CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan lymphôm da Lymphôm nguyên phát ở da là các phân nhóm riêng biệt của lymphôm ngoài hạch, cả về lâm sàng và mô bệnh học. Bệnh được định nghĩa là tân sinh của hệ miễn dịch, đặc trưng bởi sự tăng sinh lymphô T, lymphô B, hay tế bào diệt tự nhiên có tính hướng da. Theo định nghĩa, lymphôm da nguyên phát phải không có bằng chứng biểu hiện của lymphôm ngoài da lúc chẩn đoán.
Ngoài lymphôm, da có thể là vị trí nguyên phát của các bệnh ác tính của hệ tạo máu như bệnh bạch cầu dòng tủy và tân sinh tế bào tua dạng tương bào. Các rối loạn này nên được xem như biểu hiện thứ phát ở da của một bệnh lí máu ác tính 12. Lymphôm da nguyên phát nên được phân biệt với biểu hiện thứ phát ở da của lymphôm ngoài da (thường ở hạch) và bệnh bạch cầu, các bệnh này tương ứng với di căn, có tiên lượng xấu hơn và điều trị khác hẳn. Do mô bệnh học nguyên phát và thứ phát của lymphôm da có thể giống nhau, cần phải đánh giá toàn diện để thiết lập chẩn đoán chính xác (nhất là giai đoạn sớm của u sùi dạng nấm).
Các đánh giá này có thể là thăm khám lâm sàng, xét nghiệm, siêu âm hạch và nội tạng, chụp cắt lớp vi tính và/hoặc chụp cắt lớp positron và sinh thiết tủy xương 3,12. Bảng phân loại của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức Nghiên cứu và Điều trị Ung thư Châu Âu (EORTC) về lymphôm da lần đầu tiên xuất bản năm 1997, sau đó được sửa đổi năm 2005 và 2018 (Bảng 1. Phân loại lymphôm da nguyên phát sửa đổi của WHO-EORTC. và cộng sự 5 Lymphôm da dòng tế bào T U sùi dạng nấm U sùi dạng nấm hướng nang lông Bệnh lưới dạng Paget Trợt da dạng u hạt Hội chứng Sézary Lymphôm/bệnh bạch cầu tế bào T người lớn Rối loạn tăng sinh lymphô CD30+ nguyên phát ở da • Sẩn dạng lymphôm • Lymphôm tế bào lớn thoái sản nguyên phát da Lymphôm tế bào T giống viêm mô mỡ dưới da Lymphôm tế bào T/NK ngoài hạch, kiểu mũi Nhiễm mạn tính vi rút Epstein-Barr hoạt động Lymphôm tế bào T ngoại vi nguyên phát ở da, phân nhóm hiếm gặp • Lymphôm tế bào T 𝛾/𝛿 nguyên phát ở da • Lymphôm tế bào T độc CD8+ tiến triển nhanh hướng thượng bì nguyên phát ở da • Rối loạn tăng sinh lymphô tế bào T nhỏ/trung bình CD4+ nguyên phát ở da • Lymphôm tế bào T CD8+ nguyên phát vùng cực xa của da • Lymphôm tế bào T ngoại vi nguyên phát ở da, không đặc hiệu Lymphôm da dòng tế bào B Lymphôm vùng rìa nguyên phát ở da Lymphôm trung tâm mầm nguyên phát ở da Lymphôm tế bào lớn lan tỏa, kiểu chân nguyên phát ở da Loét da niêm dương tính với vi rút Epstein-Barr Lymphôm tế bào B lớn trong mạch.
U sùi dạng nấm 1. Định nghĩa U sùi dạng nấm (MF) là lymphôm tế bào T nguyên phát ở da, hướng thượng bì của lymphô T kích thước nhỏ đến trung bình kèm nhân dạng não. Thuật ngữ “MF” chỉ được dùng cho những ca kinh điển đặc trưng bởi sự tiến triển của dát, mảng, u và các biến thể với cùng diễn tiến lâm sàng. MF hướng nang lông, trợt da dạng u hạt, và bệnh lưới dạng Paget có đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học khác biệt và được tách ra như các biến thể riêng 10.
Dịch tễ MF là PCTCL thường gặp nhất, chiếm khoảng 50% tổng lymphôm nguyên phát ở da 13. Hầu hết bệnh nhân trưởng thành hoặc lớn tuổi, nhưng bệnh có thể xảy ra ở trẻ em và thiếu niên 14,15. Tỉ lệ nam:nữ là 2:1 13. Đặc điểm lâm sàng Các tổn thương của MF có thể được chia thành dát, mảng, và u, và hình thái lâm sàng đã được dùng để phân loại bệnh với 3 giai đoạn lâm sàng dựa theo sự hiện diện của các tổn thương này.
Ba giai đoạn phản chiếu hoạt động bệnh và tương quan đến tiên lượng 16. − Dát được đặc trưng bởi các tổn thương lớn, đỏ da, vẩy mịn với các mức độ thay đổi, có thể nhiều vị trí hoặc khu trú (Hình 1. Dát khu trú thường có khuynh hướng ở mông và các vùng ít tiếp xúc ánh nắng 3. Đóng vẩy thay đổi và có thể cũng phụ thuộc việc điều trị tại chỗ trước đó 10.
Dát có thể kéo dài vài tháng hoặc vài năm trước khi tiến triển đến giai đoạn mảng, hoặc các mảng có thể xuất hiện tự phát 7. Các chẩn đoán phân biệt trên lâm sàng gồm viêm da tiếp xúc, vảy nến, phản ứng thuốc nặng 12. U sùi dạng nấm, giai đoạn dát. Các tổn thương dát lớn xung quanh vùng da ít tiếp xúc.
Nguồn: Kang S 7 − Mảng được đặc trưng bởi các tổn thương xâm nhập, nâu-đỏ, đóng vẩy thay đổi (Hình 1. Các dát điển hình thường liên tiếp với mảng hoặc ở vị trí khác. Kích thước và hình dạng mảng thay đổi; loét không thường gặp. Các mảng nên phân biệt với u phẳng dù việc phân biệt này khá chủ quan 16.2 U sùi dạng nấm, giai đoạn mảng.
(A) Nhiều mảng hồng ban trên cánh tay. (B) Các mảng ở độ phóng đại cao hơn. 7 − U có thể đơn độc, khu trú, hoặc nhiều vị trí (hay gặp ở vùng mặt, trên cơ thể chủ yếu ở các nếp gấp lớn như nách, nếp vú) và thường (nhưng không phải luôn luôn) kèm với dát và mảng 3 (Hình 1. Loét thường gặp; ở giai đoạn dát và mảng hầu như không bao giờ loét và chảy máu (trừ khi có chấn thương) 16.
U sùi dạng nấm, giai đoạn u. (A) Các dát, mảng, và u nhiều vị trí. (B) U lớn, dạng nấm kèm loét và các dát, mảng. Nguồn: Cerroni L 16 Ngứa thường là triệu chứng nổi bật trong tất cả giai đoạn bệnh và có thể rất khó điều trị 17.
Đỏ da toàn thân có thể tự phát hoặc phát sinh trong quá trình bệnh MF, khó phân biệt với hội chứng Sézary không có tiền căn lâm sàng phù hợp 7,16. Tỉ lệ ung thư khác ngoài lymphôm tăng ở bệnh nhân MF 18,19. Ở những bệnh nhân này, MF có thể tương ứng với bệnh ác tính nguyên phát hoặc thứ phát. Ngoài lymphôm Hodgkin và không Hodgkin, bệnh ác tính thứ phát khác thường gặp nhất là melanôm, carcinôm phổi, carcinôm đại tràng, và carcinôm thận, cũng như carcinôm vú ở nữ và carcinôm tuyến tiền liệt ở nam.
Nhiễm trùng cũng thường gặp và đôi khi nghiêm trọng hơn so với dân số chung 20. Mô bệnh học Mô học tổn thương da thay đổi theo giai đoạn bệnh. − Các tổn thương dát sớm có sự xâm lấn giống dải nông hoặc dạng lichen, chủ yếu là lymphô và mô bào (Hình 1. Các tế bào không điển hình có kích thước nhỏ đến trung bình, nhân dạng não chủ yếu gặp ở lớp đáy của thượng bì, thường có quầng sáng quanh nhân, đơn độc hay xếp thành cụm 10.
Bạch cầu ái toan và tương bào ít hoặc không hiện diện 12,21. Không thấy xốp bào là dấu hiệu quan trọng để phân biệt với chàm trong giai đoạn này 3. U sùi dạng nấm giai đoạn dát. (A) Các lymphô hướng thượng bì với các quầng sáng quanh nhân, nhân lớn hơn các lymphô trong lớp bì nông.
Nguồn: Cerroni L 16 − Ở các mảng điển hình, tính hướng thượng bì rõ hơn với đặc trưng là sự hiện diện các đám tế bào không điển hình trong thượng bì (vi áp xe Pautrier), nhưng chỉ gặp trong 17-37,5% trường hợp 10 (Hình 1. Lớp bì thường thấm nhập các tế bào viêm phản ứng như bạch cầu ái toan, tương bào và mô bào, thỉnh thoảng có thể bắt gặp đại bào 12. U sùi dạng nấm, giai đoạn mảng. Xâm nhập lymphô dạng dải dày đặc ở lớp bì (H&E, 20x).
Nguồn: Cerroni L 16 − Kèm với sự tiến triển thành giai đoạn u, sự xâm nhập lớp bì trở nên lan tỏa, và tính hướng thượng bì có thể mất (Hình 1. Tế bào u tăng số lượng và kích thước, nhân dị dạng hoặc dạng nguyên bào. Chuyển dạng mô học được định nghĩa khi có > 25% tế bào u lớn (trên 4 lần kích thước lymphô bào) xâm nhập trong lớp bì, chủ yếu ở giai đoạn u nhưng có thể gặp ở giai đoạn mảng, hiếm khi ở giai đoạn dát (Hình 1. Các tế bào lớn này có thể dương hoặc âm với CD30 10.6 U sùi dạng nấm, giai đoạn u.
(A) Tế bào u xâm nhập lan tỏa, dày đặc toàn bộ lớp bì và mô mỡ dưới da. U sùi dạng nấm với chuyển dạng tế bào lớn. Nguồn:Cerroni L 16 Hạch bạch huyết ở bệnh nhân MF thường giãn rộng vùng dưới vỏ do sự hiện diện số lượng lớn các mô bào và tế bào kẽ có bào tương nhiều, nhạt màu. Hệ thống giai đoạn của MF được đề xuất bởi Hiệp hội Lymphôm da quốc tế và Tổ chức Nghiên cứu và Điều trị Ung thư Châu Âu gồm 3 mức độ cho hạch bất thường trên lâm sàng (Bảng 1.
Các giai đoạn của u sùi dạng nấm 10 Giai đoạn TNMB Da T1 Dáta, sẩnb giới hạn và/hoặc mảng < 10% diện tích da. Có thể phân thành T1a (chỉ có dát) và T1b (mảng ± dát) T2 Dát, sẩn giới hạn hoặc mảng > 10% diện tích da. Có thể phân thành T2a (chỉ có dát) và T2b (mảng ± dát) T3 ≥ 1 vị trí uc (≥ 1cm đường kính) T4 Đỏ da kết cụm phủ ≥ 80% diện tích da Hạch N0 Lâm sàng không ghi nhận hạch lớnd, không cần sinh thiết N1 Hạch lớn bất thường trên lâm sàng; phân độ mô học Dutch độ 1 hoặc NCI LN2 N1a Dòng vô tính âme N1b Dòng vô tính dươnge N2 Hạch lớn bất thường trên lâm sàng; phân độ mô học Dutch độ 2 hoặc NCI LN3 N2a Dòng vô tính âme N2b Dòng vô tính dươnge N3 Hạch lớn bất thường trên lâm sàng; phân độ mô học Dutch độ 3 hoặc NCI LN4, bất kể dòng vô tính âm hay dương .