CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung 1. Tên bệnh Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Porcine respiratory and reproductive syndrome - PRRS) còn gọi là “Bệnh tai xanh”, là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với lợn, gây ra do virus. Bệnh lây lan nhanh với các biểu hiện đặc trưng viêm đường hô hấp rất nặng như: Sốt, ho, thở khó và ở lợn nái là các rối loạn sinh sản như: sẩy thai, thai chết lưu, lợn sơ sinh chết yểu.
Bệnh được ghi nhận lần đầu tiên ở Mỹ, tại vùng Bắc của bang California, bang Iowa và bang Minnesota vào khoảng năm 1987. Thời gian đầu do chưa xác định được nguyên nhân và chưa có những hiểu biết rõ ràng về bệnh nên các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đã được sử dụng để đặt tên cho bệnh với những tên gọi khác nhau như sau: - Hội chứng hô hấp và vô sinh của lợn (SIRS), - Bệnh bí hiểm ở lợn (MDS) như ở châu Mỹ, - Hội chứng hô hấp và sảy thai ở lợn (PEARS), - Hội chứng hô hấp và sinh sản ở lợn (PRRS), - Bệnh Tai xanh như ở châu Âu. Năm 1992, tại Hội nghị Quốc tế về Hội chứng này được tổ chức tại Minesota (Mỹ), Tổ chức Thú y thế giới (OIE) đã thống nhất tên gọi là Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (tiếng Anh: Porcine respiratory and reproductive syndrome = PRRS) (Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2007) [5]. Tình hình bệnh 1.
Tình hình dịch PRRS trên thế giới Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn được ghi nhận lần đầu tiên trong các báo cáo về các thiệt hại của ngành công nghiệp chăn nuôi n 5 tại Mỹ. Tại các ổ dịch biểu hiện các triệu chứng lâm sàng của PRRS đã được báo cáo ở Mỹ vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước (1987) người ta thấy số lượng lợn chết trong điều kiện bình thường tăng lên và lợn chậm lớn. Các triệu chứng lâm sàng bao gồm rối loạn sinh sản nghiêm trọng, viêm phổi ở lợn con sau cai sữa, chậm lớn, giảm năng suất và tỷ lệ tử vong tăng (Neumann và cs, 2005) [38]. Khi đó đã có nhiều giả thuyết được đặt ra, người ta cũng bắt đầu kiểm tra sự bất thường ở đường sinh sản của lợn giống nhưng vào thời điểm đó vẫn chưa thể biết được mối liên hệ của nguyên nhân gây ra tình trạng nêu trên, bệnh vẫn còn là một bí ẩn.
Hàng năm ước tính tiêu phí ngành công nghiệp chăn nuôi lợn ở Mỹ là 560 triệu USD cho bệnh tai xanh (Neumann và cs, 2005) [38]. Rất nhanh chóng, năm 1988 bệnh tai xanh đã lan sang nước láng giềng Canada và tiếp tục hoành hành trong khi đó bí ẩn về căn bệnh vẫn chưa được giải mã. Hai năm sau các ổ dịch có các triệu chứng lâm sàng tương tự đã được báo cáo ở CHLB Đức (1990). Năm năm sau (1991) kể từ khi có báo cáo đầu tiên về bệnh, virus đã được tìm thấy tại Hà Lan.
Các tác giả người Hà Lan đã xác định được đặc tính của virus sau khi thực nghiệm thành công các chỉ tiêu của định đề Koch và virus được đặt tên là virus Lelystad, là tên Viện Thú y đã phát hiện ra virus (Terpstra và cs, 1991) [47]. Sau đó không lâu, virus PRRS được Mỹ đặt tên là ATCC VR – 2332 (Collin và cs, 1992) [22]. Đứng trước những thiệt hại cũng như diễn biến phức tạp của bệnh, năm 1992, tại hội nghị quốc tế về bệnh tổ chức ở St.Paul, Minnesota, tổ chức Thú y thế giới (OIE) đã chính thức đặt tên cho bệnh này là Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome - PRRS) (Gonnie Nodelijk, 1996) [28]; (E. n 6 Tính từ năm 2005 trở lại đây, 25 nước vùng lãnh thổ thuộc tất cả các châu lục (trừ châu Úc và New Zealand) trên Thế giới đã báo cáo phát hiện có PRRS lưu hành.
Con số thực tế sẽ còn khác rất nhiều. Trong số các nước nêu trên có cả các nước có ngành chăn nuôi phát triển mạnh như Mỹ, Hà Lan, Đan Mạch, Anh, Pháp, Đức… Bảng 1. Bảng các nước đã xác định có PRRS xuất hiện Nước Thời gian báo cáo cuối cùng Canada Tháng 7- Tháng 12 năm 2006 Comlombia Tháng 7- Tháng 12 năm 2006 Costa Rica Tháng 7- Tháng 12 năm 2006 Pháp Tháng 7- Tháng 12 năm 2006 Đức Tháng 7- Tháng 12 năm 2005 Ailen Tháng 7- Tháng 12 năm 2006 Nhật Bản Tháng 7- Tháng 12 năm 2006 Triều Tiên Tháng 7- Tháng 12 năm 2006 Hà Lan Tháng 7- Tháng 12 năm 2005 Philippin Tháng 7- Tháng 12 năm 2006 Bồ Đào Nha Tháng 1- Tháng 6 năm 2005 Tây Ban Nha Tháng 7- Tháng 12 năm 2006 Vương Quốc Anh Tháng 1- Tháng 6 năm 2006 Mỹ Tháng 7 - Tháng 12 năm 2006 n 7 Hình 1. Bản đồ lịch sử xuất hiện PRRS trên thế giới Tại Trung Quốc, dịch bệnh PRRS đã xuất hiện trong những năm gần đây và hiện đang còn tồn tại.
Theo Tian và cs ( 2007) [48], virus PRRS gây ra đại dịch lây lan ở hơn 10 tỉnh thành của Trung Quốc làm chết 2.000 con lợn, trong đó có hơn 400.000 sảy thai, đẻ non. Tính từ đầu năm đến tháng 7/2007, dịch bệnh đã xảy ra ở trên 25 tỉnh, với trên 180.000 lợn mắc bệnh và 45. Qua một số nghiên cứu với qui mô lớn, người ta đã xác định virus gây bệnh PRRS tại Trung Quốc thuộc chủng Bắc Mỹ thể cường độc gây ra. Tại Thái Lan, một nghiên cứu quy mô rộng lớn từ năm 2000 – 2003 cho thấy các virus PRRS được phân lập từ nhiều địa phương gồm cả chủng Châu Âu và chủng Bắc Mỹ, trong đó virus thuộc chủng Bắc Mỹ chiếm 33,58%.
Dịch bệnh PRRS lần đầu tiên xuất hiện ở nước này vào năm 1989 và tỷ lệ lưu hành huyết thanh của bệnh cũng thay đổi khác nhau, từ 8,7% vào năm 1991 và trên 76% vào năm 2002. Nguồn gốc PRRS tại Thái Lan là do việc sử dụng tinh lợn nhập nội đã bị nhiễm virus PRRS hoặc là do các đàn nhập nội mang trùng. Tình hình dịch PRRS ở Việt Nam Lần đầu tiên trong lịch sử xuất hiện PRRS ở Việt Nam vào năm 1997, PRRS được phát hiện trên đàn lợn nhập từ Mỹ vào các tỉnh miền Nam. Kết quả kiểm tra thấy 10/51 lợn giống nhập khẩu có huyết thanh dương tính với PRRS theo Cục Thú y (2007) [3].
Toàn bộ số lợn này đã được xử lý vào thời gian đó. Tuy nhiên, trong những năm tiếp theo, các nghiên cứu về bệnh trên những trại lợn giống tại các tỉnh phía Nam cho thấy tỷ lệ lợn có huyết thanh dương tính với bệnh rất khác nhau, từ 1,3% cho tới 68,29% theo Bộ NN và PTNT (2007) [1]. Như vậy có thể thấy virus PRRS đã xuất hiện và lưu hành tại nước ta trong một thời gian dài. Tuy nhiên, kể từ khi xác định được lợn có kháng thể kháng virus PRRS ở đàn lợn giống nhập từ Mỹ, tại Việt nam chưa từng có vụ dịch PRRS nào xảy ra.
Dấu ấn quan trọng của dịch PRRS tại Việt Nam được bắt đầu từ ngày 12/3/2007 khi hàng loạt đàn lợn tại Hải Dương có những biểu hiện ốm khác thường sau đó lây lan ra các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ gây thiệt hại rất lớn cho ngành chăn nuôi lợn (Tô Long Thành và cs, 2008) [10]. Đầu năm 2008 dịch tái xuất hiện ở nhiều xã thuộc tỉnh Hà Tĩnh và chỉ 1 tháng sau (tháng 4/2008) dịch đã bùng phát ở 775 xã, phường thuộc 57 huyện thị của 10 tỉnh: Hà Tĩnh, Thanh Hoá, Quảng Nam, Nghệ An, Lâm Đồng, Thừa Thiên Huế, Thái Bình, Thái Nguyên, Ninh Bình và Nam Định với tổng số lợn mắc bệnh khoảng 255.250 con, số chết và phải tiêu huỷ là 254. Đây là đợt dịch lớn nhất từ trước đến nay. Cho đến tháng 7 năm 2008 tổng số lợn mắc bệnh là 16.677 con, số chết và buộc phải tiêu huỷ là 14.
Tình hình cho thấy virus gây bệnh đã phân tán rộng và có khả năng bùng phát thành dịch lớn trên cả nước nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời. Ngày 18/2/2009 dịch PRRS trên lợn đã xuất hiện lại tại tỉnh Quảng Ninh, dịch bùng phát tại huyện Yên Hưng, Quảng n 9 Ninh với tổng số 76 con ốm, trong đó có 23 lợn nái và 53 lợn thịt. Ngày 28/2/2009 đã xuất hiện tại Duy Xuyên, Quảng Nam, cho đến nay tình hình diễn biến của bệnh vẫn đang vô cùng phức tạp chưa thể thống kê đầy đủ các thiệt hại do bệnh gây ra. Tháng 3/2010 dịch bệnh PRRS tái xuất hiện ở Hải Dương sau một thời gian lắng xuống rất nhanh chóng phát tán cả 3 miền Bắc, Trung, Nam.
Theo Cục thú y tính đến 05/10/2010 cả nước trên 621.000 lợn mắc dịch, chết và tiêu hủy trên 336. Theo báo cáo cáo năm 2012 của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, toàn quốc ghi nhận các ổ dịch tai xanh tại 453 xã/ phường, thị trấn của 95 quận/ huyện thuộc 28 tỉnh. Tổng số lợn mắc bệnh là 90.688, tổng số chết là 14.065 con, tổng số lợn phải tiêu hủy là 51. Qua giám sát diễn biến của từng ổ dịch theo từng tháng của năm, có thể thấy rằng dịch bắt đầu xuất hiện lẻ tẻ vào đầu tháng 1 đến cuối tháng 3, sau đó phát triển lây lan trên diện rộng trong giai đoạn tháng 4 đến cuối tháng 7.
Theo báo cáo ngày 25/6/2013 của Cục thú y (Bộ NN- PTNT) dịch tai xanh tuy không bùng phát mạnh mẽ nhưng vẫn xuất hiện rải rác tại một vài tỉnh trong khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 5 đã làm chết và tiêu hủy hơn 6000 con lợn. Nguy cơ dịch nổ ra ở bất cứ địa phương nào, bất cứ thời điểm nào là rất lớn đặc biệt những tháng Đông - Xuân, là mối nguy cơ bùng phát dịch bệnh vẫn tiềm ẩn đối với việc phát triển chăn nuôi bền vững của Việt Nam. Phân loại Virus PRRS là một virus ARN chuỗi đơn, có màng bọc, thuộc giống Arterivirus, họ Arteriviridae, bộ Nidovirales (Cavanagh và cs, 1997) [20]. Hiện nay có 2 kiểu gen PRRS chính được công nhận là: n 10 Kiểu gen 1 (Nhóm 1): Các nhóm virus thuộc dòng Châu Âu với tên gọi phổ thông là virus Lelystad (Meulenberg và cs, 1993) [34].
Khi so sánh về di truyền đã thấy sự khác nhau rõ rệt (khoảng 40%) giữa 2 kiểu gen này. Những nghiên cứu gần đây còn cho thấy có sự khác biệt về tính di truyền trong các virus phân lập được từ các vùng địa lý khác nhau. Bản thân các virus trong cùng một nhóm cũng có sự thay đổi về nucleotit khá cao (đến 20%), đặc biệt là các chủng virus thuộc dòng Bắc Mỹ.