Luận văn nghiên cứu đặc điểm đa dạng thành phần loài dạng sống khu hệ thực vật và công tác bảo tồn khu hệ thực vật vườn quốc gia xuân sơn huyện tân sơn tỉnh phú thọ

Chuyên khảo phân tích Luận văn nghiên cứu đặc điểm đa dạng thành phần loài dạng sống khu hệ thực vật và công tác bảo tồn, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Khoa học môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2012

145
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Khái niệm về đa dạng sinh học

1.2. Khái niệm bảo tồn đa dạng sinh học

1.3. Tổng quan về nghiên cứu đa dạng thảm thực vật, hệ thực vật trên Thế giới và ở Việt Nam

1.3.1. Những nghiên cứu về thảm thực vật trên Thế giới và ở Việt Nam

1.3.2. Những nghiên cứu về hệ thực vật trên Thế giới và Việt Nam

1.3.3. Những nghiên cứu về thành phần loài, dạng sống khu hệ thực vật

1.3.4. Những nghiên cứu về đa dạng thực vật ở khu vực nghiên cứu

1.3.5. Lược sử hình thành Vườn Quốc gia Xuân Sơn

1.3.6. Công tác bảo tồn đa dạng khu hệ thực vật VQG Xuân Sơn

1.3.6.1. Mục tiêu bảo tồn đa dạng khu hệ thực vật
1.3.6.2. Các biện pháp bảo tồn đa dạng khu hệ thực vật VQG Xuân Sơn

1.4. ĐỐI TƯỢNG; PHẠM VI; NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.4.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

1.4.2. Đối tượng nghiên cứu

1.4.3. Phạm vi nghiên cứu

1.4.4. Nội dung nghiên cứu

1.4.5. Phương pháp nghiên cứu

1.4.6. Quan điểm nghiên cứu

1.4.7. Phương pháp nghiên cứu

1.5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1.5.1. Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội của VQG Xuân Sơn

1.5.1.1. Vị trí địa lý, ranh giới hành chính, chức năng và nhiệm vụ của Vườn Quốc gia Xuân Sơn
1.5.1.2. Đặc điểm địa lý tự nhiên của Vườn quốc gia Xuân Sơn
1.5.1.3. Đặc điểm kinh tế – xã hội VQG Xuân Sơn
1.5.1.3.1. Dân số, dân tộc và phân bố dân cư
1.5.1.3.2. Kinh tế và đời sống sinh hoạt
1.5.1.4. Cơ sở hạ tầng
1.5.1.5. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

1.5.2. Sự đa dạng thành phần loài, dạng sống khu hệ thực vật Vườn quốc gia Xuân Sơn

1.5.2.1. Đa dạng các bậc taxon thực vật
1.5.2.2. Đa dạng thành phần loài thực vật (Danh lục thực vật ở VQG Xuân Sơn)
1.5.2.3. Đa dạng về thành phần dạng sống thực vật ở KVNC
1.5.2.4. Các loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng ở VQG Xuân Sơn

1.5.3. Đa dạng về giá trị sử dụng nguồn tài nguyên thực vật ở VQG Xuân Sơn

1.5.4. Một số đề xuất về giải pháp bảo tồn đa dạng khu hệ thực vật VQG Xuân Sơn

2. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Đa Dạng Thực Vật Vườn Quốc Gia Xuân Sơn

Nghiên cứu đa dạng thực vật và bảo tồn nguồn gen sinh vật là mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững. Việc đánh giá hiện trạng nguồn tài nguyên là cơ sở để xây dựng giải pháp khai thác hiệu quả và lâu dài. Tài nguyên sinh vật có khả năng tái tạo nhưng dễ bị tác động, cần chính sách hợp lý để đảm bảo cân bằng sinh thái. Việt Nam là quốc gia có tính đa dạng sinh học cao, nhưng đang bị suy giảm mạnh. Cần quan tâm đầy đủ đến việc nghiên cứu và đánh giá tính đa dạng sinh học cho các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn Quốc gia. Vườn quốc gia Xuân Sơn có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế, là di sản thiên nhiên đặc sắc của tỉnh Phú Thọ và cả nước.

1.1. Khái niệm về Đa dạng sinh học và Bảo tồn

Đa dạng sinh học (ĐDSH) là sự phong phú của mọi cơ thể sống, từ các hệ sinh thái trên cạn, dưới biển và các tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên. Nó bao gồm các nguồn tài nguyên di truyền, các cơ thể, quần thể và các hợp phần sinh học khác của hệ sinh thái. Bảo tồn đa dạng sinh học là việc quản lý mối tác động qua lại giữa con người với các gen, các loài và các hệ sinh thái nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệ hiện tại và tương lai.

1.2. Lịch sử hình thành và phát triển Vườn Quốc Gia Xuân Sơn

Vườn quốc gia Xuân Sơn được thành lập theo quyết định số 49/2002/QĐ-TTg ngày 17/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ. Vườn nằm trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, giáp ranh giữa 03 tỉnh: Phú Thọ, Hòa Bình và Sơn La. Vườn nằm ở đúng điểm cuối của dãy Hoàng Liên Sơn, cửa ngõ của vùng Tây Bắc. Vườn Quốc gia Xuân Sơn là di sản thiên nhiên đặc sắc của tỉnh Phú Thọ và của cả nước. Vườn Quốc gia Xuân Sơn nằm trong khu vực giao tiếp của hai luồng thực vật và động vật Mã Lai và Hoa Nam.

II. Thách Thức Bảo Tồn Đa Dạng Thực Vật Tại Xuân Sơn

Trước khi trở thành Khu bảo tồn thiên nhiên (năm 1986) và Vườn Quốc gia (năm 2002), hiện tượng chặt phá rừng, khai thác lâm sản diễn ra thường xuyên đã làm cho chất lượng rừng bị giảm sút nghiêm trọng. Từ khi trở thành Khu bảo tồn thiên nhiên, thảm thực vật ở đây đã được bảo vệ, tình trạng phá rừng cơ bản đã được quản lí, song việc khai thác nguồn tài nguyên phi lâm sản (song mây, dược liệu, hoa quả rừng v.) vẫn diễn ra hàng ngày đã làm giảm đáng kể tính đa dạng sinh học. Điều này cho thấy cần phải thực hiện công tác nghiên cứu, qua đó làm cơ sở cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học nói chung, bảo tồn đa dạng thực vật nói riêng.

2.1. Tác động của hoạt động khai thác lâm sản đến hệ thực vật

Việc khai thác lâm sản, đặc biệt là khai thác trái phép, đã gây ra những tác động tiêu cực đến hệ thực vật của Vườn Quốc gia Xuân Sơn. Các loài cây gỗ quý hiếm bị khai thác quá mức, dẫn đến suy giảm số lượng và ảnh hưởng đến cấu trúc của rừng. Ngoài ra, việc khai thác còn gây ra xáo trộn môi trường sống của các loài thực vật khác, ảnh hưởng đến sự phát triển và sinh trưởng của chúng.

2.2. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến đa dạng thực vật

Biến đổi khí hậu, với các biểu hiện như tăng nhiệt độ, thay đổi lượng mưa và gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan, cũng đang gây ra những ảnh hưởng đáng kể đến đa dạng thực vật của Vườn Quốc gia Xuân Sơn. Các loài thực vật không thích nghi được với sự thay đổi của khí hậu có thể bị suy giảm số lượng hoặc thậm chí là tuyệt chủng.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Đa Dạng Thực Vật Vườn Xuân Sơn

Nghiên cứu đa dạng thực vật tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn cần tiếp cận một cách khoa học và toàn diện. Các phương pháp nghiên cứu cần kết hợp giữa điều tra thực địa, phân tích mẫu vật và sử dụng các công cụ hỗ trợ như GIS. Quan điểm nghiên cứu cần đảm bảo tính khách quan, trung thực và phản ánh đúng hiện trạng nguồn tài nguyên thực vật. Số liệu thu thập được cần được xử lý và phân tích một cách cẩn thận để đưa ra những kết luận chính xác và có giá trị.

3.1. Điều tra thu thập mẫu vật thực vật tại các tuyến điều tra

Công tác điều tra thực địa là bước quan trọng để thu thập thông tin về thành phần loài, phân bố và đặc điểm sinh thái của các loài thực vật. Các tuyến điều tra cần được thiết kế một cách khoa học, đảm bảo đại diện cho các kiểu rừng và sinh cảnh khác nhau trong Vườn Quốc gia. Mẫu vật thực vật cần được thu thập và bảo quản cẩn thận để phục vụ cho công tác phân tích và định danh.

3.2. Phân tích mẫu vật và định danh các loài thực vật

Sau khi thu thập mẫu vật, cần tiến hành phân tích và định danh các loài thực vật. Công tác này đòi hỏi kiến thức chuyên môn sâu về thực vật học và sử dụng các tài liệu tham khảo chuyên ngành. Kết quả định danh sẽ cung cấp thông tin về thành phần loài và sự đa dạng của hệ thực vật tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn.

3.3. Sử dụng công nghệ GIS để phân tích phân bố thực vật

Công nghệ GIS (Hệ thống thông tin địa lý) là một công cụ hữu ích để phân tích phân bố của các loài thực vật và xây dựng bản đồ phân bố. Dữ liệu về vị trí địa lý của các loài thực vật được thu thập trong quá trình điều tra thực địa sẽ được nhập vào hệ thống GIS. Sau đó, các công cụ phân tích không gian của GIS sẽ được sử dụng để xác định các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến phân bố của các loài thực vật.

IV. Đánh Giá Đa Dạng Thành Phần Loài Thực Vật Tại Xuân Sơn

Đánh giá đa dạng thành phần loài là một bước quan trọng để hiểu rõ về hệ thực vật của Vườn Quốc gia Xuân Sơn. Nghiên cứu cần tập trung vào việc xác định số lượng loài, thành phần các họ thực vật và các loài có giá trị bảo tồn. Kết quả đánh giá sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng các kế hoạch bảo tồn và quản lý đa dạng sinh học.

4.1. Thống kê số lượng loài và thành phần các họ thực vật

Việc thống kê số lượng loài và thành phần các họ thực vật sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quan về đa dạng thực vật của Vườn Quốc gia Xuân Sơn. Các họ thực vật có số lượng loài lớn sẽ được xác định và phân tích để hiểu rõ về vai trò của chúng trong hệ sinh thái.

4.2. Xác định các loài thực vật quý hiếm và có nguy cơ tuyệt chủng

Việc xác định các loài thực vật quý hiếm và có nguy cơ tuyệt chủng là rất quan trọng để ưu tiên các hoạt động bảo tồn. Các loài này cần được bảo vệ một cách đặc biệt để đảm bảo sự tồn tại của chúng trong tương lai. Thông tin về các loài này có thể được tìm thấy trong Sách đỏ Việt Nam và các danh sách bảo tồn quốc tế.

4.3. Phân tích đặc điểm sinh thái của các loài thực vật đặc hữu

Các loài thực vật đặc hữu là những loài chỉ có ở một khu vực địa lý nhất định. Việc phân tích đặc điểm sinh thái của các loài này sẽ giúp hiểu rõ về sự thích nghi của chúng với môi trường sống và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố của chúng. Thông tin này sẽ rất hữu ích cho việc bảo tồn các loài thực vật đặc hữu.

V. Giải Pháp Bảo Tồn Đa Dạng Thực Vật Tại Vườn Quốc Gia

Bảo tồn đa dạng thực vật tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn đòi hỏi các giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Các giải pháp cần tập trung vào việc bảo vệ môi trường sống, ngăn chặn các hoạt động khai thác trái phép và nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của đa dạng sinh học. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, cộng đồng địa phương và các tổ chức bảo tồn để đảm bảo thành công của các hoạt động bảo tồn.

5.1. Tăng cường công tác quản lý và bảo vệ rừng

Tăng cường công tác quản lý và bảo vệ rừng là giải pháp quan trọng nhất để bảo tồn đa dạng thực vật. Cần có các biện pháp ngăn chặn hiệu quả các hoạt động khai thác trái phép, phá rừng và lấn chiếm đất rừng. Đồng thời, cần tăng cường tuần tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.

5.2. Phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo tồn thực vật

Phát triển du lịch sinh thái là một giải pháp hiệu quả để tạo nguồn thu cho công tác bảo tồn và nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của đa dạng thực vật. Các hoạt động du lịch cần được tổ chức một cách bền vững, đảm bảo không gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sống của các loài thực vật.

5.3. Nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn đa dạng thực vật

Nâng cao nhận thức cộng đồng là một yếu tố quan trọng để đảm bảo sự thành công của các hoạt động bảo tồn. Cần có các chương trình giáo dục, tuyên truyền và vận động cộng đồng tham gia vào công tác bảo tồn đa dạng thực vật. Đồng thời, cần tạo điều kiện cho cộng đồng địa phương được hưởng lợi từ các hoạt động bảo tồn.

VI. Ứng Dụng và Triển Vọng Nghiên Cứu Đa Dạng Thực Vật

Nghiên cứu đa dạng thực vật tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng các kế hoạch bảo tồn, quản lý tài nguyên và phát triển du lịch sinh thái. Đồng thời, nghiên cứu cũng góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của đa dạng thực vật và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào công tác bảo tồn.

6.1. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào xây dựng kế hoạch bảo tồn

Kết quả nghiên cứu về đa dạng thực vật có thể được sử dụng để xây dựng các kế hoạch bảo tồn chi tiết và hiệu quả. Các kế hoạch này cần xác định các khu vực ưu tiên bảo tồn, các loài thực vật cần được bảo vệ và các biện pháp bảo tồn cụ thể.

6.2. Triển vọng hợp tác nghiên cứu với các tổ chức quốc tế

Hợp tác nghiên cứu với các tổ chức quốc tế là một cơ hội tốt để nâng cao năng lực nghiên cứu và tiếp cận các nguồn lực tài chính cho công tác bảo tồn. Các tổ chức quốc tế có nhiều kinh nghiệm và chuyên môn trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học và có thể hỗ trợ Vườn Quốc gia Xuân Sơn trong việc thực hiện các hoạt động bảo tồn.

05/06/2025
Luận văn nghiên cứu đặc điểm đa dạng thành phần loài dạng sống khu hệ thực vật và công tác bảo tồn khu hệ thực vật vườn quốc gia xuân sơn huyện tân sơn tỉnh phú thọ

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. cho rằng “ Chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao chùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hoá mặt địa lý”. Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể. Tolmachop đã đưa ra một nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1500- 2000 loài.

Phêđôrốp đã dự đoán trên thế giới có khoảng: 300.000 loài thực vật hạt kín; 5.000 loài thực vật hạt trần; 6.000 loài quyết thực vật; 14.000 loài nấm và các loài thực vật bậc thấp khác 15 Các nhà sinh vật học Nga tập chung các nghiên cứu vào việc xác định diện tích biểu hiện tối thiểu để có thể kiểm kê được đầy đủ nhất số loài của từng hệ thực vật cụ thể. Việc xác định diện tích biểu hiện gồm các giai đoạn sau: - Kiểm kê số loài trên diện tích hạn chế nhất định. - Mở rộng dần ra vùng đồng nhất và điều kiện địa lý tự nhiên để thấy mức độ tăng số lượng loài. - Khi số loài tăng không đáng kể thì xác định đó là diện tích biểu hiện tối thiểu.

Nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam Lãnh thổ Việt Nam trải dài từ 8030’ Bắc đến 230 Nam. Sự khác biệt lớn về khí hậu và địa hình giữa các miền, tạo ra tính đa dạng về môi trường tự nhiên và ĐDSH. Các hệ sinh thái rất đa dạng: từ rừng mưa thường xạnh cận nhiệt đới ở phía Bắc cho tới rừng khộp nhiệt đới ở phía Nam, tới rừng ngập mặn và các hệ sinh thái gập nước ven biển. Đến nay đã thống kê được gần 13.000 loài thực vật.

Nhiều nhóm có tính đặc hữu cao, nhiều loài đặc hữu có giá trị khoa học và thực tiễn lớn [39,44, 47,48]. Ngoài những tác phẩm nổi tiếng của Loureiro (1790), của Pierre (1879 – 1907), từ những năm đầu thế kỷ đã xuất hiện một số công trình nổi tiếng, là nền tảng cho việc đánh giá tính đa dạng thực vật Việt Nam. Một trong những công trình nổi tiếng đó là bộ “Thực vật chí Đông Dương” do H. Lecomte chủ biên (1907 – 1952).

Trong công trình này, các tác giả người Pháp đã thu mẫu và định tên, lập khoá mô tả các loài thực vật có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương [45]. Riêng miền Bắc Pócs Tamás (1965) thống kê được 5190 loài, Phan Kế Lộc (1969) thống kê và bổ sung, nâng số loài ở miền Bắc lên 1660 chi và 140 họ. Trong đó có 5069 loài thực vật thuộc ngành hạt kín và 540 loài thuộc các ngành còn lại. Gần đây, Aubréville khởi xướng và chủ biên bộ “Thực vật chí Campuchia, Lào, Việt Nam” (1960 – 1997) [18] cùng với nhiều tác giả khác đến nay đã công bố 29 tập nhỏ, gồm 74 họ cây có mạch (chưa đầy 20% tổng số họ đã có) (Ngô Tiến Dũng, 2006) [19].

Ngoài ra còn có công trình “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” 16 gồm 6 tập do Lê Khả Kế chủ biên từ năm 1969 – 1976 [24], “Cây cỏ miền Nam Việt Nam” của phạm Hoàng Hộ giới thiệu 5326 loài, trong đó có 60 loài thực vật bậc thấp và 20 loài Rêu, còn lại 5246 loài thực vật có mạch [22] (Nguyễn Nghĩa Thìn – Nguyễn Thanh Nhàn, 2004) [44] Viện Điều tra Quy hoạch rừng Việt Nam (1971 – 1988) đã công bố 7 tập “ Cây gỗ rừng Việt Nam” giới thiệu khá chi tiết cùng với tranh vẽ minh hoạ. Đến năm 1996, công trình này được dịch ra tiếng Anh do Vũ Văn Dũng chủ biên. Đáng chú ý nhất phải kể đến bộ “Cây cỏ Việt nam” của Phạm Hoàng Hộ (1991 – 1993) [20] xuất bản tại Canada và đã được tái bản có bổ sung tại Việt Nam hai năm (1999 – 2000) [21], đây là bộ sách khá đầy đủ và dễ sử dụng, góp phần đáng kể cho khoa học thực vật ở Việt Nam và là những tài liệu quan trọng làm cơ sở cho việc đánh giá về đa dạng phân loại thực vật Việt Nam. Trên cơ sở những thông tin mới nhất và những căn cứ chắc chắn, Nguyễn Tiến Bân (1997) đã giới thiệu khái quát những đặc điểm cơ bản của 265 họ và khoảng 2.300 chi thuộc ngành hạt kín ở nước ta.

Từ năm 1995 – 2003, Nguyễn Nghĩa Thìn cùng một số tác giả khác đã công bố một số bài báo đa dạng thành phần loài ở Vườn Quốc gia Cúc Phương, vùng núi đá vôi Hoà Bình, Sơn La, khu Bảo tồn Na Hang của Tuyên Quang, vùng núi cao Sa Pa – Phanxipang, Vùng ven biển Nam Trung Bộ, Vườn Quốc gia Ba Bể, Cát Bà, Bến En, Pù Mát, Phong Nha Kẻ Bàng, Cát Tiên…Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã công bố cuốn “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật” [41] nhằm hướng dẫn cách đánh giá tính đa dạng thực vật của vùng nghiên cứu cho các Vườn Quốc gia và khu Bảo tồn trong cả nước (Ngô Tiến Dũng, 2006) [1-]. Những nghiên cứu về thành phần loài, dạng sống khu hệ thực vật a. Những nghiên cứu về thành phần loài Những nghiên cứu về thành phần loài là một trong những nghiên cứu được tiến hành từ lâu trên thế giới. Nói chung theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm thực vật đặc trưng, sự khác biệt của thảm này so với thảm khác biểu thị bởi thành phần loài, thành phần dạng sống, cấu trúc và động thái của nó.

Vì vậy, việc nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống là chỉ tiêu quan trọng trong phân loại loại hình thảm thực vật. Longchun và cộng sự (1993), nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam Trung Quốc đã nhận xét: khi nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài; bỏ hoá 19 năm thì có 60 họ, 134 chi và 167 loài. Ở Việt Nam, Phan Kế Lộc (1970) đã xác định hệ thực vật miền bắc Việt Nam có 5.660 chi và 240 họ. Thái Văn Trừng (1970) thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7.004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1.

Hoàng Chung (1980) khi nghiên cứu đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam đã công bố thành phần loài thu được gồm 233 loài thuộc 54 họ và 44 bộ. Phạm Hoàng Hộ (1991 – 1993) trong “Cây cỏ Việt Nam” đã thống kê số loài hiện có của hệ thực vật là 10. Phan Nguyên Hồng (1991) lập danh mục cùng với một số chỉ tiêu khác (dạng sống, môi trường, khu phân bố) của 75 loài thuộc 2 nhóm loài cây ngập mặn điển hình và cây gia nhập vào rừng ngập mặn. Đỗ Tất Lợi (1995) khi nghiên cứu các loài cây thuốc đã công bố 798 loài thuộc 164 họ có ở hầu hết các tỉnh nước ta.

Lê Ngọc Công và Hoàng Chung (1995) nghiên cứu thành phần loài, dạng sống của sa van bụi và đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện được 123 loài thuộc 47 họ khác nhau. 18 Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã thống kê thành phần loài của Vườn quốc gia Tam Đảo có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 cây có ích thuộc 478 chi, 213 họ thuộc 3 ngành: Dương xỉ, Hạt trần và Hạt kín. Các loài này được xếp thành 8 nhóm có giá trị khác nhau. Năm 1998, khi nghiên cứu về họ Thầu Dầu (Euphorbiaceae) ở Việt Nam, ông thu được 156 loài trong tổng số 425 loài của họ Thầu dầu ở Việt Nam chia làm 7 nhóm theo cách sử dụng.

Lê Ngọc Công (1998) khi nghiên cứu tác dụng cải tạo môi trường của một số mô hình rừng trồng ở một số tỉnh miền núi đã công bố thành phần loài gồm 211 loài thuộc 64 họ. Nguyễn Nghĩa Thìn (1998) khi tổng kết các công trình nghiên cứu về khu hệ thực vật ở Việt Nam đã ghi nhận có 2.393 loài thực vật bậc thấp và 1.373 loài thực vật bậc cao thuộc 2. Lê Trọng Cúc, Phạm Hồng Ban (2000) nghiên cứu sự biến động thành phần loài thực vật sau nương rẫy ở huyện Con Cuông, Nghệ An nhận xét rằng: do ảnh hưởng của canh tác nương rẫy nên thành phần loài và số lượng cây gỗ trên một đơn vị diện tích có xu hướng giảm dần, đơn giản hoá để tái ổn định. Phạm Hồng Ban (2000) nghiên cứu tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng sau nương rẫy ở vùng Tây Nam Nghệ An.

Tác giả đã xác định thành phần loài, mật độ cá thể và phổ dạng sống của thảm thực vật phục hồi sau nương rẫy theo thời gian bỏ hoá. Theo tác giả, hệ thực vật sau nương rẫy ở vùng đệm Pù Mát (Nghệ An) khá đa dạng về thành phần loài, gồm 586 loài thuộc 344 chi, 105 họ thực vật bậc cao có mạch. Đặng Kim Vui (2002), nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng sau nương rẫy ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên cho thấy 1 - 2 tuổi có 76 loài thuộc 36 họ, 3 - 5 19 tuổi có 65 loài thuộc 34 họ, 5 - 10 tuổi có 56 loài thuộc 36 họ, 11 - 15 tuổi có 57 loài thuộc 31 họ. Lê Ngọc Công (2004) nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Thái Nguyên đã thống kê các loài thực vật bậc cao có mạch của tỉnh Thái Nguyên là 160 họ, 468 chi, 654 loài chủ yếu là cây lá rộng thường xanh, trong đó có nhiều cây gỗ quý như: Lim, Dẻ, Trai, Nghiến v.

Vũ Thị Liên (2005) khi nghiên cứu một số kiểu thảm thực vật ở Sơn La đã thu được 452 loài thuộc 326 chi và 153 họ. Thái Văn Thụy, Nguyễn Phúc Nguyên (2005) nghiên cứu về thảm thực vật Vườn quốc gia Ba Vì đã xác định ở đây có 11 kiểu quần xã thực vật khác nhau. Trong quần xã cây bụi thứ sinh thường xanh, lá rộng thành phần chủ yếu là cây gỗ dạng bụi cao từ 2 - 5m. Những nghiên cứu về thành phần dạng sống Dạng sống của thực vật là sự biểu hiện về hình thái, cấu trúc cơ thể thực vật thích nghi với điều kiện môi trường sống.

Nó liên quan chặt chẽ với các nhân tố sinh thái của mỗi vùng, nên đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ rất sớm. Schow (1823) đã nghiên cứu về sự phân bố của thực vật và cho rằng: cách mọc được hiểu là đặc điểm phân bố của các loài trong quần xã. Patsoxki (1915) chia thảm thực vật thành 6 nhóm: thực vật thường xanh; thực vật rụng lá vào thời kỳ bất lợi trong năm; thực vật tàn lụi phần trên mặt đất trong thời kỳ bất lợi; thực vật tàn lụi vào thời kỳ bất lợi; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển ngắn; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển lâu năm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Đặc Điểm Đa Dạng Thực Vật và Bảo Tồn Tại Vườn Quốc Gia Xuân Sơn" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự đa dạng sinh học của thực vật tại khu vực này, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn các loài thực vật quý hiếm. Nghiên cứu không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về các đặc điểm sinh thái và sinh học của thực vật mà còn chỉ ra những biện pháp cần thiết để bảo tồn chúng trong bối cảnh biến đổi khí hậu và sự phát triển của con người.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm hình thái sinh thái thành phần hóa học tinh dầu và hoạt tính sinh học của loài cáp ba gân capparis trinervia hook ex thoms thu thập tại huyện mê anh thành, nơi khám phá các đặc điểm sinh học của một loài thực vật khác. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn nghiên cứu giám định một số loài giổi ăn hạt michelia spp ở việt nam bằng chỉ thị hình thái và phân tử, tài liệu này cung cấp thông tin về các loài thực vật có giá trị kinh tế và sinh thái. Cuối cùng, tài liệu Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm bảo tồn một số loài địa lan kiếm cymbidium ở vùng hoàng liên sơn huyện sa pa tỉnh lào cai sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các biện pháp bảo tồn thực vật quý hiếm tại Việt Nam.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức của bạn về thực vật học mà còn cung cấp những góc nhìn đa dạng về công tác bảo tồn và nghiên cứu sinh học tại Việt Nam.