Tổng quan nghiên cứu

Huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước sở hữu tổng diện tích đất quy hoạch lâm nghiệp đạt 58.411,6 ha, trong đó lâm phần thuộc Ban Quản lý Rừng phòng hộ Bù Đăng quản lý 40.540,32 ha với 37.469,66 ha diện tích có rừng. Hệ sinh thái rừng tự nhiên lá rộng thường xanh tại đây chỉ còn gần 2.000 ha (chiếm 1.753,05 ha rừng gỗ lá rộng thường xanh tập trung), đóng vai trò then chốt trong việc duy trì nguồn nước đầu nguồn sông Đồng Nai, hồ thủy điện Thác Mơ và bảo tồn đa dạng sinh học cho vùng Đông Nam Bộ. Tuy nhiên, áp lực chuyển đổi đất lâm nghiệp sang canh tác nông nghiệp, nạn khai thác gỗ trái phép trong quá khứ và biến đổi khí hậu đã khiến cấu trúc thảm thực vật bị suy giảm nghiêm trọng cả về diện tích lẫn chất lượng trữ lượng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự thiếu hụt các dữ liệu định lượng khoa học và toàn diện về cấu trúc, tổ thành loài và mức độ đa dạng thực vật thân gỗ theo từng trạng thái rừng tự nhiên tại khu vực giáp ranh giữa tỉnh Bình Phước và tỉnh Đồng Nai. Luận văn hướng đến ba mục tiêu cụ thể: xác định thành phần loài thực vật thân gỗ; phân tích định lượng tính đa dạng sinh thái qua các chỉ số cấu trúc, chỉ số đa dạng loài và dạng phân bố không gian; phân tích ma trận SWOT để đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng bền vững.

Nghiên cứu được triển khai thực nghiệm từ tháng 1/2022 đến tháng 5/2022 trên phạm vi 3 trạng thái rừng tự nhiên lá rộng thường xanh gồm rừng trung bình, rừng nghèo và rừng kiệt theo Thông tư 33/2018/TT-BNNPTNT. Kết quả của đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, bổ sung bộ dữ liệu khoa học về 101 loài thực vật thân gỗ, hỗ trợ cơ quan kiểm lâm và chính quyền địa phương xây dựng phương án phục hồi 131,31 ha đất khoanh nuôi tái sinh, đồng thời thực hiện hiệu quả chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên của Chính phủ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn ứng dụng hệ thống lý thuyết sinh thái học quần xã và trắc lượng rừng hiện đại làm nền tảng phân tích:

  1. Lý thuyết phân loại đa dạng sinh học của Whittaker (1975) và Sharma (2003): Tiếp cận đa dạng sinh thái qua ba cấp độ Alpha (tính đa dạng nội bộ ô tiêu chuẩn), Beta (sự biến đổi thành phần loài giữa các sinh cảnh) và Gamma (tính đa dạng cảnh quan khu vực).
  2. Khung phân loại thảm thực vật nhiệt đới của Thái Văn Trừng (1978): Phân chia quần hệ rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và xác định ưu hợp thực vật dựa trên tỷ trọng loài.
  3. Mô hình giá trị quan trọng sinh thái học của Marmillod: Đánh giá vai trò sinh thái của từng loài cây thông qua chỉ số giá trị quan trọng (IVI%) với ngưỡng loài ưu thế sinh thái xác định khi IVI% vượt mức 5%.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng 5 khái niệm chuyên sâu: độ giàu loài (Species Richness - S), chỉ số bất định Shannon-Wiener (H'), chỉ số chiếm ưu thế Simpson (D), chỉ số đồng đều Pielou (J) và tỷ lệ độ phong phú trên tần suất (A/F) của Curtis & McIntosh (1950) nhằm xác định dạng phân bố không gian của thực vật. Hệ thống phân loại thực vật được chuẩn hóa theo Brummitt (1992) kết hợp Luật danh pháp Quốc tế Melbourne (2012).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu được thu thập qua phương pháp điều tra ngoại nghiệp kết hợp kế thừa tài liệu khí tượng, thổ nhưỡng và bản đồ diễn biến rừng năm 2020 của huyện Bù Đăng.

  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu thiết lập 57 ô tiêu chuẩn (OTC) với diện tích 500 m2/ô (kích thước 25m x 20m), đạt tổng diện tích điều tra 2,85 ha. Áp dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng dựa theo Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT về trữ lượng gỗ: 27 ô rừng trung bình (trữ lượng 100 đến 200 m3/ha), 18 ô rừng nghèo (50 đến 100 m3/ha) và 12 ô rừng kiệt (10 đến 50 m3/ha). Lý do lựa chọn diện tích 500 m2 và phương pháp phân tầng là nhằm bao quát trọn vẹn sự biến động địa hình đồi núi dốc từ 127 m đến 590 m, phản ánh chính xác cấu trúc tầng tán của cây gỗ có đường kính ngang ngực (DBH) từ 5 cm trở lên.
  • Tuyến điều tra: Thiết lập 3 tuyến điều tra thực địa với tổng chiều dài ước lượng 30 km (khoảng 10 km/tuyến), bố trí vuông góc với đường đồng mức và cách nhau tối thiểu 1.000 m để bao quát các vi sinh cảnh đặc trưng.
  • Phương pháp phân tích số liệu: Sử dụng thước kẹp kính đo DBH (độ chính xác 0,1 cm) và thước Blume-Leiss đo chiều cao vút ngọn (độ chính xác 0,5 m). Toàn bộ dữ liệu được phân tích định lượng bằng phần mềm chuyên dụng Primer và môi trường thống kê R (các gói nVennR, ggdendro). Sự tương đồng loài được tính theo hệ số Bray-Curtis, kỹ thuật phân nhóm sơ đồ nhánh (Cluster Dendrogram), phân tích toạ độ chính PCA, đa chiều MDS và kiểm định phi tham số Wilcoxon với mức ý nghĩa p dưới 0,05.
  • Phương pháp đánh giá xã hội học: Phỏng vấn bán cấu trúc các bên liên quan kết hợp phương pháp chuyên gia để lập ma trận SWOT đánh giá hiện trạng công tác quản lý bảo vệ rừng. Timeline điều tra và hoàn thiện số liệu diễn ra xuyên suốt trong 5 tháng đầu năm 2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích định lượng từ 57 ô tiêu chuẩn đã ghi nhận các kết quả nổi bật về thảm thực vật thân gỗ tại huyện Bù Đăng:

  1. Đa dạng phân loại học: Ghi nhận tổng cộng 101 loài thực vật thân gỗ thuộc 88 chi, 52 họ và 23 bộ, toàn bộ 100% loài đều thuộc ngành Ngọc lan (Magnoliophyta). Họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) phong phú nhất với 9 loài (chiếm 8,91%), họ Đậu (Fabaceae) có 8 loài (chiếm 7,92%), họ Long não (Lauraceae) và họ Xoan (Meliaceae) cùng có 5 loài (chiếm 4,95%). Hai chi có mức độ đa dạng cao nhất là chi Thị (Diospyros) và chi Bứa (Garcinia) cùng có 3 loài (chiếm 2,97%).
  2. Cấu trúc mật độ và trữ lượng: Tổng số 1.762 cá thể cây gỗ được đo đếm. Mật độ bình quân toàn khu vực đạt 607 cây/ha, tổng tiết diện ngang đạt 16,57 m2/ha và trữ lượng bình quân là 141,72 m3/ha. Mật độ giảm dần theo trạng thái: rừng trung bình đạt 799 cây/ha (dao động 520 - 1.060 cây/ha) với trữ lượng 162,77 m3/ha; rừng nghèo đạt 536 cây/ha (320 - 780 cây/ha) với trữ lượng 86,18 m3/ha; rừng kiệt đạt 334 cây/ha (260 - 740 cây/ha) với trữ lượng chỉ 38,40 m3/ha.
  3. Mức độ giàu loài theo trạng thái: Rừng trung bình có độ giàu loài vượt trội với 87 loài (chiếm 86,14% tổng số loài) và 1.063 cá thể (chiếm 60,33% tổng số cây); rừng nghèo ghi nhận 59 loài (chiếm 58,42%) với 482 cá thể (chiếm 27,36%); rừng kiệt có 52 loài (chiếm 51,49%) với 217 cá thể (chiếm 12,32%).
  4. Hiện trạng nguồn gen quý hiếm: Phát hiện 6 loài thực vật thân gỗ nguy cấp, quý hiếm có giá trị bảo tồn quốc tế và quốc gia. Trong đó có Dó bầu (Aquilaria crassna) xếp hạng Rất nguy cấp (CR) theo IUCN và Nguy cấp (EN) theo Sách đỏ Việt Nam; Cẩm lai (Dalbergia oliveri) xếp hạng EN theo IUCN và thuộc Danh mục Nhóm IIA theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP; Chò (Parashorea stellata) và Bình linh (Vitex ajugaeflora) xếp hạng Sẽ nguy cấp (VU); cùng hai loài Cầy (Irvingia malayana) và Bứa (Garcinia oblongifolia) thuộc diện Ít quan tâm (LC).

Thảo luận kết quả

Sự phân hóa rõ rệt về mật độ, trữ lượng và độ phong phú loài giữa rừng trung bình và rừng kiệt phản ánh sâu sắc tác động tiêu cực của con người trong quá khứ. Rừng kiệt tại Bù Đăng chỉ đạt trữ lượng 38,40 m3/ha (thấp hơn 4,24 lần so với rừng trung bình) do tình trạng chặt hạ chọn lọc các loài cây gỗ thương mại nhóm I, II kéo dài nhiều năm trước thời điểm đóng cửa rừng. Đất dốc trên 20 độ chiếm hơn 65% diện tích toàn huyện, khi thảm che phủ bị bóc tách đã dẫn đến xói mòn tầng mặt bazan và đá phiến sét, làm suy thoái môi trường tái sinh tự nhiên.

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa sinh động thông qua sơ đồ nhánh Cluster Dendrogram, cho phép phân loại 101 loài thực vật thành 6 nhóm quần hợp có độ tương đồng 80%. Nhóm 1 và 2 là các loài đặc trưng như Trâm và Dẻ; nhóm 3 gồm Dâu gia xoan, Vải rừng, Còng; nhóm 5 gồm 23 loài chiếm ưu thế tầng nhỡ như Bời lời, Cám, Cánh kiến; trong khi nhóm 6 quy tụ 78 loài phân tán. Biểu đồ Venn thể hiện sự giao thoa thành phần loài, trong đó rừng nghèo và rừng kiệt có độ tương đồng rất cao về số họ (đều có 37 họ, chiếm 72,55%) và số chi (53 chi so với 50 chi). Đồ thị phân tích tọa độ chính PCA và đa chiều MDS khẳng định tính tách biệt rõ ràng về mặt sinh thái của rừng trung bình so với hai trạng thái còn lại. So với các hệ sinh thái lân cận như Vườn Quốc gia Bù Gia Mập (148 loài thân gỗ) hay Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu, độ đa dạng loài tại Bù Đăng nằm ở mức trung bình khá, nhưng đang đối mặt với sự phân mảnh sinh cảnh nghiêm trọng do tiếp giáp 104.919 ha diện tích cây công nghiệp lâu năm của huyện.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích định lượng và ma trận SWOT, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược khả thi nhằm bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên rừng tại Bù Đăng:

  1. Thiết lập phân vùng bảo vệ nghiêm ngặt nguồn gen quý hiếm: Ban Quản lý Rừng phòng hộ Bù Đăng phối hợp Chi cục Kiểm lâm Bình Phước tiến hành định vị tọa độ GPS và gắn mã số số hóa cho 100% cá thể mẹ của 6 loài cây nguy cấp, đặc biệt là quần thể Dó bầu (Aquilaria crassna) và Cẩm lai (Dalbergia oliveri). Thực hiện khoanh vùng bảo vệ lõi với bán kính 50 m quanh mỗi cây mẹ trong giai đoạn 2022 - 2024 để thu gom hạt giống phục vụ gieo ươm nhân tạo.
  2. Triển khai kỹ thuật lâm sinh làm giàu 131,31 ha rừng khoanh nuôi: Ứng dụng mô hình trồng bổ sung cây bản địa vào các lỗ trống tán tại 18 ô rừng nghèo và 12 ô rừng kiệt. Mục tiêu nâng độ tàn che từ dưới 0,3 lên trên 0,6 và tăng mật độ cây tái sinh mục đích đạt trên 1.500 cây/ha. Sử dụng các loài cây gỗ bản địa có chỉ số IVI cao như Bình linh, Bời lời, Chò nhai kết hợp cây họ Đậu để cải tạo đất, hoàn thành mục tiêu lâm sinh trước năm 2026.
  3. Ứng dụng công nghệ giám sát và ngăn chặn vi phạm lâm luật: Nâng cấp hệ thống giám sát cảnh báo sớm cháy rừng và mất rừng bằng dữ liệu viễn thám kết hợp thiết bị bay không người lái (UAV). Hạt Kiểm lâm Bù Đăng tăng cường tuần tra liên ngành tại các điểm nóng giáp ranh thủy điện Thác Mơ, phấn đấu giảm 50% số vụ vi phạm khai thác gỗ và lấn chiếm đất rừng mỗi năm.
  4. Phát triển sinh kế bền vững gắn với chi trả dịch vụ môi trường rừng: Ủy ban nhân dân huyện Bù Đăng và các xã Đồng Nai, Phú Sơn, Thọ Sơn đẩy mạnh giao khoán bảo vệ 18.558,06 ha rừng phòng hộ cho 39,98% đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ. Kết hợp hỗ trợ kỹ thuật thâm canh 104.076 ha điều và cao su hiện có nhằm nâng cao thu nhập hộ gia đình thêm 20 - 25%, giảm triệt để áp lực xâm lấn tài nguyên rừng tự nhiên.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Ban Quản lý Rừng phòng hộ Bù Đăng và lực lượng Kiểm lâm: Cung cấp cơ sở dữ liệu số hóa về danh lục 101 loài thực vật thân gỗ và bản đồ phân bố 57 ô tiêu chuẩn, phục vụ trực tiếp cho việc lập Phương án quản lý rừng bền vững giai đoạn 2021 - 2030 và thiết kế các tuyến tuần tra bảo vệ rừng trọng điểm.
  2. Cán bộ quy hoạch và hoạch định chính sách lâm nghiệp địa phương: Cung cấp các luận cứ định lượng về cấu trúc trữ lượng (từ 38,40 m3/ha ở rừng kiệt đến 162,77 m3/ha ở rừng trung bình) để hỗ trợ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Phước xây dựng chính sách phân bổ vốn ngân sách bảo vệ và phát triển rừng hàng năm.
  3. Nhà khoa học, giảng viên và sinh viên ngành Lâm nghiệp - Môi trường: Tài liệu tham khảo chuẩn mực về quy trình phân tích đa dạng sinh học định lượng qua môi trường R (gói nVennR, ggdendro), phân tích đa chiều MDS, PCA và phương pháp tính toán chỉ số Rényi, Simpson, Shannon-Wiener trong nghiên cứu hệ sinh thái rừng nhiệt đới.
  4. Các tổ chức phi chính phủ và quỹ bảo tồn thiên nhiên (WWF, IUCN, CEPF): Nguồn dữ liệu thực địa tin cậy về 6 loài thực vật thân gỗ nguy cấp phục vụ công tác xây dựng hồ sơ tài trợ các dự án bảo tồn nguồn gen thực vật quý hiếm và phục hồi cảnh quan rừng vùng Đông Nam Bộ.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn đã ghi nhận bao nhiêu loài thực vật thân gỗ và họ thực vật nào chiếm ưu thế nhất?
Nghiên cứu đã xác định được 101 loài thực vật thân gỗ thuộc 88 chi, 52 họ và 23 bộ thực vật bậc cao có mạch. Họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) chiếm ưu thế lớn nhất về số loài với 9 loài (chiếm 8,91% tổng số loài), tiếp đến là họ Đậu (Fabaceae) với 8 loài (chiếm 7,92%), họ Long não (Lauraceae) và họ Xoan (Meliaceae) đều có 5 loài.

Sự khác biệt về mật độ và trữ lượng giữa ba trạng thái rừng được thể hiện ra sao?
Mật độ và trữ lượng suy giảm rõ rệt theo mức độ suy thoái: rừng trung bình đạt mật độ 799 cây/ha và trữ lượng 162,77 m3/ha; rừng nghèo đạt 536 cây/ha và 86,18 m3/ha; rừng kiệt suy giảm xuống chỉ còn 334 cây/ha và 38,40 m3/ha, cho thấy sự suy thoái trữ lượng lên tới hơn 4 lần giữa rừng trung bình và rừng kiệt.

Khu vực nghiên cứu có những loài thực vật thân gỗ nào thuộc danh mục bị đe dọa tuyệt chủng?
Nghiên cứu ghi nhận 6 loài cây gỗ quý hiếm gồm Dó bầu (Aquilaria crassna - IUCN CR, Sách đỏ Việt Nam EN), Cẩm lai (Dalbergia oliveri - IUCN EN, Nhóm IIA Nghị định 06/2019), Chò (Parashorea stellata - VU), Bình linh (Vitex ajugaeflora - VU), Cầy (Irvingia malayana - LC) và Bứa (Garcinia oblongifolia - LC).

Tại sao tác giả lại áp dụng phương pháp phân tầng ngẫu nhiên và lập 57 ô tiêu chuẩn 500 m2?
Phương pháp phân tầng ngẫu nhiên theo 3 trạng thái trữ lượng của Thông tư 33/2018/TT-BNNPTNT kết hợp kích thước ô 500 m2 (25m x 20m) với tổng diện tích 2,85 ha giúp đảm bảo tính đại diện cho địa hình dốc phân cắt mạnh từ 127 m đến 590 m, phản ánh đầy đủ cấu trúc của cây gỗ có DBH từ 5 cm trở lên.

Ma trận SWOT trong luận văn mang lại định hướng cốt lõi nào cho công tác quản lý rừng?
Phân tích SWOT đã định hình 4 nhóm chiến lược: tận dụng chính sách đóng cửa rừng để củng cố bộ máy (SO); đẩy mạnh đào tạo cán bộ để tranh thủ nguồn vốn đầu tư công (WO); tăng cường phối hợp kiểm lâm liên tỉnh để ngăn chặn khai thác lậu (ST); và hoàn thiện phương án phòng cháy chữa cháy rừng để giảm thiểu rủi ro biến đổi khí hậu (WT).

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện hiện trạng đa dạng thực vật thân gỗ tại huyện Bù Đăng qua 57 ô tiêu chuẩn (2,85 ha), xác định được 101 loài thuộc 88 chi, 52 họ và 23 bộ.
  • Cung cấp bức tranh định lượng chi tiết về sự phân hóa cấu trúc lâm phần: mật độ bình quân 607 cây/ha, trữ lượng 141,72 m3/ha và tổng tiết diện ngang 16,57 m2/ha qua 3 trạng thái rừng.
  • Xác định vị trí phân bố và hiện trạng của 6 loài cây gỗ nguy cấp, quý hiếm có giá trị bảo tồn cao như Dó bầu, Cẩm lai, Chò và Bình linh.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ kết hợp kỹ thuật lâm sinh khoanh nuôi tái sinh trên 131,31 ha đất với phát triển sinh kế cho 39,98% đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2022 - 2026.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho công tác quản lý bền vững 40.540,32 ha đất lâm nghiệp tại Bù Đăng; các nhà quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác trực tiếp nguồn dữ liệu để áp dụng vào các chương trình bảo tồn đa dạng sinh học thực địa.