ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Nước ta có hơn 75% dân số làm nông nghiệp, trong đó ngành chăn nuôi chiếm một vị trí quan trọng. Chăn nuôi lợn là nghề truyền thống của người nông dân. Từ việc chỉ chăn nuôi nhỏ, lẻ để tận dụng các phế phụ phẩm nông nghiệp, hiện nay đã có nhiều phương thức chăn nuôi đa dạng, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân.
Chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia súc ở các nước trên thế giới cũng như ở nước ta. Nghề nuôi lợn luôn được chú ý phát triển, ngày càng chiếm ưu thế và có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống nhân dân. Con lợn đã cung cấp 70 - 80% nhu cầu về thịt cho thị trường trong nước và xuất khẩu, đồng thời cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến và phân bón cho ngành trồng trọt. Để đáp ứng được nhu cầu thị trường, trong những năm gần đây chăn nuôi lợn đã có những bước phát triển vượt bậc, tăng nhanh cả về chất lượng và số lượng.
Ngoài những điều kiện thuận lợi, chúng ta còn có nhiều khó khăn, hạn chế trong việc phát triển chăn nuôi lợn, nhất là các tổn thất do dịch bệnh gây ra. Thực tiễn ngành chăn nuôi lợn cho thấy, có nhiều loại dịch bệnh gây tổn thất đáng kể cho người chăn nuôi. Ngoài những bệnh truyền nhiễm thường gặp như: dịch tả, tụ huyết trùng, phó thương hàn… còn phải kể đến các bệnh ký sinh trùng. Trong đó, có một số loài ký sinh trùng phổ biến mà lợn nhiễm với tỷ lệ và cường độ cao như: bệnh sán lá, bệnh giun tròn, bệnh ghẻ.
Những bệnh trên đã gây ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của lợn, đặc biệt là tiêu tốn thức ăn tăng, giảm tăng trọng từ 15 - 20% so với lợn không bị bệnh. Thái Nguyên là một tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam có nghề chăn nuôi lợn khá phát triển. Tuy nhiên, các bệnh do giun tròn gây nên vẫn chưa được chú ý và nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện. Trong những bệnh giun tròn ở lợn, bệnh Oesophagostomosis rất phổ biến, tuy không gây ra thể bệnh cấp tính làm chết lợn hàng loạt, nhưng bệnh Oesophagostomosis làm cho lợn gầy yếu, giảm tăng trọng gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho chăn nuôi lợn.
2 Từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh, đảm bảo sức khỏe cho đàn lợn, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi lợn ở tỉnh Thái Nguyên, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp. trên lợn tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và dùng thuốc điều trị”. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh, đặc điểm sinh học và biện pháp phòng trị bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp. gây ra ở lợn.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Những thông tin khoa học thu được sau khi thực hiện đề tài về một số đặc điểm dịch tễ bệnh và đặc điểm sinh học giun tròn Oesophagostomum spp. ở lợn, sẽ góp phần quan trọng cho việc nghiên cứu các biện pháp phòng và điều trị bệnh Oesophagostomosis ở lợn. Từ đó, đề xuất các biện pháp phòng, trị bệnh cho lợn.
Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi về bệnh giun Oesophagostomum spp. ở lợn để từ đó áp dụng quy trình phòng, trị bệnh giun Oesophagostomum spp. Nhằm hạn chế tác hại đối với lợn, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Đặc điểm sinh học của giun tròn Oesophagostomum spp 2. Vị trí của giun kết hạt Oesophagostomum Oesophagostomum dentatum và Oesophagostomum longicaudum thuộc giống Oesophagostomum, là tác nhân gây ra bệnh giun kết hạt ở lợn. (1977) [30] giun kết hạt Oesophagostomum ở lợn có vị trí trong hệ thống phân loại động vật như sau: Ngành: Nemathelminthes Shneider, 1873 Phân ngành: Nemathelmintha Shneider và Schulz, 1940 Lớp: Nematoda Rudolphi, 1808 Phân lớp: Secerentea Chitwood, 1933 Bộ: Rhabditida Chitwood, 1933 Phân bộ: Strogylata Railliet, 1916 Họ: Trichonematidae Cram, 1927 Phân họ: Oesophagostomatinae Railliet et Henr, 1913 Giống: Oesophagostomum Molin, 1861 Loài: Oesophagostomum dentatum Rudolphi, 1803 Loài: Oesophagostomum longicaudum Goodey, 1925 Nghiên cứu của Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12] về vị trí của giun Oesophagostomum trong hệ thống phân loại động vật như sau: Lớp giun tròn: Nematoda Phân lớp: Secerentea Bộ: Rhabditida Phân bộ: Strogylata Họ: Trichonematida Giống: Oesophagostomum Loài: Oesophagostomum dentatum 4 2. Đặc điểm hình thái và cấu tạo của Oesophagostomum Skrjabin K.
(1977) [30] cho biết: Loài Oesophagostomum dentatum: Dài từ 7 - 14 mm, đầu được giới hạn với thân rõ rệt bởi ngăn bụng sâu. Bao miệng dài tới thực quản hình đinh ghim. Con đực có túi đuôi, 2 gai giao hợp bằng nhau dài 0,90 - 0,94 mm. Con cái âm hộ nằm gần hậu môn, hậu môn ở cách mút đuôi 0,255 - 0,265 mm.
Loài Oesophagostomum logicaudum: Con đực dài 8,8 - 9,5 mm; con cái dài 8 - 11 mm, đuôi rất dài và thon, nhọn. Hậu môn nằm cách mút đuôi 0,453m - 0,543 mm. Âm hộ cách đuôi 0,906 - 0,951 mm. Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5], các loài thuộc giống Oesophagostomum có đặc điểm hình thái chung là túi miệng hình ống rất nhỏ, quanh miệng có một bờ gồ lên hình đĩa, có các tua ở quanh miệng, có rãnh cổ, phía trước rãnh cổ biểu bì nở ra tạo thành túi đầu, sau rãnh cổ có gai cổ, giun đực có túi đuôi và một gai giao hợp dài bằng nhau, âm hộ giun cái ở gần hậu môn.
Loài Oesophagostomum ký sinh ở ruột già của lợn, là loài giun tròn nhỏ, không có cánh đầu, có 9 tua ngoài và 18 tua trong, túi đầu to, gai cổ ở hai bên chỗ phình to của thực quản. Giun đực dài 8 - 9 mm rộng 0,14 - 0,37 mm, có túi đuôi, hai gai giao hợp dài 1 - 1,14 mm. Giun cái dài 8 - 11,2 mm, âm đạo dài 0,1 - 0,15 mm hơi xuyên vào cơ quan thải trứng. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Lê (1998) [17], Trương Lăng, Xuân Giao (2002) [10], Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [11], Phan Lục (2006) [19]: Oesophagostomum dentatum ký sinh ở ruột già lợn, không có cánh đầu.
Túi miệng rộng, có 9 tua ngoài và 18 tua trong, túi đầu to, gai cổ ở hai bên chỗ phình to của thực quản. Con đực dài 8 - 9 mm x 0,37 mm có túi đuôi. Sườn bụng song song nhau, đầu mút của sườn này gắn liền với rìa mép của túi đuôi. Ba sườn hông bắt nguồn ở cùng một gốc, sườn hông trước tách rời hai sườn kia, còn sườn hông giữa và sau song song với nhau, sườn lưng chia thành sườn lưng ngoài và sườn lưng trong, sườn lưng trong lại chia thành hai nhánh, có hai gai giao hợp dài 1 - 1,14 mm.
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12] cho biết thêm: Giun cái dài 8 - 11,3 mm, đuôi dài 0,117 - 0,374 mm. Âm hộ ở trước hậu môn, cách hậu môn 0,208 - 0,388 mm. Âm đạo rộng về trước, dài 0,1 - 1,15 mm hơi xuyên vào cơ quan thải trứng. 5 Giun Oesophagostomum dentatum là loài giun tròn nhỏ không có cánh đầu.
Giun đực có kích thước (7,6 - 8,8) x (0,35 - 0,38) mm có túi đuôi, có hai gai giao hợp dài 0,792 - 1,037 mm. Giun cái dài (7,8 - 12,5) x (0,38 - 0,43) mm, đuôi dài 0,405 - 0,430 mm, dài 0,1 - 1,15, hơi xuyên vào cơ quan thải trứng. Trứng có hình ovan, kích thước (0,036 - 0,071) x (0,032 - 0,045) mm. Phần đầu cơ thể, 3.
Đuôi của con cái, 3. Mút và gốc gai giao phối, 5. Cơ của con đực, 4. Phần cuối gai giao quan điều chỉnh, 6.
Túi đuôi cá thể đực, hợp, 5. Nón sinh dục của con 7. Nón sinh dục đực 2. Vòng đời giun kết hạt lợn Những nghiên cứu của Trương Lăng, Xuân Giao (2002) [10], Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [11], Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12] cho biết: Vòng đời của giun kết hạt không cần vật chủ trung gian.
Gồm 8 - 16 hạt trong vỏ trứng khi mới nở nhiệt độ 25 - 27ºC sau 10 - 17 giờ trứng nở thành ấu trùng (theo Shoulsby cần 24 giờ). Ấu trùng I đo được 304 - 307 µ, lúc mới nở, sau phát triển đo được 6 425 - 433 µ. Ấu trùng I sau 24h ở nhiệt độ 22 - 24ºC phát dục thành ấu trung II dài 440 - 645 µ. Ấu trùng II phát triển được 2 ngày thì ấu trùng gây nhiễm III, dài 515 - 532 µ kể cả vỏ dài 660 - 720 µ.
Phân 25-27ºC Giun kết hạt trưởng thành Trứng Ấu trùng (ký sinh ở ruột già lợn) 10-17 giờ Qua 2 lần Rời lột xác khỏi u kén Ấu trùng có sức gây nhiễm Ký chủ Lột xác lần 3 Lột xác lần 4 nuốt phải Ấu trùng Ruột kỳ IV Hình 1. Sơ đồ vòng đời giun kết hạt Thời gian hoàn thành vòng đời là 24 - 43 ngày. Trứng theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ 25 - 27ºC, sau 10 - 17 giờ nở thành ấu trùng, qua hai lần lột xác, sau 7 - 8 ngày thành ấu trùng gây nhiễm. Khi ký chủ nuốt phải, ấu trùng này tới ruột thì chui vào niêm mạc ruột tạo thành những u kén, lột xác lần thứ 3 tới 6 - 8 ngày thì thành ấu trùng kỳ IV, sau đó rời khỏi niêm mạc ruột vào xoang ruột và lột xác lần nữa tạo thành giun trưởng thành (Phạm Sỹ Lăng, 1997) [9].
Sự phát triển và sức đề kháng của trứng giun kết hạt ở ngoại cảnh Theo Skrjabin K. (1977) [30]: Ở nhiệt độ thích hợp (30ºC), trong trứng ấu trùng phát triển rất nhanh, chỉ qua 16 - 18 giờ mới nở ra và vào môi trường bên ngoài. Ở nhiệt độ cao 45 - 50ºC trứng bị chết, còn ở nhiệt độ thấp 3ºC trứng không phát triển. Archie (2000) [28] nhận xét: Sự phát triển, khả năng sống của ấu trùng cảm nhiễm môi trường trước hết phụ thuộc vào khí hậu.
Gặp nhiệt độ và độ 7 ẩm thích hợp, sau 5 - 6 ngày trứng phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm. Khi nhiệt độ thấp trứng giun nở và phát triển chậm hơn. Theo Phan Địch Lân và cs (2002) [14], Phan Lục, Nguyễn Đức Tâm (2000) [18], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [7]: Trứng giun kết hạt theo phân ra ngoài, gặp điều kiện nhiệt độ 25 - 27ºC, sau 10 - 17 giờ nở thành ấu trùng. Khả năng sống của ấu trùng cảm nhiễm ở ngoại cảnh.