Đặt vấn đề Rừng là lá phổi xanh bảo vệ trái đất, rừng còn là tài nguyên quý giá và có khả năng tái tạo. Rừng không chỉ giữ vai trò là cơ sở phát triển kinh tế mà nó còn giữ chức năng sinh thái quan trọng. Rừng là thành phần quan trọng nhất của sinh quyển, là nguồn vật chất và tinh thần cơ bản thoả mãn nhu cầu của con người. Rừng và đời sống là hai mặt của một vấn đề, chúng có mối quan hệ với nhau rất chặt chẽ và nếu so sánh với những cái chung thì có những đặc điểm riêng của nó.
Tất cả mọi đời sống xã hội, các quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của con người đều liên quan đến rừng. Nếu không có rừng thì xã hội loài người sẽ không tồn tại được. Song để tách rời giữa rừng và đời sống xã hội không đơn bởi thực tế cho ta thấy rừng là một hệ sinh thái vô cùng phong phú và phức tạp bao gồm nhiều thành phần và các quy luật sắp xếp khác nhau theo không gian và thời gian. Bảo tồn sinh học đi liền với hệ sinh thái trong nghiên cứu sự phát tán, di cư, ảnh hưởng quy mô dân số, suy thoái trong giao phối cận huyết, và số lượng tối thiểu của các loài quý hiếm hoặc đang bị đe dọa, đây là những yếu tố ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới sự tồn tại của một loài.
Bảo tồn sinh học có vai trò quan trọng trong việc duy trì, biến mất hoặc phục hồi đa dạng sinh học và khoa học trong việc duy trì quá trình tiến hóa gây ra sự di truyền, dân số, các loài, và đa dạng hệ sinh thái. Rừng là yếu tố cơ bản của môi trường, giữ vai trò quan trọng trong việc phòng hộ, duy trì cân bằng sinh thái, bảo vệ đa dạng sinh học bảo tồn nguồn gen, các nguồn lâm đặc sản khác, phục vụ nhu cầu của con người tuy nhiên rừng trên thế giới cũng như ở Việt Nam đang bị suy thoái nghiêm trọng. Nhiều loài cây quý hiếm có giá trị đã bị biến mất, nhiều khu rừng lớn đã bị h 2 biến mất, nhiều khu rừng lớn đã bị chia cắt thành nhiều mảng nhỏ hay bị khai thác quá mức làm mất cấu trúc rừng. Cho đến nay đã xác định được trên 2.000 loài thực vật (McNab et al.
2000), trong đó có nhiều loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam (Anon, 1996) như Trai (Gracinia fragraeoides), Mun (Diospyrus mollis), Nghiến gân ba (Excentrodendron tonkinensis). Trong những năm gần đây trong công cuộc trồng rừng của nước ta đang có xu hướng bổ sung cơ cấu cây trồng bằng các loài cây địa phương. Nghiến gân ba là một loài cây lớn, cho gỗ tốt, có giá trị kinh tế và giá trị sử dụng cao. Chính vì vậy cây gỗ Nghiến gân ba là cây gỗ có giá trị quý hiếm cho nên trong nhưng năm qua đã bị khai thác với số lượng rất lớn, nên hiện nay chỉ có một số vùng còn rất ít và ở rừng núi đá vôi và tập trung chủ yếu ở các khu bảo tồn thiên nhiên như Hữu Liên, Ba Bể, Phượng Hoàng v.v… Vì vậy việc nghiên cứu đặc điểm sinh vật học cây Nghiến gân ba là một yêu cầu bức thiết về cả lý luận và thực tiễn.
Sự tái sinh các loài cây trên núi đá vôi rất khó và sự sinh trưởng của chúng rất chậm chạp, loài Nghiến gân ba trên núi đá vôi mất hàng trăm, nghìn năm sau mới có được cây Nghiến gân ba ba cổ thụ, việc khôi phục loài này là hết sức khó khăn. Những năm qua, tại một số khu rừng đặc dụng, Vườn quốc gia vẫn còn tình trạng khai thác trái phép Nghiến gân ba, chủ yếu là khai thác Nghiến gân ba dưới dạng thớt mang tiêu thụ. Chính vì vậy số lượng diện tích rừng Nghiến gân ba giảm rất mạnh và đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cao. Để bảo tồn và phát triển cây Nghiến gân ba nguồn gen thực vật quý hiếm tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học loài cây Nghiến gân ba (Excentrodendron tonkinensis Gagnep) nhằm góp phần bảo tồn và phát triển nguồn gen cây rừng quý, hiếm tại xã Nghinh Tường, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Xác định được thực trạng phân bố của loài Nghiến gân ba - Xác định một số đặc điểm lâm học của loài Nghiến gân ba - Đề xuất được một số giải pháp nhằm bảo tồn loài cây Nghiến gân ba (Excentrodendron tonkinensis Gagnep) tại xã Nghinh Tường, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp tôi hiểu thêm về sự phân bố và sinh trưởng của cây Nghiến gân ba. - Ứng dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn.
- Biết được tầm quan trọng của loài thực vật quý hiếm như cây Nghiến gân ba nói riêng, và các loài cây quý hiếm sống kèm cây Nghiến nói chung. - Biết được tầm quan trọng của công tác bảo tồn trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng hiện nay. - Kết quả nghiên cứu của khoá luận sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu khác về loài cây Nghiến gân ba. Ý nghĩa trong thực tiễn - Việc nghiên cứu và đánh giá đặc điểm, tình trạng phân bố của loài Nghiến gân ba nhằm đề xuất một số giải pháp bảo tồn.
- Đề xuất một số giải pháp hỗ trợ bảo tồn loài tại xã Nghinh Tường, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên cũng như các địa bàn khác có điều kiện tương tự. h 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội thì vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học ngày càng được quan tâm và chú trọng. Quá trình đô thị hóa, ô nhiễm môi trường, chặt phá rừng là những nguyên nhân gây suy giảm diện tích rừng, suy giảm đa dạng sinh học, nhiều loài động thực vật quý đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
Vì vậy cần có những hành động cụ thể của cộng đồng đó là các chương trình, dự án để bảo tồn một cách kịp thời. Trong đó Nghiến gân ba là loài gỗ quý có giá trị kinh tế cao, đã và đang bị khai thác mạnh dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng chính trong tương lai gần vì thế chúng ta cần có những nghiên cứu cụ thể về đặc tính sinh học của loài này từ đó đề xuất các biện pháp bảo tồn Về cơ sở sinh học Công việc nghiên cứu đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng cần phải nắm rõ đặc điểm sinh học của từng loài. Việc hiểu rõ hơn về đặc tính sinh học của loài giúp chúng ta có những biện pháp tác động phù hợp, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm, từ đó giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật. Về cơ sở bảo tồn Biến đổi khí hậu, chặt phá rừng làm cho nhiều loài động, thực vật đứng trước nguy cơ tuyệt chủng chính vì vậy công tác bảo tồn loài, bảo tồn đa dạng sinh học ngày càng được quan tâm và chú trọng.
Cây Nghiến gân ba tuy có khu phân bố rộng, nhưng bị khai thác rất mạnh (trước đây để lấy gỗ dùng trong xây dựng và làm tà vẹt, hiện nay dùng làm thớt chủ yếu xuất khẩu trái phép qua biên giới). Số cá thể trưởng thành đã bị chặt phá > 50%. Tuy có ở các Vườn quốc gia: Ba Bể, Vườn quốc gia Phia h 5 Đén – Phia oắc, Vườn quốc gia Xuân Sơn, Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng,… và các Khu bảo tồn thiên nhiên Pà Cò - Hang Kia, Hữu Liên, Na Hang, Bắc Mê, Bát Đại Sơn, Phong Quang, Tây Côn Lĩnh, Kim Hỷ, Nam Xuân Lạc, Thần Sa- Phượng Hoàng,… nhưng tại những nơi đó vẫn bị khai thác trộm. Loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng cao ngoài thiên nhiên.
Đây là cơ sở khoa học giúp tôi tiến hành khoá luận tốt nghiệp này Nghiến gân ba (danh pháp hai phần: Burretiodendron hsienmu) là một loài thực vật có hoa, trước đây được phân loại trong họ Đoạn (Tiliaceae) còn hiện nay thuộc phân họ Dombeyoideae của họ Cẩm quỳ (Malvaceae) nghĩa rộng. Nghiến gân ba sống ở Trung Quốc và Việt Nam. Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng ở Quảng Bình có loại cây này. Tổng quan về tình hình nghiên cứu trên thế giới 2.
Nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài cây Có rất nhiều công trình liên quan đến hình thái và phân loại các loài cây. Những nghiên cứu này tập trung đầu tiên vào những mô tả phân loại các loài các nhóm loài, có thể kể đến một vài công trình rất quen thuộc liên quan đến các nước lân cận như: Thực vật chí Quảng Đông Trung Quốc (9 tập), thực vật chí Hong Kong (1861), thực vật chí miễn Điện (1877), thực vật chí Việt Nam (1977). Sự ra đời của các thực vật chí đã góp phần làm tiền đề cho công tác nghiên cứu về hình thái, phân loại cũng như đánh giá tính đa dạng của các vùng miền khác nhau. Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học Sinh thái học thực vật cũng có thể được chia ra theo các cấp độ tổ chức bao gồm sinh lý học sinh thái thực vật, sinh thái học quần thể thực vật, sinh thái học quần xã, sinh thái học hệ sinh thái, sinh thái học cảnh quan và sinh thái học sinh quyển [9].N (1976) [20], cho rằng, trong rừng nhiệt đới sự thiếu hụt ánh sáng đã làm ảnh hưởng đến phát triển của cây con, còn đối với sự nảy mầm thì ảnh hưởng đó thường không rõ ràng.
Đối với rừng nhiệt đới, số lượng loài cây trên một đơn vị diện tích và mật độ tái sinh thường khá lớn. Vì vậy, khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên cần phải đánh giá chính xác tình hình tái sinh rừng và có những biện pháp tác động phù hợp. Cấu trúc rừng là hình thức biểu hiện bên ngoài của những mối quan hệ qua lại bên trong giữa thực vật rừng với nhau và giữa chúng với môi trường sống. Nghiên cứu cấu trúc rừng để biết được những mối quan hệ sinh thái bên trong của quần xã, từ đó có cơ sở để đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động 7 phù hợp.
Hiện tượng thành tầng là một trong những đặc trưng cơ bản về cấu trúc hình thái của quần thể thực vật và là cơ sở để tạo nên cấu trúc tầng thứ.