Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Virus Gumboro là nguyên nhân gây ra bệnh Gumboro trên gà với tỷ lệ chết từ 1 - 50% số gà nhiễm trong đàn (virus thường ở các dạng độc lực cổ điển gây ra). Đàn gà thịt thương phẩm bị nhiễm có tỷ lệ chết lên đến 50%, các đàn gà từ 3 - 6 tuần có tính nhạy cảm cao với virus (khi túi Fabricius phát triển lớn nhất) thì tỷ lệ chết ít khi vượt quá 3%. Các đàn đang ở thời kì đẻ trứng, sản lượng và chất lượng trứng giảm mạnh, các đàn gà mái tơ Leghorn ở độ tuổi nhạy cảm với bệnh thường có tỷ lệ chết lên đến 20% trong số gà nhiễm bệnh (Müller và cs.
Virus Gumboro tấn công vào cơ thể gà sẽ làm cho các mô lympho trong túi Fabricius bị teo nhỏ, phá hủy cấu trúc túi Fabricius dẫn đến cơ quan có thẩm quyền miễn dịch này mất hoàn toàn hoặc một phần chức năng đáp ứng miễn dịch gây suy giảm miễn dịch (immunodeficiency), tạo điều kiện cho các mầm bệnh kế phát xâm nhập và gây bệnh cho gà đồng thời làm mất khả năng đáp ứng miễn dịch đối với vaccine phòng các bệnh khác (Sharma và cs., 2000); (Müller và cs. Từ năm 1986 đến nay, nhiều nghiên cứu đều cho thấy các chủng virus Gumboro độc lực cao đã gây ra nhiều vụ dịch lớn ở Châu Âu với tỷ lệ gây chết có thể lên tới 70% số gà nhiễm bệnh trong các đàn gà mái đẻ (Van Den Berg, 2000); (Zorman-Rojs và cs. Các chủng virus này gây ra các tổn thương bệnh tích đặc trưng và có sự tương đồng kháng nguyên với chủng virus “cổ điển” gây bệnh dịch Gumboro trong nhiều thập kỷ (Eterradossi và cs. Đặc biệt, các chủng virus có độc lực cao (vvIBDV) có khả năng “lẩn tránh” được đáp ứng miễn dịch dịch thể sinh ra sau kích thích bằng chủng virus cổ điển (không bị trung hòa bởi các kháng thể này) khi xâm nhiễm và gây bệnh ở gà mẫn cảm.
5 Được phát hiện lần đầu tiên cách đây hơn 65 năm, đến nay bệnh Gumboro vẫn đang là mối đe dọa nguy hiểm (gây suy giảm miễn dịch) với ngành chăn nuôi gà ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có cả Việt Nam. Nhiều nghiên cứu mới trên thế giới đã xác định được nguyên nhân gây bệnh và cho thấy được sự thay đổi tính kháng nguyên cũng như xuất hiện các chủng virus mới có tính gây bệnh cao trong nhiều đàn gia cầm được tiêm vaccine (Yuwen và cs. Virus có sức đề kháng cao với hầu hết các chất sát trùng, có thể sống sót đến 6 giờ khi bị tác động trong dung dịch formol 0,5%; bị tiêu diệt trong chloramin 0,5% sau 10 phút và các phức hợp iodine; ở nhiệt độ 560C có thể sống sót đến 5 giờ. Nguyên nhân gây bệnh Nguyên nhân gây bệnh Gumboro là một virus thành viên của nhóm Avibirnavirus thuộc họ Birnaviridae (Brown, 1986).
Trong tự nhiên: gà nhà mẫn cảm với virus Gumboro type I và gà tây mẫn cảm với virus Gumboro type II. Virus Gumboro cũng đã được phát hiện thấy ở gà Nhật và chim bồ câu sống hoang dã ở Châu Phi (Kasanga và cs. Cũng năm 2008, Jeon và cs., 2008) đã phân lập được virus Gumboro ở một số loài chim hoang dã như: vịt trời, ngỗng trời, chim ác là. và cho biết virus có thể gây bệnh trở lại cho gà mẫn cảm, làm teo túi Fabricius và gây chết tới 60%.
Trong phòng thí nghiệm: động vật mẫn cảm (gia cầm từ 2 - 6 tuần tuổi), một số động vật cảm thụ phòng thí nghiệm (chuột lang, chuột bạch, thỏ.) dễ bị gây bệnh, virus Gumboro cũng có khả năng gây bệnh trên phôi gà hoặc môi trường tế bào xơ phôi gà. Cơ chế sinh bệnh Sau khi xâm nhập vào hệ tiêu hóa của gà theo thức ăn, nước uống, virus Gumboro được các tế bào đại thực bào tiếp nhận rồi tiếp xúc với tế bào lympho B còn non (là loại mẫn cảm với virus) và bắt đầu thực hiện quá trình nhân lên cục bộ (nhân lên sơ cấp). Sau 6 - 8 giờ, một lượng đáng kể virus 6 Gumboro được giải phóng và xâm nhập vào hệ tuần hoàn, được hệ tuần hoàn vận chuyển đi khắp cơ thể đến lách, túi Fabricius và một số cơ quan khác. Sau 9 - 11 giờ xâm nhập, số lượng lớn virus Gumboro đã có mặt trong túi Fabricius và bắt đầu tấn công các tế bào lympho B, đây là quá trình nhân lên toàn phần (nhân lên thứ cấp), số lượng lớn virus sẽ xâm nhập vào hệ tuần hoàn lần thứ hai (nhiễm trùng máu).
Ngay sau khi nhiễm vài giờ, đã có hàng loạt virus được giải phóng ra. Song song với virus hoàn chỉnh được tạo nên, một số lượng lớn các loại protein cấu trúc và protein sản phẩm của virus cũng được giải phóng ra xung quanh. Số protein này chính là những tín hiệu khởi phát, tiếp xúc với các tế bào lành, kết hợp với các thụ thể bề mặt, tạo nên “thụ thể chết”, bắt đầu của quá trình chết theo chương trình của hàng loạt tế bào lympho B. Sau khi có sự xâm nhiễm của virus cường độc Gumboro, do 2 nguyên nhân: - Thứ nhất bị virus tấn công, phá hủy dẫn đến hoại tử (necrosis), tế bào lympho B nhiễm virus bị hoại tử tức là bị nổ tung giải phóng các thành phần tế bào và cả virion ra bên ngoài.
Mức độ hoại tử tùy thuộc vào độc lực của virus: loại có độc lực cao (rất cường độc - very virulent virus) phá hủy nhiều, loại độc lực thấp phá hủy ít. - Thứ hai là “chết theo chương trình”, tức là tế bào lympho B bị cảm ứng và chết theo chương trình theo kiểu bị teo vón lại. Sự giảm các tế bào lympho B theo con đường này chưa hẳn phụ thuộc vào độc lực của virus, nhiều khi virus có độc lực thấp lại cảm ứng gây cho tế bào chết nhiều hơn. Theo Skeeles và cs.
7 Một số biến đổi bệnh lý trong một số cơ quan có thể mất đi và dần phục hồi chức năng vốn có, nhưng túi Fabricius không phục hồi được do virus Gumboro nhân lên trong tế bào lympho B và phá hủy túi làm giảm đáng kể số lượng tế bào lympho. Các tế bào lympho mất đi không được bù đắp nên chức năng miễn dịch của túi bị mất một phần hoặc hoàn toàn dẫn đến sự suy giảm miễn dịch (immunodeficiency) mà mức độ suy giảm miễn dịch còn phụ thuộc vào độc lực của virus, thời gian và điểm xâm nhập vào cơ thể gà (Sharma và cs. Khác với nhiều loại virus gây bệnh ở gia cầm, virus Gumboro sẽ lựa chọn túi Fabricius (cơ quan có thẩm quyền miễn dịch) làm cơ quan thích ứng cho sự nhân lên và gây bệnh bằng cách: các tế bào lympho B mang thụ thể kháng thể IgG bề mặt và đại thực bào mà không chọn các cơ quan thích ứng là cơ quan nội tạng hay da, niêm mạc. (Terasaki và cs.
Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích 1. Triệu chứng lâm sàng Sau khoảng 2 - 3 ngày nung bệnh, gà có biểu hiện ngoẹo đầu, ngoẹo cổ, mắt lim dim, mỏi mệt, thường rúc mỏ vào cánh, đầu có khi gục sang một bên, thường nằm dồn về một góc chuồng. Gà bị bệnh sẽ kém ăn hoặc bỏ ăn và uống nhiều nước, mất định hướng, ỉa phân trắng, phân loãng hoặc toàn nước đôi khi có lẫn máu, nhiệt độ cơ thể lúc đầu tăng, sau giảm. Nếu không qua khỏi thì gà chết trong vòng vài ngày.
Sau khi có biểu hiện triệu chứng lâm sàng đầu tiên (ngày thứ 3), trong đàn bắt đầu có cá thể gà chết do mắc bệnh sau đó chết ồ ạt trong vòng 5 - 7 ngày rồi giảm. Từ ngày thứ 10 - 12 gà có thể dứt bệnh và hồi phục dần. Bệnh tích * Bệnh tích đại thể Túi Fabricius: sau khi virus Gumboro xâm nhập vào cơ thể gà 72 giờ sẽ sản sinh độc lực mạnh và gây bệnh, làm cho: túi Fabricius sưng rất to với kích thước và trọng lượng gấp 2 - 3 lần bình thường do xung quanh túi Fabricius thủy thũng kèm chất keo nhầy màu vàng, có khi có bọc dịch thẩm xuất bao 8 quanh túi. Nếu chích hết nước, túi lộ rõ ra, căng tròn, sưng phù.
Túi Fabricius chuyển từ màu vàng sáng sang màu trắng đục, dễ bị bục, mủn, các nếp gấp múi khế sưng không rõ, niêm mạc sưng dầy lên làm cho dung tích khoang túi trở nên hẹp lại. đây chính là giai đoạn viêm sưng của túi (Hình 1. Nhiều cá thể gà bị bệnh Gumboro có đầy đủ các biểu hiện triệu chứng như: viêm sưng, niêm mạc túi có điểm xuất huyết, đôi khi thành vệt, niêm mạc túi chuyển từ màu trắng sang màu thâm tím, nâu đen và thẩm xuất dịch vào trong lòng túi Fabricius (Hình 1. Trong khoảng 48 - 72 giờ sau khi nhiễm, túi Fabricius bắt đầu tăng về kích thước và trọng lượng do thủy thũng và xuất huyết, kích thước túi có thể tăng gấp 2 - 3 lần so với bình thường.
Sau khi nhiễm ngày thứ 4, kích thước túi Fabricius vẫn to gấp đôi, sau đó mới nhỏ dần lại. Ngày thứ 5 sau nhiễm, trọng lượng túi bắt đầu teo đi bằng trọng lượng ban đầu, đến ngày thứ 8 trọng lượng túi chỉ bằng 1/3 trọng lượng ban đầu.1: Bệnh tích túi Fabricius và hệ cơ A: Túi Fabricius sưng to, có thủy thũng keo nhầy ở xung quanh (Nguồn: www.vn/benhvadieutri) B: Xuất huyết bên trong túi Fabricius (Nguồn: www./OrigiInfect/) C: Cơ đùi, cơ lườn bị xuất huyết điểm hoặc thành từng vệt, từng mảng có màu đỏ hay màu nâu thẫm (Nguồn: http://www.vn/contents/article) Hệ cơ: sau khi lột da, chỉ vài phút sau cơ ngực của gà đã khô nhăn lại rất nhanh do mất nước và chuyển màu thẫm, đồng thời xuất hiện những đám lấm 9 chấm hoặc thành từng vệt xuất huyết, có khi các vệt xuất huyết hợp lại tạo thành mảng lớn (Hình 1. Ngoài ra, lách có thể bị sưng nhẹ. Gan sưng, trên bề mặt có những vệt loang lổ màu vàng, rìa gan có thể có hoại tử, đôi khi điểm hoại tử hợp thành từng vệt nhỏ, màu vàng sáng ăn sâu vào nội mô của gan.
Thận sưng, trên bề mặt có những điểm xuất huyết hoặc hoại tử. Có hiện tượng xuất huyết điểm, vệt hoặc từng mảng ở tuyến ức, có thể ăn sâu vào các thùy của tuyến. * Bệnh tích vi thể Các cơ quan có cấu trúc từ tổ chức lympho và các cơ quan tạo miễn dịch như: túi Fabricius, tuyến ức (thymus), lách, hạch, các mô lympho ở ruột. xuất hiện bệnh tích đại thể sớm nhất chỉ trong vài giờ đến vài chục giờ sau khi virus cường độc Gumboro xâm nhập vào cơ thể.