Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Quản lý tài nguyên rừng của tác giả Cháng Văn Cường (Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, năm 2014) tập trung nghiên cứu loài Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata), loài cây hạt trần đặc hữu thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaceae), thường được biết đến với tên gọi dân gian là Ngọc am hay Sa mộc quế phong. Sa mộc dầu là nguồn gen thực vật quý hiếm, được phân hạng ở cấp VU A1adC1 (Sắp nguy cấp) trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và thuộc Nhóm IIA trong danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ.
Gỗ Sa mộc dầu có đặc tính cơ lý bền chắc, ít mối mọt, vân thớ và màu sắc đẹp, chứa hàm lượng tinh dầu có mùi thơm đặc trưng. Do đó, loài cây này bị săn lùng và khai thác kiệt quệ để phục vụ nhu cầu làm đồ gỗ gia dụng cao cấp, quan tài, bồn tắm và chiết xuất tinh dầu. Người dân địa phương thậm chí đào bới cả phần gốc rễ để bán sang thị trường Trung Quốc, khiến nguồn gen ngoài tự nhiên đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Mặc dù Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh (tỉnh Hà Giang) đã được xác nhận là một trong những vùng phân bố tự nhiên hiếm hoi của Sa mộc dầu, các dẫn liệu khoa học về phân bố không gian, mật độ và đặc điểm lâm học của loài tại khu vực này vẫn còn thiếu hụt.
Mục tiêu của đề tài:
Mục tiêu tổng quát là nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học của loài Sa mộc dầu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh nhằm tạo dựng cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài. Các mục đích và nhiệm vụ cụ thể được văn bản xác định gồm:
- Xác định đặc điểm phân bố và nghiên cứu đặc điểm lâm học của loài cây Sa mộc dầu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh.
- Phân tích các khó khăn và thuận lợi trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển loài Sa mộc dầu tại địa bàn nghiên cứu.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp bảo tồn và phát triển loài, bao gồm nhóm giải pháp kỹ thuật lâm sinh, giải pháp chính sách pháp luật và giải pháp kinh tế - xã hội.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Loài cây Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata).
- Phạm vi nội dung: Phân bố không gian (theo địa lý, đai cao), cấu trúc quần xã thực vật tầng cây cao (mật độ, tổ thành, tầng thứ), đặc điểm hình thái, vật hậu, tình hình tái sinh tự nhiên và giá trị sử dụng của loài.
- Phạm vi không gian: Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh, tập trung điều tra chi tiết tại địa bàn các xã Túng Sán (huyện Hoàng Su Phì), xã Tả Sử Choóng và xã Bản Nhùng.
- Thời gian thực hiện: Từ ngày 31/12/2013 đến ngày 20/4/2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở lý luận về quản trị, bảo tồn nội vi (in situ) và ngoại vi (ex situ) nguồn gen thực vật nguy cấp, kết hợp các quy định pháp luật hiện hành gồm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Đa dạng sinh học, Nghị định 32/2006/NĐ-CP và hướng dẫn phân hạng đánh giá mức độ bị đe dọa của Sách Đỏ Việt Nam (2007) cùng Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN). Tác giả kế thừa các tài liệu nghiên cứu chuyên ngành về loài Sa mộc dầu của Nguyễn Hoàng Nghĩa (2008), Nguyễn Văn Sinh (2009) tại Vườn Quốc gia Pù Mát (Nghệ An), dự án bảo tồn nguồn gen hạt trần tại Thài Phìn Tùng của Lê Trần Chấn và cộng sự (2006, 2010), cũng như các báo cáo quốc tế về nguồn gen cây rừng của FAO (1996, 2013).
Về mặt thực nghiệm ngoại nghiệp, đề tài áp dụng các phương pháp điều tra thực vật và lâm học truyền thống:
- Phương pháp điều tra xã hội học lâm nghiệp: Thực hiện phỏng vấn bằng phiếu điều tra bán cấu trúc với 20 phiếu, hướng đến các nhóm đối tượng: người dân bản địa sinh sống trong và gần khu bảo tồn, cán bộ kiểm lâm địa bàn, cán bộ quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh, các hộ chưng cất/chế biến tinh dầu và các nhà khoa học có chuyên môn.
- Phương pháp điều tra thực địa theo tuyến và ô tiêu chuẩn (OTC): Thiết lập 3 tuyến điều tra đi qua các khu vực rừng có sự xuất hiện của Sa mộc dầu tại 3 xã (tuyến Túng Sán, tuyến Tả Sử Choóng, tuyến Bản Nhùng). Trên mỗi tuyến, tác giả lập 3 ô tiêu chuẩn tạm thời dạng hình vuông diện tích 1.000 m² tại 3 đai cao khác nhau: 900–1000m, 1000–1100m và 1100–1200m (tổng số 9 OTC, tổng diện tích điều tra định lượng là 9.000 m²).
- Công cụ và chỉ tiêu đo đếm: Sử dụng máy định vị vệ tinh GPS, địa bàn cầm tay, thước dây, máy ảnh kỹ thuật số và biểu mẫu điều tra. Tại các OTC, tiến hành đo đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$), chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$), xác định tên loài và số lượng cá thể của tất cả các loài cây gỗ tầng cao.
- Công thức tính toán xử lý dữ liệu:
- Mật độ cây tái sinh:
$$N/ha = \frac{10.000 \times n}{S}$$
(Trong đó $S$ là tổng diện tích các ô đo đếm tái sinh tính bằng m², $n$ là số cây tái sinh bắt gặp).
- Tỷ lệ phẩm chất cây tái sinh (% tốt, trung bình, xấu):
$$N% = \left(\frac{n}{N}\right) \times 100$$
(Trong đó $n$ là số cây theo từng cấp chất lượng, $N$ là tổng số cây tái sinh).
- Công thức tổ thành tầng cây cao: Xác định loài cây ưu thế khi số cá thể $n \ge N_{TB} = N/m$ ($m$ là tổng số loài, $N$ là tổng số cây trong OTC). Hệ số tổ thành loài $a$ ($N_a$) được tính bằng:
$$N_a = \left(\frac{n}{N}\right) \times 10$$
(Loài có hệ số $\ge 1$ được ghi số kèm ký hiệu viết tắt; loài có hệ số từ $0,5$ đến $< 1$ thêm dấu $+$; loài có hệ số $< 0,5$ thêm dấu $-$; các loài dưới ngưỡng trung bình gộp vào loài khác LK).
Nội dung chính theo từng phần của khóa luận
Phần 1: Mở đầu
Tác giả nêu bật vai trò sinh thái và phòng hộ đầu nguồn của rừng tự nhiên, thực trạng suy giảm tài nguyên rừng tại Việt Nam và nhấn mạnh sự cần thiết của việc bảo tồn nguồn gen các loài hạt trần quý hiếm. Sa mộc dầu được phân tích dưới góc độ đối tượng bảo tồn khẩn cấp trước áp lực khai thác thương mại quá mức. Phần này làm rõ mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ cùng ý nghĩa học tập, ý nghĩa nghiên cứu khoa học và ý nghĩa thực tiễn của khóa luận đối với công tác quy hoạch bảo tồn của các trạm kiểm lâm tại Tây Côn Lĩnh.
Phần 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Phần tổng quan tổng hợp các tài liệu bảo tồn nguồn gen lâm nghiệp trên thế giới và tại Việt Nam. Trên phạm vi toàn cầu, tác giả dẫn chứng các chương trình quản lý gen của FAO, IUCN và bài học từ Đài Loan – nơi Sa mộc dầu phân bố ở đai cao 1300–2800m, sinh trưởng trong điều kiện nhiệt độ 17–22°C, lượng mưa 2000–3500 mm/năm và đã được bảo vệ thông qua chính sách đóng cửa rừng tự nhiên từ thập niên 1990.
Tại Việt Nam, tác giả tổng kết các kết quả nghiên cứu trước đó về Sa mộc dầu ở Nghệ An (Vườn Quốc gia Pù Mát) của Nguyễn Văn Sinh (2009) với phát hiện sinh thái quan trọng: quả nón khi chín không tách rời hạt ra ngoài mà rụng nguyên nón, hạt chỉ nảy mầm trực tiếp ngay trên nón khi gặp độ ẩm thuận lợi, dẫn đến hiện tượng tái sinh theo cụm hoặc đám.
Về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu, tác giả mô tả toàn diện Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh: tọa độ 22°39' – 22°50' vĩ độ Bắc và 104°39' – 104°59' kinh độ Đông, trải rộng trên 10 xã thuộc 3 huyện thị (huyện Vị Xuyên, thị xã Hà Giang và huyện Hoàng Su Phì). Khu bảo tồn có tổng diện tích 15.000 ha (trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 7.406 ha, phân khu phục hồi sinh thái 7.173 ha), sở hữu đỉnh Tây Côn Lĩnh cao 2.428,5m. Khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao với nhiệt độ trung bình năm 22,6–23,0°C, mùa đông nhiệt độ xuống dưới 0°C kèm băng tuyết. Khu hệ thực vật ghi nhận 796 loài thuộc 162 họ (54 loài quý hiếm, 49 loài trong Sách Đỏ Việt Nam 2007); khu hệ động vật gồm 58 loài thú, 100 loài chim, 55 loài bò sát và ếch nhái.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương trình bày chi tiết về quy trình thu thập số liệu nội nghiệp và ngoại nghiệp. Tác giả chuẩn bị tiêu bản, bản đồ địa hình xã, thiết bị định vị GPS, thước dây và hệ thống 20 phiếu phỏng vấn đối tượng liên quan. Khóa luận mô tả quy cách thiết lập 3 tuyến điều tra qua các xã Túng Sán, Tả Sử Choóng, Bản Nhùng và phương pháp bố trí 9 OTC tạm thời diện tích 1.000 m² theo 3 đai cao (900–1000m, 1000–1100m, 1100–1200m). Các công thức toán học lâm sinh phục vụ tính toán mật độ tái sinh, phẩm chất cây con và công thức biểu diễn hệ số tổ thành tầng cây cao được hệ thống hóa đầy đủ.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn bộ các phát hiện định lượng thu được từ đợt điều tra thực địa tháng 4/2014:
- Đặc điểm phân bố: Sa mộc dầu chỉ phân bố cục bộ trên diện tích 2.888,5 ha, tập trung tại 3 tiểu khu: Tiểu khu 194B (xã Túng Sán, diện tích 1.735 ha), Tiểu khu 204 (xã Tả Sử Choóng, diện tích 55,5 ha) và Tiểu khu 194A (xã Bản Nhùng, diện tích 1.098 ha). Cây chỉ xuất hiện ở đai cao 900–1200m, sườn dốc 25–40%, từ chân núi đến lưng chừng sườn núi.
- Mật độ và cấu trúc cây mẹ: Trong tổng số 9 OTC đã khảo sát, chỉ có 4 OTC bắt gặp Sa mộc dầu (OTC 2, 3, 5, 7) với tổng số 11 cá thể đơn lẻ. Tuyến Túng Sán ghi nhận 4 cây, tuyến Tả Sử Choóng ghi nhận 5 cây, tuyến Bản Nhùng ghi nhận 2 cây. Đường kính ngang ngực bình quân dao động từ 20 cm đến 80 cm, chiều cao vút ngọn từ 9 m đến 33 m.
- Cấu trúc tổ thành loài tầng cây cao: Số loài cây đi kèm dao động từ 10 đến 15 loài, trong đó có từ 3 đến 7 loài chính tham gia vào công thức tổ thành rừng (gồm Sa mộc, Vối thuốc, Mò lá tròn, Tống quá sủ, Quế rừng, Cọ nọt, Lá nến, Xoan ta). Tại các ô có Sa mộc dầu phân bố, hệ số tổ thành của loài rất thấp nhưng có ý nghĩa sinh thái lớn: OTC 2 ($0,48Smd$), OTC 3 ($0,58Smd$), OTC 5 ($1,09Smd$), OTC 7 ($0,52Smd$).
- Cấu trúc tầng thứ: Quần xã chia thành 4 tầng rõ rệt: Tầng vượt tán ($H_{vn} > 20\text{ m}$) chỉ gồm các cây Sa mộc dầu cổ thụ phân bố rải rác; Tầng tán chính ($H_{vn} = 10\text{--}20\text{ m}$) gồm Sa mộc, Vối thuốc, Quế rừng; Tầng tán dưới ($H_{vn} = 5\text{--}10\text{ m}$) gồm Cọ nọt, Sổ, Lá nến, Quế rừng chịu bóng; Tầng thảm tươi cây bụi ($H_{vn} < 5\text{ m}$) gồm dương xỉ, cỏ nhật, guột, chè và cây tái sinh ưa bóng của tầng trên.
- Đặc điểm hình thái và vật hậu: Sa mộc dầu là cây gỗ lớn thường xanh cao tới 50m, gốc bạnh vè, vỏ ngoài màu xám đen nứt dọc nông dày 1–1,2 cm; khi đẽo vào vỏ sau 2–3 phút tiết ra nhựa màu trắng rồi chuyển màu vàng nhạt. Lá có hiện tượng dị hình rõ rệt: lá non dài 5–7 cm mọc xoắn ốc; lá mang nón cái mọc xoắn dày đặc dài 2,5–3 cm mũi tù; lá mang nón đực dài 3–4 cm xếp gần thành 2 dãy. Cây ra nón vào tháng 9–10, quả chín từ tháng 3 đến tháng 5 năm sau.
- Tình hình tái sinh tự nhiên: Tại toàn bộ 9 OTC điều tra, tác giả không ghi nhận được bất kỳ cây con tái sinh nào của loài Sa mộc dầu dưới tán rừng tự nhiên. Hạt không tách khỏi nón khi chín, hạt rụng xuống bị hạn chế tiếp xúc đất, đồng thời rừng bị người dân đào rễ cạn kiệt khiến khả năng tái sinh tự nhiên gần như bằng không.
- Giá trị sử dụng và giải pháp bảo tồn: Loài cây có giá trị kinh tế và sử dụng đa dạng trong làm nhà gỗ, đồ gia dụng, bồn tắm, áo quan và chưng cất tinh dầu. Tác giả xây dựng 3 nhóm giải pháp bảo tồn: kỹ thuật lâm sinh, thực thi chính sách pháp luật và hỗ trợ sinh kế vùng đệm.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tóm tắt các chỉ số nghiên cứu cơ bản về vùng phân bố, đặc điểm hình thái, mật độ quần thể và hiện trạng tái sinh. Tác giả nêu các tồn tại của khóa luận và kiến nghị cơ quan chức năng tăng cường bảo tồn nguyên vị, cấp kinh phí chi trả phụ cấp cho lực lượng tuần tra rừng bản địa, đồng thời triển khai nghiên cứu nhân giống nhân tạo phục vụ trồng rừng bảo tồn.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã cung cấp bộ dẫn liệu thực địa định lượng về 11 cá thể Sa mộc dầu còn sót lại tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh.
| TT |
Tuyến điều tra |
OTC |
Tọa độ GPS |
Độ cao (m) |
$D_{1.3}$ (cm) |
$H_{vn}$ (m) |
Ngày điều tra |
| 1 |
Túng Sán |
2 |
0319252 - 2519095 |
1060 |
80,00 |
33,0 |
03-04/04/2014 |
| 2 |
Túng Sán |
2 |
0319269 - 2519080 |
1065 |
48,00 |
22,0 |
03-04/04/2014 |
| 3 |
Túng Sán |
3 |
0322466 - 2516235 |
1118 |
30,25 |
18,0 |
03-04/04/2014 |
| 4 |
Túng Sán |
3 |
0322696 - 25177761 |
1161 |
47,40 |
22,0 |
03-04/04/2014 |
| 5 |
Tả Sử Choóng |
5 |
0320038 - 2509612 |
1062 |
67,00 |
30,0 |
07-08/04/2014 |
| 6 |
Tả Sử Choóng |
5 |
0320070 - 2509603 |
1062 |
65,00 |
28,0 |
07-08/04/2014 |
| 7 |
Tả Sử Choóng |
5 |
0320070 - 2509652 |
1082 |
51,00 |
25,0 |
07-08/04/2014 |
| 8 |
Tả Sử Choóng |
5 |
0320276 - 2510824 |
1096 |
25,00 |
9,0 |
07-08/04/2014 |
| 9 |
Tả Sử Choóng |
5 |
0320290 - 2510863 |
1096 |
20,00 |
12,0 |
07-08/04/2014 |
| 10 |
Bản Nhùng |
7 |
0318251 - 2511536 |
970 |
76,00 |
27,0 |
10-11/04/2014 |
| 11 |
Bản Nhùng |
7 |
0318280 - 2511469 |
976 |
62,00 |
20,0 |
10-11/04/2014 |
Thống kê diện tích phân bố theo đơn vị hành chính và tiểu khu:
| TT |
Xã |
Tiểu khu |
Diện tích phân bố (ha) |
| 1 |
Túng Sán |
194B |
1.735,0 |
| 2 |
Tả Sử Choóng |
204 |
55,5 |
| 3 |
Bản Nhùng |
194A |
1.098,0 |
| Tổng |
|
|
2.888,5 |
Công thức tổ thành tầng cây cao tại 4 OTC ghi nhận Sa mộc dầu:
- OTC 2 (Túng Sán, 1000–1100m): $6,1\text{Sm} + 0,97\text{Vt} + 0,97\text{Nh} + 0,73\text{Mlt} + 0,73\text{Lk} - 0,48\text{Smd}$
- OTC 3 (Túng Sán, 1100–1200m): $3,23\text{Vt} + 2,94\text{Sm} + 1,47\text{Lk} + 1,18\text{Mlt} - 0,58\text{Smd} + 0,58\text{Kr}$
- OTC 5 (Tả Sử Choóng, 1000–1100m): $4,56\text{Sm} + 1,52\text{Lk} + 1,09\text{Smd} + 1,08\text{Mlt} + 0,87\text{Qr} + 0,86\text{Cn}$
- OTC 7 (Bản Nhùng, 900–1000m): $3,15\text{Sm} + 2,1\text{Lk} + 1,84\text{Xt} + 1,31\text{Qr} + 1,05\text{Vt} + 0,52\text{Smd}$
(Ký hiệu loài: Smd: Sa mộc dầu; Sm: Sa mộc; Vt: Vối thuốc; Mlt: Mò lá tròn; Nh: Nhội; Tqs: Tống quá sủ; Qr: Quế rừng; Cn: Cọ nọt; Ln: Lá nến; Xt: Xoan ta; Kr: Khế rừng; Lk: Loài khác).
Các giải pháp tác giả đề xuất:
- Nhóm giải pháp kỹ thuật lâm sinh: Xúc tiến tái sinh tự nhiên bằng cách phát dọn thực bì cục bộ để tăng cường độ chiếu sáng dưới tán rừng cho cây mầm; xới xáo lớp đất mặt dưới tán cây mẹ nhằm tăng khả năng tiếp xúc giá thể của hạt khi quả nón rụng; thu hái quả chín (tháng 3–5) để tách hạt đem gieo ươm nhân giống nhân tạo tại các khu vực khoảng trống rừng lân cận.
- Nhóm giải pháp chính sách pháp luật: Xác lập cụ thể ranh giới các tiểu khu có Sa mộc dầu phân bố (TK 194A, 194B, 204) trên bản đồ và bàn giao cho các trạm kiểm lâm phụ trách quản lý nghiêm ngặt; phối hợp liên ngành giữa kiểm lâm, bộ đội biên phòng và chính quyền địa phương tuần tra bảo vệ; đẩy mạnh cơ chế đồng quản lý rừng và áp dụng chế tài xử phạt nghiêm minh hành vi đào bới gốc rễ Sa mộc dầu.
- Nhóm giải pháp kinh tế - xã hội: Phát triển kinh tế vùng đệm thông qua đưa các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao vào sản xuất nhằm tạo sinh kế thay thế; hỗ trợ người dân bản địa tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi; xây dựng quy ước, hương ước làng bản về bảo vệ rừng tự nhiên.
Đóng góp của đề tài:
Khóa luận đã định vị tọa độ GPS chính xác và đo đạc kích thước từng cá thể Sa mộc dầu ngoài thực địa tại khu bảo tồn, chỉ rõ sự phân cắt mạnh mẽ của quần thể (chỉ còn 11 cây trưởng thành trong 9 OTC điều tra). Nghiên cứu khẳng định tình trạng mất hoàn toàn khả năng tái sinh tự nhiên của loài dưới tán rừng do sự suy thoái số lượng cá thể mẹ và đặc tính quả chín không rụng hạt, từ đó đưa ra cảnh báo khẩn cấp về nguy cơ tuyệt chủng loài tại Tây Côn Lĩnh nếu không có biện pháp hỗ trợ tái sinh nhân tạo kịp thời.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Tác giả đã chỉ ra các hạn chế trong quá trình thực hiện khóa luận:
- Thời gian thực tập ngắn: Đợt khảo sát chỉ diễn ra từ cuối tháng 12/2013 đến tháng 4/2014, không trùng vào mùa cây ra hoa (tháng 9–10) nên chưa thu thập được dẫn liệu hình thái và đặc điểm sinh thái hoa của Sa mộc dầu.
- Khó khăn địa hình và tiếp cận xã hội: Khu bảo tồn Tây Côn Lĩnh có địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lớn, mạng lưới giao thông lâm nghiệp chưa phát triển khiến việc tiếp cận các dông núi cao gặp nhiều trở ngại. Cư dân sống trong khu vực phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số, gây khó khăn nhất định cho công tác điều tra phỏng vấn.
- Thiếu hụt dữ liệu tái sinh: Do mật độ quần thể ngoài tự nhiên quá thưa thớt và áp lực khai thác trước đó quá nặng nề, khóa luận không tìm thấy cây con tái sinh trong các OTC, dẫn tới chưa thể phân tích sâu về mật độ, cấu trúc tổ thành và quy luật phân cấp chiều cao của cây tái sinh tự nhiên.
Hướng nghiên cứu tiếp theo mà văn bản gợi mở gồm: Tiếp tục theo dõi đầy đủ chu kỳ vật hậu học của Sa mộc dầu quanh năm, đặc biệt là giai đoạn thụ phấn và ra nón; mở rộng phạm vi điều tra ở các tiểu khu lân cận; nghiên cứu thử nghiệm các phương pháp nhân giống hữu tính từ hạt thu hái và nhân giống vô tính (giâm hom) nhằm bảo tồn ngoại vi và phục vụ các chương trình trồng rừng bổ sung.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị thực tiễn đối với sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh thái học và Đa dạng sinh học. Tài liệu này cung cấp phương pháp điều tra thực địa theo tuyến kết hợp ô tiêu chuẩn trên địa hình núi cao hiểm trở, cùng phương pháp tính toán hệ số tổ thành tầng cây cao theo chỉ số số lượng cá thể.
Đối với Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh và Hạt Kiểm lâm huyện Hoàng Su Phì, công trình cung cấp cơ sở dữ liệu định vị tọa độ GPS cụ thể của 11 cá thể Sa mộc dầu và xác định rõ 3 tiểu khu trọng yếu (194A, 194B, 204). Dữ liệu này là căn cứ trực tiếp để lực lượng kiểm lâm địa bàn xây dựng phương án tuần tra chuyên đề, cắm mốc ranh giới bảo vệ nghiêm ngặt và lập kế hoạch thu hái nón giống phục vụ bảo tồn nguồn gen.
Câu hỏi thường gặp
1. Sa mộc dầu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh phân bố ở những khu vực hành chính và tiểu khu nào?
Theo kết quả điều tra, Sa mộc dầu phân bố trên tổng diện tích 2.888,5 ha thuộc 3 tiểu khu: Tiểu khu 194B (xã Túng Sán, diện tích 1.735 ha), Tiểu khu 204 (xã Tả Sử Choóng, diện tích 55,5 ha) và Tiểu khu 194A (xã Bản Nhùng, diện tích 1.098 ha).
2. Qua điều tra 9 ô tiêu chuẩn thực địa, tác giả ghi nhận được bao nhiêu cá thể Sa mộc dầu và kích thước lớn nhất là bao nhiêu?
Tác giả chỉ ghi nhận được 11 cá thể Sa mộc dầu tại 4 ô tiêu chuẩn (OTC 2, 3, 5, 7). Cá thể có kích thước lớn nhất được ghi nhận tại OTC 2 (tuyến Túng Sán, đai cao 1060m) với đường kính ngang ngực $D_{1.3} = 80\text{ cm}$ và chiều cao vút ngọn $H_{vn} = 33\text{ m}$.
3. Đặc điểm quả nón và khả năng phát tán hạt của Sa mộc dầu có điểm gì đặc thù so với các loài hạt trần khác?
Khác với nhiều loài hạt trần thông thường hạt tự tách khỏi nón để phát tán theo gió, khi quả nón Sa mộc dầu chín, hạt vẫn nằm nguyên trên nón. Nón sau đó rụng xuống đất; nếu gặp điều kiện môi trường thuận lợi, hạt sẽ nảy mầm và mọc thành cây con ngay trên quả nón rụng. Do đó, khả năng tự phát tán rộng của hạt rất kém.
4. Kết quả điều tra thực địa ghi nhận tình hình tái sinh tự nhiên của loài cây này dưới tán rừng như thế nào?
Trong cả 9 ô tiêu chuẩn đã khảo sát, không phát hiện thấy bất kỳ cá thể cây tái sinh tự nhiên nào ở giai đoạn cây con. Nguyên nhân do mật độ cây mẹ quá ít, hạt không tự phát tán xa và áp lực khai thác, đào bới gốc rễ của con người trong quá khứ đã làm suy kiệt tầng cây tái sinh.
5. Tác giả đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh cụ thể nào để xúc tiến tái sinh loài?
Tác giả đề xuất phát dọn thực bì cục bộ để tăng cường độ ánh sáng dưới tán rừng; làm đất xới xáo mặt đất dưới tán cây mẹ để tạo điều kiện cho hạt tiếp xúc với đất mầm; đồng thời tổ chức thu hái nón chín vào tháng 3 đến tháng 5 để bóc tách hạt đem gieo ươm nhân tạo tại các khoảng trống rừng phù hợp.
Kết luận
Khóa luận của Cháng Văn Cường đã làm rõ hiện trạng phân bố không gian và các đặc điểm lâm học cơ bản của loài Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh. Dữ liệu thực nghiệm chỉ ra rằng quần thể loài đang bị suy thoái nghiêm trọng, chỉ ghi nhận 11 cá thể trưởng thành rải rác trên diện tích 2.888,5 ha và hoàn toàn vắng bóng cây tái sinh tự nhiên dưới tán rừng. Công trình cung cấp tọa độ định vị GPS chính xác của từng cá thể cây mẹ cùng hệ thống giải pháp kỹ thuật và cơ chế quản lý đồng bộ, tạo luận cứ khoa học quan trọng cho công tác bảo tồn nguồn gen nguy cấp này tại tỉnh Hà Giang.