Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong chăn nuôi thú y và quản lý động vật cảnh, chó (Canis lupus familiaris) là loài vật nuôi có lịch sử thuần hóa lâu đời, gắn bó mật thiết với con người qua nhiều chức năng như giữ nhà, săn bắt, làm cảnh và phục vụ công tác an ninh. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng số lượng đàn chó nuôi tại các hộ gia đình, tình hình dịch bệnh truyền nhiễm và ký sinh trùng đường tiêu hóa trên đàn chó cũng diễn biến phức tạp, gây tổn thất về sức khỏe vật nuôi và tiềm ẩn nguy cơ truyền lây sang người (zoonosis).

Tại Việt Nam, điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm tạo môi trường thuận lợi cho mầm bệnh ký sinh trùng phát triển quanh năm. Tập quán chăn nuôi tại nhiều vùng nông thôn và bán đô thị vẫn mang tính thả rông, chế độ dinh dưỡng tận dụng và công tác vệ sinh thú y chưa được kiểm soát chặt chẽ. Trong số các loài giun tròn đường tiêu hóa, giun móc (Ancylostoma spp.) là một trong những tác nhân gây bệnh nguy hiểm nhất. Giun móc trưởng thành ký sinh tại ruột non, dùng cấu tạo răng kitin bám sâu vào niêm mạc, hút máu và tiết độc tố chống đông máu, phá hủy hồng cầu. Ước tính một cá thể Ancylostoma caninum trưởng thành có thể hút 0,8 ml máu/ngày; trường hợp chó nhiễm 100 giun móc có thể mất tới 80 ml máu/ngày (tương đương 25% tổng lượng máu của cơ thể), dẫn đến thiếu máu nặng, suy nhược, viêm ruột và tử vong, đặc biệt ở chó con.

Để cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn phục vụ công tác chẩn đoán và điều trị tại địa phương, tác giả Nguyễn Văn Trường đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:

  1. Xác định thành phần loài giun móc ký sinh ở đường tiêu hóa của chó nuôi tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun móc ở chó tại huyện Đồng Hỷ (theo địa bàn xã/thị trấn, loại giống chó, lứa tuổi và các tháng nghiên cứu).
  3. Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và biểu hiện lâm sàng của chó bị bệnh giun móc.
  4. Thử nghiệm xác định hiệu lực và độ an toàn của một số loại thuốc tẩy giun móc trên đàn chó tại địa bàn nghiên cứu, từ đó đề xuất biện pháp phòng trừ hiệu quả.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn chó nuôi (bao gồm chó nội, chó lai, chó ngoại) tại các hộ gia đình và bệnh giun móc ở chó.
  • Phạm vi không gian: Thực hiện thu thập mẫu tại 4 xã, thị trấn thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (gồm thị trấn Chùa Hang, xã Khe Mo, xã Hóa Trung, xã Hóa Thượng). Địa điểm phân tích, xét nghiệm mẫu được tiến hành tại Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y (Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên) và Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được triển khai từ ngày 09/12/2014 đến ngày 24/05/2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên hệ thống phân loại học giun tròn động vật học (theo Phan Thế Việt và cs, 1977; Nguyễn Thị Lê và cs, 1996): Lớp Nematoda, Phân lớp Secernentea, Bộ Rabditida, Phân bộ Strongylata, Họ Ancylostomidae, gồm hai giống chính là Ancylostoma (các loài A. caninum, A. braziliense) và Uncinaria (loài U. stenocephala). Cơ chế sinh bệnh học giun móc được xác định qua chu kỳ trực tiếp: trứng theo phân ra ngoại cảnh nở thành ấu trùng giai đoạn 1 (L1), phát triển qua hai lần lột xác thành ấu trùng giai đoạn 3 (L3) có khả năng gây nhiễm. Ấu trùng xâm nhập vào ký chủ qua hai con đường chính: qua da (di hành theo đường tuần hoàn máu qua tim, phổi, khí quản, hầu rồi xuống ruột non hoặc truyền qua nhau thai sang thai nhi) và qua đường tiêu hóa (thức ăn, nước uống nhiễm ấu trùng).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và dịch tễ học thú y được triển khai đồng bộ:

  • Phương pháp thu thập mẫu phân: Lấy mẫu phân tươi thải ra ngoài từ chó ở các lứa tuổi, khối lượng 10 - 15 g/mẫu, bảo quản trong túi nilon có ghi nhãn địa bàn và nhóm tuổi.
  • Phương pháp xét nghiệm phân (Kỹ thuật nổi Fulleborn): Sử dụng dung dịch nước muối bão hòa ($NaCl$ 380 g/lít nước sôi) để làm nổi trứng giun tròn có tỷ trọng nhỏ hơn tỷ trọng dung dịch lên bề mặt, thu nhận qua phiến kính và soi đếm dưới kính hiển vi quang học.
  • Phương pháp mổ khám giun sán: Thực hiện mổ khám toàn diện theo quy trình tiêu chuẩn của Cục Thú y (2007) trên 28 chó; kiểm tra bệnh tích đại thể các cơ quan nội tạng từ ngoài vào trong, chụp ảnh tổn thương và thu hồi toàn bộ giun tròn trong đường tiêu hóa. Mẫu giun được cố định và bảo quản trong dung dịch Barbagallo (formol 3% + 8 g $NaCl$ tinh khiết trong 1000 ml nước cất).
  • Phương pháp định loại hình thái: Tiến hành đo đạc các chỉ tiêu vi thể (chiều dài thân, cấu tạo bao miệng, vòng thần kinh, túi đuôi, gai giao hợp, kích thước trứng) và đối chiếu khóa phân loại của Nguyễn Thị Lê và cs (1996) tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật.
  • Phương pháp thử nghiệm lâm sàng thuốc: Đánh giá hiệu lực và độ an toàn của 4 loại hóa dược trên 60 cá thể chó nhiễm bệnh giun móc (chia thành 4 nhóm, mỗi nhóm 15 con):
    • Mebendazol: Liều 30 mg/kg thể trọng (TT), đường uống.
    • Sanpet (chứa hoạt chất chính Pyrantel pamoate): Liều 10 mg/kg TT, đường uống.
    • Levamisol (dạng Levamisol HCl): Liều 10 mg/kg TT, tiêm dưới da.
    • Ivermectin: Liều 0,2 mg/kg TT, tiêm dưới da. Tái kiểm tra phân bằng phương pháp Fulleborn sau 15 ngày điều trị để tính tỷ lệ sạch trứng giun (hiệu lực thuốc) và theo dõi các biểu hiện phản ứng bất lợi (độ an toàn).
  • Phương pháp xử lý số liệu: Tính toán các chỉ số thống kê dịch tễ học gồm tỷ lệ nhiễm (%), cường độ nhiễm (số lượng giun/cá thể), tỷ lệ biểu hiện bệnh lý (%), hiệu lực điều trị (%) và tỷ lệ an toàn (%).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự phát triển của phong trào nuôi chó và thực trạng ô nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hóa tại địa phương. Khái quát mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dẫn liệu dịch tễ giun tròn thú y và ý nghĩa thực tiễn trong việc lựa chọn phác đồ hóa dược đạt hiệu quả tẩy trừ trên 90%.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật chi tiết vị trí phân loại học, đặc điểm hình thái, chu trình sinh học của các loài Ancylostoma caninum, Ancylostoma braziliense và Uncinaria stenocephala. Phân tích cơ chế sinh bệnh học của ấu trùng khi di hành qua mô/phổi và giun trưởng thành bám hút máu ở niêm mạc ruột non kèm nguy cơ nhiễm khuẩn thứ phát. Tổng hợp tình hình nghiên cứu giun móc trên chó tại Việt Nam (các công trình của Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Hữu Hưng...) và trên thế giới (Skrjabin, Lapage, Eva Fok, Dalimi...), đồng thời rà soát các nhóm hoạt chất phòng trị ký sinh trùng phổ biến.

Phần 3: Đối tượng, vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết cơ sở vật chất, hóa chất, dụng cụ xét nghiệm, địa bàn lấy mẫu tại 4 xã/thị trấn thuộc huyện Đồng Hỷ. Mô tả chuẩn hóa các bước thực hiện phương pháp tuyển nổi Fulleborn, quy trình mổ khám nội tạng động vật, bảo quản mẫu trong dung dịch Barbagallo, tiêu chí định danh hình thái vi học và thiết kế thử nghiệm lâm sàng đánh giá 4 loại thuốc tẩy giun móc trên 60 cá thể chó.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

1. Thành phần loài và đặc điểm hình thái giun móc

Kết quả giám định mẫu tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật cho thấy 100% mẫu giun móc thu thập tại 4 xã, thị trấn thuộc huyện Đồng Hỷ đều thuộc duy nhất một loài là Ancylostoma caninum Ercolani, 1859. Hai loài A. braziliense và U. stenocephala không xuất hiện trong các mẫu nghiên cứu.

  • Đặc điểm cá thể đực: Cơ thể dài 8,1 - 10,2 mm, rộng 0,330 - 0,480 mm; xoang miệng có các tấm kitin răng cưa; thực quản dài 0,74 - 0,89 mm; gai giao phối mảnh dài 0,743 - 0,792 mm; gai điều chỉnh dài 0,178 - 0,198 mm.
  • Đặc điểm cá thể cái: Thân hình trụ dài 13,4 - 15,4 mm, rộng 0,58 - 0,71 mm; lỗ sinh dục cách mút đuôi 4,8 - 5,31 mm; mút đuôi có gai kitin nhỏ; trứng hình ôvan kích thước 0,040 - 0,045 $\times$ 0,030 - 0,035 mm.

2. Đặc điểm dịch tễ bệnh giun móc tại huyện Đồng Hỷ

Qua kiểm tra 374 mẫu phân và mổ khám 28 cá thể chó, tác giả đã lượng hóa tỷ lệ nhiễm theo các yếu tố dịch tễ học:

Chỉ số khảo sát Phân nhóm Số kiểm tra (mẫu/con) Số nhiễm (mẫu/con) Tỷ lệ nhiễm (%) Cường độ nhiễm (giun/con)
Địa bàn (qua phân) TT. Chùa Hang 91 63 69,23% -
Xã Khe Mo 88 51 57,95% -
Xã Hóa Trung 81 52 64,20% -
Xã Hóa Thượng 114 87 76,32% -
Tính chung (phân) 374 253 67,65% -
Địa bàn (mổ khám) TT. Chùa Hang 8 4 50,00% 4 - 32
Xã Khe Mo 6 2 33,33% 4 - 39
Xã Hóa Trung 7 4 57,14% 5 - 43
Xã Hóa Thượng 7 6 85,71% 6 - 58
Tính chung (mổ khám) 28 16 57,14% 4 - 58
Loại giống chó Chó nội 199 154 77,39% -
Chó lai 116 73 62,93% -
Chó ngoại 59 26 44,07% -
Lứa tuổi Sơ sinh - 3 tháng 31 27 87,10% -
> 3 - 6 tháng 53 44 83,02% -
> 6 - 12 tháng 195 124 63,59% -
> 12 tháng 95 58 61,05% -
Tháng theo dõi Tháng 12 50 30 60,00% -
Tháng 1 64 39 60,94% -
Tháng 2 71 48 67,61% -
Tháng 3 53 44 83,02% -
Tháng 4 69 51 73,91% -
Tháng 5 66 41 62,12% -

3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng

Trong 253 cá thể chó nhiễm giun móc qua xét nghiệm phân, có 55 con biểu hiện triệu chứng lâm sàng rõ rệt (tỷ lệ 21,74%). Các triệu chứng phổ biến gồm: gầy còm, chậm lớn (58,18%); giảm ăn hoặc bỏ ăn (52,73%); táo bón xen kẽ tiêu chảy, phân lẫn máu (38,18%); niêm mạc nhợt nhạt do thiếu máu (25,45%); nôn mửa (12,73%).

Kết quả mổ khám 28 chó xác định 16 con có bệnh tích đại thể (tỷ lệ 57,14%):

  • Xác gầy còm, suy kiệt: 16/16 con (100%).
  • Ruột non viêm, xung huyết, nhiều điểm xuất huyết, tụ máu, thành ruột dày lên, lòng ruột chứa dịch nhầy lẫn máu: 15/16 con (93,75%).
  • Phổi xung huyết, xuất huyết do tổn thương ấu trùng di hành: 6/16 con (37,50%).
  • Gan và thận thoái hóa mỡ: 2/16 con (12,50%).

4. Kết quả thử nghiệm thuốc và biện pháp phòng trị

Tên thuốc Hoạt chất chính Liều lượng & Đường dùng Số chó thử nghiệm (con) Số sạch trứng sau 15 ngày (con) Hiệu lực (%) Tỷ lệ an toàn (%) Biểu hiện phản ứng phụ
Mebendazol Mebendazol 30 mg/kg TT (Uống) 15 15 100% 100% Không có phản ứng phụ
Sanpet Pyrantel pamoate 10 mg/kg TT (Uống) 15 14 93,33% 93,33% 1 con mệt mỏi, bỏ ăn 1-2 ngày
Levamisol Levamisol HCl 10 mg/kg TT (Tiêm dưới da) 15 15 100% 100% Không có phản ứng phụ
Ivermectin Ivermectin 0,2 mg/kg TT (Tiêm dưới da) 15 15 100% 100% Không có phản ứng phụ
Tính chung 60 59 98,33% 98,33% 1/60 con có phản ứng nhẹ (1,67%)

Trên cơ sở dịch tễ học và kết quả thử nghiệm thuốc, tác giả xây dựng quy trình phòng trị tổng hợp: tẩy giun lần đầu cho chó con ở 25 - 30 ngày tuổi, nhắc lại lúc 3 tháng tuổi và duy trì định kỳ 3 - 4 tháng/lần; tẩy giun cho chó mẹ trước phối giống và sau sinh 20 ngày; xử lý phân bằng ủ nhiệt sinh vật học hoặc chôn/đốt tiêu hủy trứng giun.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Tóm tắt các phát hiện cốt lõi về thành phần loài, các chỉ số dịch tễ học, đặc điểm bệnh lý đường tiêu hóa và hiệu quả các loại hóa dược. Nêu rõ các tồn tại về điều kiện thực nghiệm và kiến nghị các giải pháp tuyên truyền phòng bệnh truyền lây tại cộng đồng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm đầy đủ về bệnh giun móc trên chó tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên:

  1. Về căn bệnh học: Xác định loài Ancylostoma caninum là tác nhân duy nhất gây bệnh giun móc ở chó nuôi tại địa bàn nghiên cứu với tần suất xuất hiện 100% tại cả 4 xã, thị trấn.
  2. Về dịch tễ học:
    • Tỷ lệ nhiễm giun móc chung qua xét nghiệm phân là 67,65% (253/374 mẫu); xã Hóa Thượng có tỷ lệ nhiễm cao nhất (76,32%) và xã Khe Mo thấp nhất (57,95%).
    • Tỷ lệ nhiễm qua mổ khám là 57,14% (16/28 con) với cường độ dao động từ 4 đến 58 giun/chó.
    • Chó nội có tỷ lệ nhiễm cao nhất (77,39%), tiếp theo là chó lai (62,93%) và chó ngoại thấp nhất (44,07%).
    • Tỷ lệ nhiễm nghịch biến với lứa tuổi: chó sơ sinh - 3 tháng tuổi nhiễm cao nhất (87,10%), giảm dần ở nhóm 3 - 6 tháng (83,02%), nhóm 6 - 12 tháng (63,59%) và nhóm > 12 tháng tuổi (61,05%).
    • Biến động theo mùa vụ: Tỷ lệ nhiễm cao nhất vào tháng 3 (83,02%) và tháng 4 (73,91%) do độ ẩm và nhiệt độ ấm áp, thấp nhất vào tháng 12 (60,00%).
  3. Về bệnh lý lâm sàng: Xác định 21,74% chó nhiễm bệnh có biểu hiện lâm sàng (chủ yếu là gầy còm, rối loạn tiêu hóa phân lẫn máu, thiếu máu). Bệnh tích mổ khám đại thể ghi nhận 100% xác gầy, 93,75% ruột non viêm dày và xuất huyết, 37,50% phổi tổn thương xuất huyết do ấu trùng di hành.
  4. Về hiệu quả điều trị: Chứng minh hiệu lực tẩy trừ giun móc cao của 4 loại hóa dược: Mebendazol (100%), Levamisol (100%), Ivermectin (100%) và Sanpet (93,33%). Tỷ lệ an toàn đạt 98,33% trên tổng đàn thử nghiệm.

Đóng góp thực tiễn: Khóa luận đưa ra phác đồ tẩy giun cụ thể theo lứa tuổi và biện pháp vệ sinh thú y (xử lý phân, kiểm soát nuôi thả) giúp người chăn nuôi và trạm thú y huyện Đồng Hỷ chủ động phòng chống bệnh giun móc, hạn chế thiệt hại kinh tế và ngăn ngừa nguy cơ lây nhiễm sang người.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Theo tự đánh giá của tác giả trong văn bản, khóa luận tồn tại một số hạn chế nhất định:

  • Thời gian thực tập tốt nghiệp có hạn và nguồn kinh phí nghiên cứu còn eo hẹp.
  • Chưa có điều kiện bố trí các lô thí nghiệm nhắc lại để gia tăng độ tin cậy thống kê cho các thử nghiệm hóa dược.
  • Điều kiện trang thiết bị phòng thí nghiệm còn hạn chế, chưa triển khai được các phương pháp chẩn đoán chuyên sâu (như kỹ thuật sinh học phân tử PCR định loại hoặc xét nghiệm huyết học đánh giá biến đổi công thức máu chi tiết).

Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng điều tra dịch tễ học trên phạm vi toàn tỉnh Thái Nguyên qua đầy đủ các mùa trong năm; nghiên cứu sâu hơn về biến đổi chỉ số huyết học và sinh hóa máu ở chó nhiễm bệnh; đánh giá nguy cơ và tỷ lệ nhiễm ấu trùng Ancylostoma caninum di hành dưới da ở người tại các vùng chăn nuôi trọng điểm.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho các đối tượng sau:

  • Sinh viên và học viên ngành Chăn nuôi Thú y, Thú y: Tham khảo phương pháp luận nghiên cứu dịch tễ ký sinh trùng thực địa, quy trình xét nghiệm phân nổi Fulleborn, kỹ thuật mổ khám kiểm tra bệnh tích giun sán theo chuẩn Cục Thú y và phương pháp thu thập, đo đạc hình thái định loại tròn đường tiêu hóa.
  • Bác sĩ thú y lâm sàng và cán bộ thú y cơ sở: Ứng dụng phác đồ điều trị bằng các loại thuốc thông dụng (Mebendazol, Levamisol, Ivermectin, Sanpet), nắm bắt liều lượng, đường dùng và các phản ứng phụ có thể xảy ra trên chó non để xây dựng lịch tẩy giun định kỳ tại các phòng khám và nông hộ.
  • Chủ nuôi và các cơ sở nhân giống chó: Nắm vững các mắt xích lây truyền (qua da, qua sữa, qua nhau thai) và quy trình ủ phân nhiệt sinh vật học để ngăn ngừa tái nhiễm trong môi trường chuồng nuôi.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận đã định danh được những loài giun móc nào ký sinh trên chó tại huyện Đồng Hỷ?
Qua giám định hình thái tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, nghiên cứu xác định chỉ có 1 loài duy nhất là Ancylostoma caninum ký sinh trên chó tại cả 4 xã/thị trấn nghiên cứu (tần suất xuất hiện 100%). Hai loài Ancylostoma braziliense và Uncinaria stenocephala không tìm thấy trong các mẫu thu thập.

2. Tỷ lệ nhiễm giun móc chung qua xét nghiệm phân và mổ khám tại địa bàn nghiên cứu là bao nhiêu?
Tỷ lệ nhiễm giun móc chung qua xét nghiệm 374 mẫu phân bằng phương pháp Fulleborn là 67,65% (biến động từ 57,95% tại xã Khe Mo đến 76,32% tại xã Hóa Thượng). Qua mổ khám 28 cá thể chó, tỷ lệ nhiễm là 57,14% với cường độ nhiễm dao động từ 4 đến 58 giun móc/chó.

3. Nhóm tuổi và loại giống chó nào có tỷ lệ nhiễm giun móc cao nhất?
Chó con lứa tuổi sơ sinh đến 3 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất (87,10%), sau đó giảm dần theo tuổi (> 3 - 6 tháng: 83,02%; > 6 - 12 tháng: 63,59%; > 12 tháng: 61,05%). Về giống chó, chó nội có tỷ lệ nhiễm cao nhất (77,39%), tiếp đến là chó lai (62,93%) và chó ngoại thấp nhất (44,07%).

4. Bệnh tích đại thể đặc trưng nhất ở chó bị bệnh giun móc qua mổ khám là gì?
Trong 16 chó mổ khám có bệnh tích, 100% cá thể có xác gầy còm; 93,75% cá thể bị viêm, xung huyết, xuất huyết và dày thành ruột non; 37,50% cá thể có phổi xung huyết, xuất huyết do ấu trùng di hành; 12,50% cá thể có biểu hiện thoái hóa mỡ ở gan và thận.

5. Kết quả thử nghiệm hiệu lực và độ an toàn của 4 loại thuốc tẩy giun đạt mức độ nào?
Cả 4 loại thuốc đều có hiệu lực cao: Mebendazol (30 mg/kg TT uống), Levamisol (10 mg/kg TT tiêm dưới da) và Ivermectin (0,2 mg/kg TT tiêm dưới da) đều đạt hiệu lực sạch trứng giun 100% và an toàn 100%. Thuốc Sanpet (10 mg/kg TT uống) đạt hiệu lực 93,33% và an toàn 93,33% (ghi nhận 1/15 chó có biểu hiện mệt mỏi, bỏ ăn nhẹ trong 1-2 ngày trước khi hồi phục).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Văn Trường đã phản ánh toàn diện hiện trạng dịch tễ, bệnh lý lâm sàng và thành phần loài giun móc (Ancylostoma caninum) ký sinh trên đàn chó tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên với tỷ lệ nhiễm phân đạt 67,65%. Kết quả nghiên cứu chứng minh mối liên hệ chặt chẽ giữa tỷ lệ nhiễm với lứa tuổi, phương thức chăn nuôi từng giống chó và yếu tố thời tiết mùa vụ. Công trình đã khẳng định hiệu lực tẩy giun vượt trội của các hoạt chất Mebendazol, Levamisol, Ivermectin và Sanpet (hiệu lực chung 98,33%), đồng thời đề xuất quy trình can thiệp thú y đồng bộ, có giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho công tác kiểm soát ký sinh trùng tại địa phương.