chảy kéo dài. - Ho và khó thở. - Còi cọc và trậm phát triển thể chất. - Tổn thƣơng da và niêm mạc.
- Gan lách to. - Bệnh lý hệ thần kinh [2], [8].2 Phân loại giai đoạn lâm sàng Trẻ nhiễm HIV đƣợc phân loại vào 1 trong 4 giai đoạn lâm sàng tùy thuộc vào triệu chứng và bệnh có liên quan đến HIV nặng nhất mà trẻ từng mắc [2], [8]. Giai đoạn lâm sàng 1: không triệu chứng - Không có triệu chứng. - Hạch to toàn thân dai dẳng.
Giai đoạn lâm sàng 2: các triệu chứng nhẹ - Gan lách to dai dẳng không xác định đƣợc nguyên nhân. - Phát ban sẩn ngứa. - Nhiễm nấm móng. - Viêm khóe miệng.
- Nhiễm virus mụn cơm lan tỏa nhƣ HPV (Human Papiloma Virus). - U mềm lây lan lỏa. - Loét miệng tái diễn. - Sƣng tuyến mang tai dai dẳng không xác định đƣợc nguyên nhân.
- Nhiễm trùng đƣờng hô hấp trên mãn tính hoặc tái diễn (viêm tai giữa, chảy mủ tai, viêm xoang hoặc viêm amydal). Giai đoạn lâm sàng 3: các triệu chứng tiến triển - Suy dinh dƣỡng hoặc gầy sút mức độ vừa phải không xác định đƣợc nguyên nhân, không đáp ứng với điều trị thông thƣờng. 5 - Tiêu chảy dai dẳng (trên 14 ngày) không xác định đƣợc nguyên nhân. - Sốt dai dẳng không xác định đƣợc nguyên nhân (sốt trên 37,5o C liên tục hoặc ngắt quãng, kéo dài hơn 1 tháng).
- Nấm Candida miệng dai dẳng (sau 6-8 tuần tuổi) cấp. - Bạch sản dạng lông ở miệng. - Viêm loét, hoại tử lợi hoặc tổ chức quanh cuống răng (nha chu). - Viêm phổi vi khuẩn nặng tái diễn.
- Viêm phổi kẽ thâm nhiễm lympho bào có triệu chứng. - Bệnh phổi mạn tính liên quan đến HIV, bao gồm cả giãn phế quản. Giai đoạn lâm sàng 4: các triệu chứng nặng - Suy kiệt, gầy mòn hoặc suy dinh dƣỡng nặng không xác định đƣợc nguyên nhân, không đáp ứng với điều trị thông thƣờng. - Viêm phổi do Pneumocystis Pneumoniae.
- Nhiễm trùng nặng tái diễn do vi khuẩn (tràn mủ nàng phổi, viêm cơ mủ, nhiễm trùng xƣơng khớp, trừ viêm phổi). - Nhiễm Herpes simplex mạn tính (herpes môi miệng hoặc da kéo dài hơn một tháng hoặc herpes nội tạng bất cứ nơi nào). - Nhiễm nấm Candida thực quản (hoặc Candida khí quản, phế quản hoặc phổi). - Lao ngoài phổi (trừ lao hạch).
6 - Nhiễm Cytomegalo Virus: viêm võng mạc hoặc nhiễm Cytomegalo Virus ở cơ quan khác, xuất hiện khi trẻ lớn hơn 1 tháng tuổi. - Bệnh do Toxoplasma ở hệ thần kinh trung ƣơng (sau 1 tháng tuổi). - Nhiễm nấm Cryptococcus ngoài phổi (bao gồm cả viêm màng não). - Bệnh lý não do HIV.
- Nhiễm nấm lan tỏa (nấm lƣu hành tại địa phƣơng nhƣ Penicilium, Histoplasma). - Nhiễm Mycobacteria không phải lao, lan tỏa. - Bệnh do Cryptosporidium mạn tính (có tiêu chảy). - Bệnh do Isospora mạn tính.
- U lympho ở não hoặc u luypho không Hodgkin tế bào B. - Bệnh lý não chất trắng đa ổ tiến triển. - Bệnh lý thận hoặc bệnh lý cơ tim có triệu chứng, liên quan đến HIV [2], [8].3 Phân loại giai đoạn miễn dịch Phân loại giai đoạn miễn dịch của trẻ nhiễm HIV thông qua đếm số lƣợng hoặc tính tỉ lệ phần trăm tế bào CD4 (trẻ em dƣới 5 tuổi đánh giá bằng tỉ lệ phần trăm). Trẻ đƣợc chẩn đoán giai đoạn miễn dịch dựa vào tỉ lệ phần trăm hoặc số lƣợng tế bào CD4 của trẻ [2], [8], [9], [16].1 Phân loại giai đoạn miễn dịch ở trẻ nhiễm HIV/AIDS.
Suy giảm miễn dịch Tỉ lệ % tế bào CD4 (hoặc số lƣợng tế bào CD4/mm3) liên quan đến HIV ≤11 tháng 12-35 tháng 36-59 tháng ≥ 5 tuổi Không suy giảm >35% >30% >25% >500 tế bào Suy giảm nhẹ 30-35 % 25-30 % 20-25 % 350-499 tế bào Suy giảm tiến triển 25-29 % 20-24 % 15-19 % 200-349 tế bào Suy giảm nặng <25 % <20 % <15 % <200 tế bào 7 Nếu không làm đƣợc xét nghiệm tế bào CD4, đối với trẻ nhiễm HIV từ giai đoạn lâm sàng 2 trở lên, có thể đánh giá tình trạng miễn dịch nặng dựa vào tổng số tế bào lympho nhƣng không sử dụng tổng số tế bào lympho để theo dõi điều trị ARV [2], [8], [9], [15].2 Chẩn đoán suy giảm miễn dịch nặng theo tổng số tế bào lympho Giai đoạn suy Tổng số tế bào lympho theo lứa tuổi của trẻ/ mm3 giảm miễn <11 tháng 12-35 tháng 36-59 tháng dịch nặng liên ≥5 tuổi tuổi tuổi tuổi quan đến HIV Tổng số tế bào <4.4 Chẩn đoán nhiễm HIV ở trẻ em Chẩn đoán xác định nhiễm HIV ở trẻ dƣới 18 tháng tuổi, bao gồm trẻ phơi nhiễm (trẻ sinh ra từ ngƣời mẹ bị nhiễm HIV) và trẻ có biểu hiện nghi ngờ nhiễm HIV, bằng xét nghiệm PCR để phát hiện DNA hoặc RNA của virus. Thực hiện xét nghiệm chẩn đoán theo quy trình chẩn đoán nhiễm HIV cho trẻ dƣới 18 tháng tuổi của Bộ Y tế ban hành [2], [5], [8]. Chẩn đoán xác định nhiễm HIV cho trẻ phơi nhiễm dƣới 9 tháng tuổi: • Chỉ định xét nghiệm vi rút khi trẻ đƣợc 4-6 tuần tuổi, hoặc ngay sau lứa tuổi này càng sớm càng tốt. • Nếu kết quả xét nghiệm PCR lần 1 dƣơng tính, cần làm ngay xét nghiệm PCR lần hai để khẳng định chẩn đoán nhiễm HIV, đồng thời đánh giá tình trạng lâm sàng và chuẩn bị sẵn sàng điều trị bằng ARV.
• Nếu kết quả xét nghiệm PCR lần 1 âm tính, hoặc xét nghiệm PCR để khẳng định chẩn đoán (lần 2) có kết quả âm tính, cần tiếp tục theo dõi và làm 8 xét nghiệm phát hiện kháng thể kháng HIV khi trẻ đủ 18 tháng tuổi để khẳng định chẩn đoán. • Nếu kết quả xét nghiệm PCR lần 1 âm tính nhƣng trẻ đang bú mẹ (hoặc thôi bú mẹ trƣớc khi làm xét nghiệm chƣa đủ 6 tuần) nên làm lại xét nghiệm PCR sau khi trẻ thôi bú mẹ hoàn toàn trên 6 tuần. • Trong quá trình theo dõi, nếu trẻ có dấu hiệu hoặc triệu chứng nghi ngờ nhiễm HIV cần làm xét nghiệm phát hiện kháng thể kháng HIV. Trong trƣờng hợp xét nghiệm kháng thể dƣơng tính làm ngay xét nghiệm PCR [2], [5], [8], [17].
Xét nghiệm chẩn đoán xác định nhiễm HIV cho trẻ phơi nhiễm từ 9 tháng đến 18 tháng tuổi: • Cần làm xét nghiệm phát hiện kháng thể kháng HIV trƣớc. Nếu xét nghiệm kháng thể dƣơng tính chỉ định làm xét nghiệm PCR nhƣ đối với trẻ dƣới 9 tháng tuổi để khẳng định chẩn đoán [2], [5], [8], [18]. Chẩn đoán xác định nhiễm HIV cho trẻ dƣới 18 tháng tuổi không rõ phơi nhiễm nhƣng có biểu hiện nghi ngờ nhiễm HIV: áp dụng nhƣ đối với trẻ phơi nhiễm từ 9 đến 18 tháng tuổi [2], [5], [8], [17].