Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Rừng tự nhiên đóng vai trò thiết yếu trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn nguồn gen sinh vật, điều hòa nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn và hạn chế xói mòn, sạt lở đất tại các vùng miền núi. Quá trình khai thác không hợp lý cùng phương thức canh tác nương rẫy kéo dài đã làm suy giảm đáng kể diện tích và chất lượng rừng tự nhiên tại Việt Nam. Theo số liệu thống kê được tác giả dẫn giải, năm 1943 diện tích rừng cả nước đạt khoảng 14,3 triệu ha với độ che phủ 43%, nhưng đến năm 1999 chỉ còn khoảng 10,9 triệu ha (gồm 9,4 triệu ha rừng tự nhiên và 1,5 triệu ha rừng trồng), độ che phủ tương ứng giảm xuống còn 33,2%. Do đó, nghiên cứu các quy luật sinh thái, đặc biệt là quy luật cấu trúc và tái sinh tự nhiên của các loài cây gỗ bản địa, là cơ sở khoa học để phục hồi và kinh doanh rừng bền vững.

Cây Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) là loài cây gỗ lớn bản địa, đa tác dụng, sinh trưởng tương đối nhanh và có tiềm năng lớn trong trồng rừng gỗ lớn cũng như lâm nghiệp đô thị. Tuy nhiên, các dẫn liệu nghiên cứu về loài này ở Việt Nam còn hạn chế, chủ yếu ghi nhận từ công trình ban đầu của Lê Viết Lộc (1964, 1965) tại Vườn quốc gia Cúc Phương. Tại khu vực vùng núi Đông Bắc nói chung và xã Quang Phong, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn nói riêng, các thông tin về phân bố tự nhiên, đặc điểm sinh thái và khả năng tái sinh của loài Xoan đào trong các trạng thái rừng thứ sinh phục hồi vẫn chưa được điều tra đầy đủ.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác lập rõ ràng gồm:

  • Mục tiêu chung: Xác định được phân bố tự nhiên và đặc điểm sinh học, sinh thái của loài Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) tại xã Quang Phong, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Xác định được phân bố, đặc điểm lâm học, đặc điểm sinh thái cây Xoan đào tại khu vực nghiên cứu phục vụ công tác bảo tồn loài.
    2. Xác định được những đặc điểm hình thái và vật hậu của loài Xoan đào.
    3. Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài cây này tại địa phương.

Đối tượng nghiên cứu là trạng thái rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên nơi có loài Xoan đào phân bố, tập trung phân tích sâu vào cấu trúc tầng cây cao và tầng cây tái sinh. Phạm vi nghiên cứu về không gian thực hiện tại xã Quang Phong, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn (tọa độ địa lý: 22°05′47″B, 106°02′10″Đ). Phạm vi thời gian tiến hành thu thập số liệu thực địa diễn ra từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng quan điểm sinh thái học phát sinh quần thể trong thảm thực vật rừng nhiệt đới của Thái Văn Trừng (1978), xem thảm thực vật rừng là tấm gương phản chiếu tổng hòa các điều kiện môi trường tự nhiên, trong đó lớp cây tái sinh phản ánh trung thực quá trình phục hồi của quần xã rừng thứ sinh. Để phân loại trạng thái rừng, đề tài sử dụng tiêu chuẩn phân loại rừng thứ sinh của Loeschau, tập trung vào kiểu IIA (rừng phục hồi còn non, đường kính ngang ngực bình quân $D_{1.3} \le 10\text{ cm}$ và tổng tiết diện ngang $\sum G < 10\text{ m}^2/\text{ha}$).

Phương pháp nghiên cứu thực địa kết hợp điều tra khảo sát tuyến và lập ô tiêu chuẩn (OTC) điển hình tạm thời. Tiến trình nghiên cứu được triển khai đồng bộ qua các bước cụ thể:

Hạng mục điều tra Phương pháp và dung lượng mẫu Chỉ tiêu và dụng cụ đo đếm
Tầng cây cao Lập 9 OTC tạm thời, diện tích $1.000\text{ m}^2$ ($S = 0,1\text{ ha}$/OTC) bố trí ở các vị trí chân, sườn và đỉnh núi. Đo đếm toàn bộ cây có $D_{1.3} \ge 6\text{ cm}$. Xác định tên loài, đo đường kính $D_{1.3}$ (thước dây quy đổi), chiều cao vút ngọn $H_{vn}$ và chiều cao dưới cành $H_{dc}$ (thước sào chia vạch $20\text{ cm}$, sai số $\pm 10\text{ cm}$), đường kính tán $D_t$ theo 2 hướng Đông - Tây và Nam - Bắc, phân cấp phẩm chất (tốt, trung bình, xấu).
Tầng cây tái sinh Lập 5 ô dạng bản (ODB) diện tích $25\text{ m}^2$ ($5 \times 5\text{ m}$) trong mỗi OTC (4 góc và 1 trung tâm); tổng số 45 ODB ($1.125\text{ m}^2$). Nhận biết tên loài, nguồn gốc tái sinh (hạt hoặc chồi), phẩm chất cây con, đo chiều cao cây theo 8 cấp ($<0,3\text{m}$; $0,3-0,5\text{m}$; $0,5-1,0\text{m}$; $1,0-1,5\text{m}$; $1,5-2,0\text{m}$; $2,0-2,5\text{m}$; $2,5-3,0\text{m}$; $>3,0\text{m}$), xác định độ tàn che.
Cây bụi, thảm tươi Đo đếm trên 2 đường chéo của ô thứ cấp $25\text{ m}^2$. Xác định thành phần loài, độ che phủ mặt đất (%), đánh giá độ nhiều theo thang cấp Drude (Soc, Cop1, Cop2, Cop3, Sp, Sol, Un, Gr).
Thổ nhưỡng Đào 3 phẫu diện đất kích thước $1,2 \times 0,8 \times 1,0\text{ m}$ tại 3 vị trí địa hình (chân, sườn, đỉnh). Phân chia tầng phát sinh đất ($A_0, A, B, C, D$), đo chiều dày tầng đất, xác định màu sắc, độ ẩm, thành phần cơ giới và tỷ lệ đá lẫn theo Sổ tay điều tra quy hoạch rừng (1995).
Hình thái & Vật hậu Quan sát, mô tả hình thái trên các cá thể trưởng thành; theo dõi vật hậu trên 9 cây Xoan đào đại diện trong 5 tháng (01/2016 – 05/2016). Sử dụng thước kẹp palme, máy ảnh, GPS, kẹp tiêu bản; theo dõi các pha sinh trưởng chồi, cành, hoa, quả theo hướng dẫn của Đại học Lâm nghiệp (1966) và Nguyễn Nghĩa Thìn (2007).

Phương pháp xử lý số liệu toán học lâm sinh sử dụng công thức tính giá trị quan trọng ($IV%$) của Daniel Marmillod: $IV_i% = (N_i% + G_i%)/2$, trong đó $N_i%$ là phần trăm số cá thể và $G_i%$ là phần trăm tiết diện ngang của loài $i$. Loài có $IV% > 5%$ được xác định là loài tham gia vào công thức tổ thành tầng cây cao. Đánh giá tính đa dạng loài cây gỗ dựa trên chỉ số Simpson ($D$) và Shannon-Wiener ($H'$). Tổ thành cây tái sinh được xác định theo hệ số $K_i$ và tỷ lệ phần trăm cá thể $n%_i \ge 5%$. Số liệu được xử lý thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel và Microsoft Word.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần này trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực trạng suy thoái tài nguyên rừng tự nhiên và tầm quan trọng của công tác phục hồi rừng thông qua tái sinh tự nhiên. Tác giả giới thiệu tổng quát về cây Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) - một loài cây gỗ bản địa có giá trị kinh tế và sinh thái cao nhưng còn ít được nghiên cứu tại tỉnh Bắc Kạn. Phần mở đầu xác định rõ mục tiêu chung, ba mục tiêu cụ thể, cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong công tác quản lý, bảo tồn và gây trồng loài cây này.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tác giả hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về hai mảng lý thuyết chính: cấu trúc rừng và tái sinh rừng nhiệt đới. Về cấu trúc, tác giả trích dẫn các nghiên cứu của Richards (1952, 1964), Catinot (1987), Lamprecht (1969), Thái Văn Trừng (1978, 2000), Trần Ngũ Phương (1970) và Đặng Kim Vui (2002). Về tái sinh, tổng quan nhấn mạnh vai trò của ánh sáng, thảm tươi, các quy luật phân bố Poisson hoặc phân bố cụm (Bernard Rollet 1974, Nguyễn Duy Chuyên 1995).

Đối với cây Xoan đào, văn bản tổng hợp các nghiên cứu về phân loại học (tên đồng nghĩa Prunus arborea, thuộc họ Hoa hồng Rosaceae), đặc điểm lâm học của Vũ Văn Thông (1993, 2001), Nguyễn Thị Nhung (2009), Lê Đình Khả (2003). Gỗ Xoan đào thuộc nhóm VI, có tỷ trọng 0,518, lực kéo ngang thớ $26\text{ kg/cm}^2$, nén dọc thớ $368\text{ kg/cm}^2$, độ uốn oằn $0,865\text{ kg/cm}^2$; hạt chứa 40-45% dầu thơm.

Phần này cũng nêu chi tiết điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội xã Quang Phong: diện tích tự nhiên 4550,39 ha; địa hình đồi núi cao, dốc $15 - 35^\circ$, độ cao 300 - 800m; nhóm đất Feralit đỏ vàng chiếm đa số (71,62%), đất phù sa ngòi suối (13,38%), đất dốc tụ phù sa (7,9%); nhiệt độ trung bình năm 21,5°C, lượng mưa trung bình 1084mm, độ ẩm 82%; dân số khoảng 1562 - 1584 người, dân tộc Tày chiếm 54%, lao động nông nghiệp chiếm 94,3%. Tác giả chỉ ra khó khăn chính là tình trạng thả rông gia súc và tập quán khai thác rừng tự nhiên của người dân bản địa.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương mô tả chi tiết đối tượng nghiên cứu là trạng thái rừng thứ sinh phục hồi nơi Xoan đào phân bố tự nhiên. Chương này cụ thể hóa hệ thống phương pháp điều tra thực địa: phương pháp sơ thám lập tuyến; phương pháp lập 9 OTC diện tích $1.000\text{ m}^2$ và 45 ODB diện tích $25\text{ m}^2$; phương pháp đào 3 phẫu diện đất kích thước $1,2 \times 0,8 \times 1,0\text{ m}$ tại 3 vị trí địa hình; phương pháp theo dõi vật hậu trên 9 cây mẫu; các công thức toán học tính toán mật độ, công thức tổ thành ($IV%$), chỉ số đa dạng sinh học ($D, H'$), cấp chiều cao tái sinh và chất lượng cây tái sinh.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 4 phản ánh các phát hiện từ quá trình điều tra thực địa tại xã Quang Phong:

  • Đặc điểm hình thái và vật hậu: Xoan đào có thân đơn trục, hình trụ thẳng, chiều cao đạt 20 - 25m, đường kính thân phổ biến từ 40 - 50cm (cá biệt có cây đạt trên 1m). Phân cành ở 3/4 chiều cao thân, góc phân cành lớn từ 60 - 70°, cành lớn cong vặn xà xuống. Gốc cây có bạnh vè nhỏ, đạt chiều cao tới 1,2m ở những cây có đường kính trên 50cm. Vỏ ngoài màu xanh trắng hoặc nâu nhạt, khi già nứt dọc nông, thịt vỏ vàng hoặc hồng nhạt, toàn thân tỏa mùi hôi bọ xít đặc trưng. Lá đơn nguyên, phiến lá dày, dài 10 - 15cm, rộng 3 - 4cm, mặt dưới nổi rõ 10 - 15 đôi gân thứ cấp xếp so le. Hoa dạng chùm mọc ở nách lá hoặc đầu cành, màu trắng, nhiều thùy, cánh hoa nhỏ phủ lông mịn. Hoa nở vào tháng 3 - 4; quả chín vào tháng 8 - 9, quả hạch hình thận đường kính khoảng 2cm, khi chín chuyển sang màu nâu nhạt, bên trong chứa 5 hạt màu nâu giàu tinh dầu thơm.
  • Đặc điểm phân bố và sinh thái: Loài phân bố tự nhiên ở độ cao tuyệt đối từ 500 - 600m trở xuống, tập trung ở ven suối, chân hoặc sườn núi dốc thuộc kiểu rừng thứ sinh trạng thái IIA (rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp). Cỡ đường kính khảo sát dao động trong khoảng 10 - 35,5cm, chiều cao vút ngọn trung bình 6,3 - 23m, đường kính tán lá trung bình 6m.
  • Đặc điểm cấu trúc lâm phần và tái sinh: Thể hiện qua hệ thống số liệu về công thức tổ thành tầng cây cao theo chỉ số $IV%$, cấu trúc tầng thứ, mật độ cây cao toàn lâm phần và mật độ riêng của Xoan đào tại các vị trí chân, sườn, đỉnh núi; cấu trúc tổ thành tầng tái sinh, tỷ lệ cây tái sinh theo nguồn gốc hạt/chồi, phân bố số lượng cây tái sinh theo 8 cấp chiều cao và đánh giá chất lượng cây con (tốt, trung bình, xấu) chịu tác động của độ tàn che và thảm tươi.

Phần 5: Kết luận, tồn tại và đề nghị

Tác giả tổng hợp các kết luận chính về đặc trưng hình thái, tính chất vật hậu, phân bố lập địa, cấu trúc lâm phần và khả năng tái sinh của loài Xoan đào tại xã Quang Phong. Đồng thời, phần này chỉ ra các hạn chế trong quá trình nghiên cứu và đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh, phương hướng bảo vệ, xúc tiến tái sinh tự nhiên nhằm phục hồi loài cây này.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu ghi nhận đầy đủ các thông số thực nghiệm về lâm học và sinh thái của cây Xoan đào tại xã Quang Phong:

  • Hình thái học xác định rõ cây thuộc dạng thân đơn trục, cao 20 - 25m, đường kính $40 - 50\text{ cm}$, tán thưa hình trứng hoặc hình cầu, phân cành tại 3/4 thân với góc cành 60 - 70°. Vỏ thân có mùi hôi bọ xít đặc trưng, gốc có bạnh vè cao tới 1,2m. Lá dài 10 - 15cm, rộng 3 - 4cm với 10 - 15 đôi gân thứ cấp. Hoa chùm màu trắng ra vào tháng 3 - 4; quả hạch hình thận chín vào tháng 8 - 9, đường kính 2cm, chứa 5 hạt.
  • Phân bố tự nhiên của Xoan đào tại địa phương có biên độ hẹp, xuất hiện chủ yếu ở độ cao dưới 500 - 600m ven khe suối, chân và sườn núi dốc trên đất Feralit đỏ vàng. Lâm phần nghiên cứu thuộc trạng thái rừng thứ sinh IIA với đường kính cá thể khảo sát từ 10 đến 35,5cm, chiều cao biến thiên từ 6,3 đến 23m và đường kính tán trung bình 6m.
  • Khóa luận xác lập hệ thống dữ liệu định lượng về cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ và mật độ loài tại 3 vị trí địa hình (chân, sườn, đỉnh); đồng thời làm rõ cấu trúc tầng tái sinh qua 8 cấp chiều cao, phân loại nguồn gốc tái sinh (hạt và chồi) và tỷ lệ phẩm chất cây con.

Về mặt giải pháp, tác giả đề xuất:

  • Cần khoanh nuôi bảo vệ nghiêm ngặt các diện tích rừng thứ sinh trạng thái IIA có Xoan đào phân bố tự nhiên; bảo vệ các cây mẹ trưởng thành để duy trì nguồn hạt giống.
  • Tăng cường tuyên truyền, vận động cộng đồng địa phương chấm dứt tình trạng thả rông gia súc vào rừng tái sinh nhằm bảo vệ lớp cây con không bị dẫm đạp, cắn phá.
  • Áp dụng các giải pháp kỹ thuật lâm sinh như điều chỉnh độ tàn che phù hợp, phát luỗng dây leo, cây bụi chèn ép xung quanh cây tái sinh triển vọng để xúc tiến quá trình phục hồi tự nhiên.

Đóng góp mới của khóa luận là đã cung cấp hệ thống dẫn liệu thực địa nguyên trạng đầu tiên về đặc tính lâm học, vật hậu học, phân bố lập địa và đặc điểm quần xã của loài Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) tại xã Quang Phong, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn - một khu vực miền núi trước đây chưa từng có công trình nghiên cứu chuyên biệt về loài cây này.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận thẳng thắn nêu rõ một số hạn chế do điều kiện nghiên cứu thực tế quy định:

  • Thời gian nghiên cứu ngoài thực địa tương đối ngắn, chỉ kéo dài trong 5 tháng (từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2016), do đó tác giả chưa thể theo dõi trực tiếp trọn vẹn toàn bộ một chu kỳ sinh sản và vật hậu cả năm của loài Xoan đào ngoài tự nhiên mà phải kết hợp kế thừa tài liệu trước đó đối với pha quả chín.
  • Dung lượng mẫu theo dõi vật hậu trực tiếp chỉ giới hạn trên 9 cá thể cây Xoan đào tại các vị trí địa hình khác nhau.
  • Phạm vi không gian nghiên cứu mới chỉ tập trung trên địa bàn một xã (xã Quang Phong), chưa mở rộng điều tra so sánh liên vùng với các xã lân cận trong huyện Na Rì.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ văn bản:

  • Cần tổ chức theo dõi liên tục chu kỳ vật hậu học của loài Xoan đào qua nhiều năm liền trên cỡ mẫu lớn hơn để xác định chính xác sự biến động theo thời tiết hàng năm.
  • Mở rộng phạm vi điều tra lập địa sang các khu vực rừng khác trên toàn huyện Na Rì và tỉnh Bắc Kạn nhằm xây dựng bản đồ phân bố hoàn chỉnh của loài.
  • Triển khai các nghiên cứu thực nghiệm chuyên sâu về kỹ thuật thu hái, bảo quản hạt giống, phương pháp gieo ươm nhân giống nhân tạo và xây dựng các mô hình thử nghiệm trồng làm giàu rừng bằng cây Xoan đào tại các trạng thái rừng nghèo kiệt.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh thái học thực vật và Nông lâm kết hợp: Có thể tham khảo phương pháp luận thiết lập ô tiêu chuẩn kết hợp ô dạng bản trong điều tra cấu trúc và tái sinh rừng nhiệt đới; quy trình phân tích tổ thành loài theo chỉ số giá trị quan trọng ($IV%$) của Daniel Marmillod và cách tính toán các chỉ số đa dạng sinh học Simpson, Shannon-Wiener.
  • Cán bộ kỹ thuật lâm nghiệp tại Ban quản lý rừng, Hạt Kiểm lâm Na Rì và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn: Sử dụng tài liệu làm căn cứ khoa học để xây dựng phương án quản lý bảo vệ rừng bền vững, quy hoạch bảo tồn nguồn gen loài cây bản địa quý hiếm và xây dựng các biện pháp kỹ thuật phục hồi rừng thứ sinh.
  • Các nội dung đáng tham khảo nhất trong văn bản gồm: Hệ thống mô tả chi tiết đặc điểm hình thái thân, lá, hoa, quả của loài Xoan đào; tiêu chí đánh giá độ nhiều thảm tươi theo Drude; bảng phân chia 8 cấp chiều cao điều tra tái sinh tự nhiên và dẫn liệu thực địa về phân bố của loài theo lập địa đất đai, độ cao tại xã Quang Phong.

Câu hỏi thường gặp

1. Cây Xoan đào được nghiên cứu có tên khoa học, họ thực vật và tên gọi bản địa là gì? Cây Xoan đào có tên khoa học là Pygeum arboreum Endl (tên đồng nghĩa: Prunus arborea), thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae). Tại địa phương, đồng bào dân tộc Tày gọi loài cây này là Mạy thoong; ngoài ra trong khu vực Lào và Thái Lan cây còn được gọi là May Mactec.

2. Loài Xoan đào tại xã Quang Phong ra hoa và quả chín vào thời gian nào trong năm? Theo kết quả điều tra thực tế tại hiện trường xã Quang Phong, cây Xoan đào ra hoa vào tháng 3 - 4 và quả chín vào tháng 8 - 9. Quả thuộc loại quả hạch hình thận, đường kính khoảng 2cm, khi chín chuyển từ màu xanh sang màu nâu nhạt và chứa 5 hạt.

3. Khóa luận sử dụng dung lượng mẫu và phương pháp điều tra tầng cây cao và tầng cây tái sinh như thế nào? Tác giả đã lập 9 ô tiêu chuẩn tạm thời diện tích $1.000\text{ m}^2$ ($S = 0,1\text{ ha}$) để điều tra toàn bộ cây gỗ có $D_{1.3} \ge 6\text{ cm}$. Trong mỗi ô tiêu chuẩn, tác giả bố trí 5 ô dạng bản diện tích $25\text{ m}^2$ ($5 \times 5\text{ m}$) tại 4 góc và 1 tâm (tổng cộng 45 ô dạng bản trên toàn khu vực) để đo đếm, phân tích loài, chiều cao, nguồn gốc và chất lượng tầng cây tái sinh.

4. Vị trí địa hình và độ cao phân bố chủ yếu của Xoan đào tại khu vực nghiên cứu là gì? Tại xã Quang Phong, cây Xoan đào có biên độ sinh thái hẹp, phân bố tự nhiên chủ yếu ở độ cao tuyệt đối từ 500 - 600m trở xuống. Cây thường mọc ở ven khe suối, chân núi hoặc sườn núi dốc, thuộc trạng thái rừng thứ sinh phục hồi IIA trên đất Feralit đỏ vàng.

5. Gỗ và hạt cây Xoan đào có đặc tính kỹ thuật và giá trị sử dụng như thế nào theo tài liệu tổng quan? Gỗ Xoan đào được xếp vào nhóm VI, có tỷ trọng 0,518, lực kéo ngang thớ $26\text{ kg/cm}^2$, lực nén dọc thớ $368\text{ kg/cm}^2$, lực uốn oằn $0,865\text{ kg/cm}^2$; bề mặt gỗ có màu đỏ nhạt, thớ mịn, dùng trong xây dựng và đóng đồ gia dụng. Hạt Xoan đào chứa tỷ lệ dầu 40 - 45%, hạt giã nhỏ sao với rượu có thể dùng đắp ngoài để hỗ trợ điều trị gãy xương.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Duy Thức đã phản ánh chân thực đặc điểm hình thái học, vật hậu học, phân bố lập địa và cấu trúc tái sinh của cây Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) trong trạng thái rừng thứ sinh phục hồi IIA tại xã Quang Phong, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn. Nghiên cứu xác định Xoan đào là loài cây bản địa gỗ lớn có biên độ sinh thái hẹp, phân bố chủ yếu dưới độ cao 600m tại ven suối và sườn dốc, ra hoa vào tháng 3 - 4 và quả chín vào tháng 8 - 9. Trên cơ sở số liệu điều tra 9 ô tiêu chuẩn và 45 ô dạng bản thực địa, tác giả đã đề xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh thiết thực như xúc tiến tái sinh tự nhiên, kiểm soát chăn thả rông và khoanh vùng bảo vệ nguồn gen cây mẹ. Đây là tài liệu điều tra thực địa có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác bảo tồn và phát triển loài Xoan đào tại các tỉnh miền núi phía Bắc.