Đặt vấn đề Rừng là nguồn tài nguyên sinh thái quan trọng được Chính phủ Việt Nam công nhận. Rừng có vai trò xã hội, góp phần tạo công ăn việc làm thu nhập. Có khoảng 25 triệu người Việt Nam có 20 — 40% thu nhập hằng năm đến từ rừng.Vai trò của rừng cũng được thể hiện ở vùng sâu vùng xa, vùng cao nơi 10% dân cư sống bên trong hoặc gần các khu rừng (diện tích x4p xi 12 triệu ha) là người nghèo hoặc người dân tộc thiểu số (Theo Dữ liệu mở về phát triển Việt Nam, 2019). Theo Báo cáo tình hình kinh tế và xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2023, diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính đạt 87,3 nghìn ha, tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước, số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 18,6 triệu cây, tăng 3,7%, sản lượng gỗ khai thác ước tinh đạt 5.472,9 nghìn mỶ, tăng 3,8%.
Tinh chung 6 tháng đầu năm 2023, diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính đạt 125,5 nghìn ha, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước, số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 45,9 triệu cây, tăng 5%, sản lượng gỗ khai thác đạt 8.806,1 nghìn mỶ, tăng 3,7%. Diện tích rừng bị thiệt hại là 913,4 ha, gấp 2,5 lần so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị chặt, phá là 436,7 ha, tăng 25,5%, diện tích rừng bị cháy là 476,7 ha, gấp 32 lần. Tính chung 6 tháng dau năm 2023, cả nước có 1.168 ha rừng bị thiệt hại, tăng 92,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị chặt, phá là 624,7 ha, tăng 7,4%, diện tích rừng bị cháy là 543.4 ha, gấp 22,5 lần (Nguồn: Ban QLR phòng hộ Sêrêpốk). Các số liệu trên đã cho thấy được diện tích rừng tăng, nhưng diện tích rừng thiệt hai cũng tăng lên rất nhiều trong khoảng thời gian quý II năm 2023.
Mặc dù có chính sách và chương trình của Nhà nước giúp diện tích rừng tăng lên nhưng diện tích rừng vẫn bị thiệt hại nhiều, các điện tích rừng tự nhiên bị phá hoại, chiếm hữu. Ban Quản lý rừng phòng hộ (QLRPH) SêRêPốk là một don vi quản lí rừng tại huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng, chịu trách nhiệm quản lý hơn 50.914 ha rừng phòng hộ và 29.051 ha rừng sản xuất. Là một khu vực có quân thể sinh vật phong phú và đa dạng, nhưng lại chưa có nhiều nghiên cứu khoa học về đa dang sinh học và cấu trúc rừng tại khu vực này, chưa phát huy được tối đa hiệu quả sử dụng rừng cũng như quản lý và bảo vệ rừng. Nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng giúp cho việc tác động vào rừng được hiệu quả hon, tang giá tri của rừng về cả mặt sinh thái và sinh học.
Đa dang sinh học đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định được các loài cần được tăng cường bảo vệ, giám sát, giúp tăng giá trị về giá trị sinh học của khu rừng. Các nghiên cứu đã chứng minh sự liên hệ giữa câu trúc rừng, tổ thành loài trong khu vực với đa dạng sinh học của khu vực. Việc nghiên cứu đặc điểm cấu trúc, đa dạng loài cây gỗ tại Tiểu khu 210A tại rừng phòng hộ SêRêPốk có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định hiện trạng rừng, cũng như thành phan loại thực vật, mật độ, cau trúc, trữ lượng rừng.Từ đó có những định hướng đề bảo vệ, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng. Xuất phat từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, trong khuôn khổ của một khoá luận tốt nghiệp, đề tài “Đặc điểm cấu trúc và đa dạng thực vật thân gỗ trạng thái rừng giàu tại Tiểu khu 210A, rừng phòng hộ SêRêPốk, huyện Dam Rong, tỉnh Lâm Đồng” được thực hiện.
Mục tiêu nghiên cứu Xác định đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ lớn và tái sinh dưới tán rừng của trang thái rừng giàu tại Tiểu khu 210A tại rừng phòng hộ SêRêPốk. Xác định chỉ số đa dạng sinh học tại khu vực nghiên cứu. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng dùng dé nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng và đa dạng thực vật thân gỗ là diện tích rừng trạng thái giàu tại tiêu khu 210A thuộc sự quản lý của Ban quản lý rừng phòng hộ SéREP6k, huyện Dam rong, tinh Lam Déng.
Trạng thái rừng nghiên cứu: rừng giàu (có trữ lượng từ trên 200 mỶ/ha đến 300 mỶ/ha) theo Thông tư 33/2018/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành quy định chi tiết về nội dung phương pháp, quy trình điều tra, kiểm kê rừng và theo dõi diễn biến rừng. Phạm vi nghiên cứu Số liệu được thu thập trên diện tích rừng điển hình trang thái rừng giàu tại tiêu khu 210A, khu vực lâm phần thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ SêRêPốk, huyện Dam Rông, tỉnh Lam Đồng. Đề tài này nghiên cứu đối tượng là cây thân gỗ, không nghiên cứu các loải cây bụi, dây leo và loài khác. Thời gian nghiên cứu từ tháng 04 năm 2023 đến tháng 08 năm 2023.
Chương 2 TONG QUAN VE VAN ĐÈ NGHIÊN CUU 2. Tổng quan về nghiên cứu cấu trúc rừng 2. Khái niệm về cấu trúc rừng Cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp tô hợp của các thành phan sinh vật trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có thể cùng sinh sống hòa thuận trong một khoảng không gian nhất định trong một giai đoạn phát triển của rừng. Cấu trúc rừng vừa là kết quả vừa là sự thể hiện của các mối quan hệ dau tranh sinh tồn và thích ứng lẫn nhau giữa các thành phan trong hệ sinh thái với nhau và với môi trường sinh thái.
Cấu trúc rừng là sự tô chức sắp xếp các thành phan quan xã thực vật theo không gian và thời gian. Sự phân bố của quần xã thực vật trong không gian thể hiện theo hai khía cạnh: theo chiều thắng đứng và theo chiều nằm ngang của rừng (PGS.TS Nguyễn Văn Thêm). Còn theo Meyer (1952), Turbull (1963), Rollet (1969), thì “cau trúc” dé chỉ sự phân bố cây gỗ theo cấp kính hoặc là phân bố của tiết điện ngang thân cây theo cấp đường kính. Cấu trúc là một trong những nội dung nghiên cứu quan trọng về hình thái quần thể thực vật rừng.2 Tình hình nghiên cứu cấu trúc rừng trên thế giới Trên thế giới, việc nghiên cứu cấu trúc rừng đã được các nhà khoa học tiến hành từ lâu nhằm xác định cơ sở khoa học phục vụ công tác quản lý, bảo vệ rừng, đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động vào rừng góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường với nhiều phương pháp khác nhau.
Phương pháp vẽ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng do David T. đề xướng và sử dụng lần đầu tiên tại Guyan đến nay là phương pháp hiệu quả để nghiên cứu cấu trúc tầng của rừng. Phương pháp này có nhược điểm là chỉ minh họa được cách sắp xếp theo chiều thắng đứng của các loài cây gỗ trong một không gian diện tích nhất định. Cusen (1951) đã khắc phục nhược điểm này bằng cách vẽ một số giải rừng kề bên nhau và đưa ra một hình ảnh về không gian ba chiêu.
Raunkiaer (1934) sắp xếp các loài của hệ thực vật nghiên cứu vào trong các dạng sống dựa trên cơ sở là sự khác nhau về khả năng thích nghi của thực vật qua thời gian bat lợi trong năm. Từ tô hợp các dấu hiệu thích nghi ông chỉ chọn một dau hiệu là vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất suốt thời gian bất lợi trong năm và chia làm các dạng sông khác nhau gồm nhóm cây có chồi trên mặt đất, nhóm cây có chỗi sát mặt đất, nhóm cây có chồi nửa ân và nhóm cây có chéi sống một năm (dẫn theo Nguyễn Đình Trưởng, 2012). (1952) cũng đã phân biệt tổ thành thực vật của rừng mưa nhiệt đới thành hai loại: rừng mưa hỗn hợp có tổ thành loài cây phức tạp va rừng mưa don ưu có tô thành loài cây đơn giản. Trong những lập địa đặc biệt thì rừng mưa đơn ưu chỉ bao gồm một loài cây, cũng theo tác giả, rừng mưa thường có nhiều tầng.
Trong rừng mưa nhiệt đới, thông thường ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và các cây thân cỏ còn có nhiều loài cây leo đủ hình đáng và nhiều kích cỡ khác nhau, nhiều loài phụ sinh trên thân hoặc cành cây gỗ lớn (dẫn theo Vương Tan Nhị dịch). Prodan (1952) đã nghiên cứu quy luật phân bố chủ yếu là phân bố đường kính có liên hệ với giai đoạn phát dục của lâm phần và biện pháp kinh doanh rừng. Sự phân bé số cây theo cỡ đường kính có giá trị tiêu biéu nhất cho lâm phan, phan ánh được cấu trúc lâm sinh của lâm phần. Những quy luật phân bố mà ông xác định được ở rừng tự nhiên được chấp nhận và được kiểm chứng ở nhiều nơi trên thé SIỚI.
Kết quả nghiên cứu trên của ông cho thấy: rừng tự nhiên có quy luật phân bố một đỉnh lệch trái, số cây tập trung nhiều ở cấp kính nhỏ do có nhiều loài, nhiều thế hệ cùng tồn tại. Ở các cấp kính lớn hơn, chỉ có một số loài nhất định do đặc tính sinh học hay do vị trí thuận lợi trong rừng mà chúng có khả năng tồn tại và phát triển. Về phân bố chiều cao, rừng tự nhiên thường có dạng nhiều đỉnh, rừng có nhiều thế hệ nên phân bố có đạng như vậy, giới hạn đường cong phân bố là phân bố giảm đặc trưng cho rừng không đều tuổi. Quần xã thực vật gồm những loài cây có hình dạng khác nhau, dạng sống khác nhau tạo ra một hoàn cảnh sinh thái nhất định có một cấu trúc bên ngoài và được sắp xếp một cách tự nhiên hợp lý trong không gian.
Theo ông, cách sắp xếp được xem xét theo hướng thắng đứng và nằm ngang. Từ cách sắp xếp này có thé phân biệt các quan xã thực vật khác nhau và có thé miêu ta chúng bằng các biểu đồ. Phương pháp này có thể nhận diện nhanh một kiểu rừng thông qua quan sát biéu đồ mặt cắt của chúng. Như vậy, các nha lâm học có thé lựa chọn các biện pháp kỹ thuật phù hợp dé điều chỉnh mật độ rừng sao cho rừng phát triển ôn định nhất.
Theo Meyer (1952), thuật ngữ “cấu trúc” được dùng dé chỉ rõ sự phân bố cây gỗ theo cấp kính hay phân bố tiết điện ngang thân cây theo cấp kính. Ông xây dựng phương trình hồi quy, mô tả phân bố số cây theo cấp kính bằng phương trình toán học có dạng đường cong liên tục giảm dé tính toán cho chu kỳ khai thác. Theo Nguyễn Văn Trương (1983), từ Richards. hay Thái Văn Trừng đến M.