Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam, ngành chăn nuôi gia súc đóng vai trò trọng yếu trong việc cung cấp nguồn thực phẩm, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân từ quy mô nông hộ đến trang trại. Tuy nhiên, điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm là môi trường thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển của các loài vi sinh vật và ký sinh trùng gây bệnh trên đàn vật nuôi. Tại nhiều vùng nông thôn, tập quán chăn nuôi gia súc theo phương thức chăn thả, kết hợp với thói quen nuôi chó thả rông và tình trạng thiếu kiểm soát vệ sinh thú y trong giết mổ đã khiến nguy cơ lây lan các bệnh truyền nhiễm và ký sinh trùng trở nên phức tạp.

Một trong những bệnh ký sinh trùng phổ biến và nguy hiểm là bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra trên gia súc (lợn, trâu, bò, dê, cừu) và có khả năng lây sang người. Đây là dạng ấu trùng của loài sán dây trưởng thành Taenia hydatigena ký sinh ở ruột non của chó và các loài thú ăn thịt. Khi ký sinh trên lợn, ấu trùng định vị tại bề mặt gan, màng treo ruột, màng mỡ chài và các cơ quan trong xoang bụng, xoang ngực. Ở mức độ nhiễm nhẹ, con vật ít biểu hiện rối loạn rõ rệt; nhưng khi nhiễm số lượng lớn, ấu trùng di hành gây tổn thương nhu mô gan, viêm màng bụng cấp tính, hoàng đản, sốt cao, chèn ép nội tạng và có thể dẫn đến tử vong, đặc biệt trên gia súc non. Đáng chú ý, việc chẩn đoán bệnh trên lợn sống gặp nhiều khó khăn do triệu chứng lâm sàng không đặc thù và hoàn toàn không thể phát hiện qua xét nghiệm phân vì ấu trùng không ký sinh trong lòng ống tiêu hóa.

Tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, tập quán nuôi chó thả rông, tình trạng chó phóng uế bừa bãi ra môi trường và việc xử lý nội tạng nhiễm bệnh sau giết mổ chưa tuân thủ quy chuẩn vệ sinh thú y là những nguyên nhân trực tiếp làm tăng nguy cơ lây nhiễm trứng sán cho lợn qua thức ăn và nước uống. Để có cơ sở khoa học xây dựng biện pháp kiểm soát dịch tễ, đề tài "Nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống" đã được thực hiện.

Mục đích và mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục đích của đề tài: Xác định được biện pháp phòng chống bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn hiệu quả và phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, từ đó xây dựng được quy trình phòng chống bệnh đạt hiệu quả cao.
  2. Mục tiêu của đề tài: Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và triệu chứng, bệnh tích của bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Lợn và chó nuôi tại các nông hộ; sán dây ký sinh đường tiêu hóa ở chó và ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh ở nội tạng lợn.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát thực địa và thu thập mẫu tại 3 xã thuộc huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên gồm xã Tràng Xá, xã Dân Tiến và xã Bình Long. Mẫu vật được xét nghiệm, định loại tại Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y (Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên) và Phòng Ký sinh trùng (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật).
  • Phạm vi thời gian: Quá trình điều tra, mổ khám và thu thập số liệu được tiến hành từ ngày 25/05/2015 đến ngày 18/11/2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và phân loại học

Nghiên cứu dựa trên cơ sở ký sinh trùng học thú y và hệ thống phân loại sán dây của Schulz và Gvozdev (1970), đã được các nhà ký sinh trùng học Việt Nam (Phan Thế Việt và cs, 1977; Nguyễn Thị Kỳ, 1994, 2003; Nguyễn Thị Lê và cs, 1996) ứng dụng chuẩn hóa:

  • Ngành: Sán dẹp (Plathelminthes)
  • Lớp: Cestoda Rudolphi, 1808
  • Phân lớp: Eucestoda Southwell, 1930
  • Bộ: Cyclophyllidea Beneden in Braun, 1900
  • Họ: Taeniidae Ludwig, 1886
  • Giống: Taenia Linnaeus, 1758
  • Loài: Taenia hydatigena Pallas, 1766 (dạng ấu trùng là Cysticercus tenuicollis)

Về mặt sinh học, sán dây trưởng thành Taenia hydatigena sống ký sinh ở ruột non của chó (vật chủ cuối cùng), cơ thể dài khoảng 5000 mm, gồm 550 - 700 đốt. Đốt sán già chứa đầy trứng mang phôi 6 móc tự đứt và theo phân bài xuất ra môi trường. Vật chủ trung gian (lợn, trâu, bò, dê) nuốt phải thức ăn, nước uống nhiễm trứng sán; dưới tác động của dịch tiêu hóa, ấu trùng 6 móc thoát vỏ, xuyên qua niêm mạc ruột vào tĩnh mạch cửa chuyển dịch về gan. Tại gan, ấu trùng đào các đường rãnh trong nhu mô trong khoảng 30 ngày, sau đó chui qua bao gan vào xoang bụng, định vị ở màng treo ruột, màng mỡ chài hoặc bề mặt các nội tạng, phát triển thành bọc nước Cysticercus tenuicollis có cổ mỏng, bên trong chứa dịch trong suốt và một đầu sán lộn vào trong. Chó ăn phải phủ tạng gia súc chứa ấu trùng này sẽ tái nhiễm sán dây trưởng thành sau khoảng 2 tháng.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Tác giả đã áp dụng phối hợp các phương pháp dịch tễ học thú y, mổ khám ký sinh trùng và kỹ thuật vi thể:

  • Phương pháp lấy mẫu: Thu thập mẫu ngẫu nhiên theo phương pháp lấy mẫu phân tầng (Nguyễn Như Thanh, 2001) tại 3 xã (Tràng Xá, Dân Tiến, Bình Long).
  • Phương pháp khảo sát trên lợn: Thực hiện mổ khám phi toàn diện nội tạng trên 502 con lợn tại các điểm giết mổ và nông hộ. Tiến hành bộc lộ xoang ngực và xoang bụng; kiểm tra bề mặt gan, lách, màng mỡ chài, màng treo ruột; thu thập toàn bộ nang ấu trùng, đếm số lượng ấu trùng trên từng cá thể, đo kích thước, xác định khối lượng bằng cân điện tử và bảo quản trong cồn 70° (Nguyễn Thị Kim Lan, 2011).
  • Phương pháp khảo sát trên chó: Tiến hành mổ khám phi toàn diện cơ quan tiêu hóa theo phương pháp của Skrjabin (1928) trên 251 con chó. Thu thập toàn bộ sán dây trong ruột, làm chết tự nhiên trong nước lã, rửa sạch bằng nước cất và cố định trong cồn 70°.
  • Kỹ thuật định loại sán dây:
    • Tiêu bản tạm thời: Sử dụng dung dịch gồm glyxerin, axit lactic và nước cất (tỷ lệ 1:1:1) để làm trong nhanh mẫu, soi cấu tạo đầu, giác bám và móc dưới kính hiển vi.
    • Tiêu bản cố định: Ép mẫu giữa hai lam kính trong nước cất 15 phút, ngâm cồn 70° trong 10 ngày để sán bong tự nhiên; nhuộm bằng thuốc nhuộm Carmin từ 10 - 15 phút; làm mất nước qua các nồng độ cồn tăng dần (70°, 80°, 96°, 100°); làm trong bằng dung môi xylen và gắn mẫu vĩnh viễn bằng keo Baume-Canada. Định loại dựa trên hình thái giác bám, hàng móc, số lượng tinh hoàn, cấu trúc buồng trứng và nhánh tử cung theo khóa định loại của Schulz và Gvozdev (1970), Phan Thế Việt và cs (1977), Nguyễn Thị Kỳ (2003).
  • Phương pháp bệnh học: Ghi nhận triệu chứng lâm sàng bằng việc theo dõi thể trạng lợn trước khi mổ; quan sát tổn thương đại thể tại bề mặt và nhu mô các khí quan có ấu trùng bám.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Tính toán tỷ lệ nhiễm (%), cường độ nhiễm (ấu trùng/con hoặc sán/chó); xử lý thống kê sinh học (Nguyễn Văn Thiện, 2008) và phân tích mối tương quan bằng phần mềm Minitab 15.0.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu bật vai trò của ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam và nguy cơ thường trực từ các bệnh ký sinh trùng trong điều kiện thời tiết nhiệt đới ẩm. Khóa luận chỉ ra thực trạng chăn nuôi nông hộ kết hợp nuôi chó thả rông tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên là nguồn phát tán mầm bệnh sán dây và ấu trùng sán dây. Phần này xác lập mục đích, mục tiêu nghiên cứu, khẳng định ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dữ liệu dịch tễ địa phương và ý nghĩa thực tiễn trong việc khuyến cáo quy trình kiểm soát bệnh cho người chăn nuôi và thú y cơ sở.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết hệ thống cơ sở lý luận và các công trình nghiên cứu liên quan:

  • Hệ thống hóa vị trí phân loại học của sán dây ký sinh ở chó, tập trung vào 8 loài phổ biến tại miền Bắc Việt Nam (Dipylidium caninum, Taenia hydatigena, Taenia pisiformis, Multiceps multiceps, Echinococcus granulosus, Mesocestoides lineatus, Spirometra erinacei-europaei, Spirometra mansonoides).
  • Mô tả chi tiết hình thái giải phẫu của Taenia hydatigena và dạng ấu trùng Cysticercus tenuicollis; phân tích vòng đời sinh học qua vật chủ trung gian.
  • Tổng kết cơ chế bệnh sinh: thai 6 móc xuyên thành ruột vào gan gây tổn thương chấn thương cơ học, hoại tử nhu mô, xuất huyết, tạo dải xơ và viêm màng bụng thẩm xuất.
  • Đánh giá các phương pháp chẩn đoán (mổ khám sau chết, chọc dò bao dịch xoang bụng, phản ứng huyết thanh học phát hiện kháng nguyên 36 kDa) và tình hình nghiên cứu trong nước (Phạm Văn Khuê, Phan Lục, Nguyễn Thị Kim Lan) cũng như quốc tế (Junquera, Nath, Abidi).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu thực địa và phòng thí nghiệm:

  • Xác định địa bàn điều tra tại 3 xã (Tràng Xá, Dân Tiến, Bình Long) thuộc huyện Võ Nhai;
  • Quy chuẩn phương pháp mổ khám phi toàn diện 502 lợn và 251 chó;
  • Quy trình chế tác tiêu bản nhuộm Carmin và gắn Baume-Canada để định loại hình thái sán dây;
  • Thiết lập các chỉ tiêu dịch tễ: tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm phân theo địa bàn, lứa tuổi (≤ 6 tháng, > 6 - 12 tháng, > 12 tháng), tính biệt (đực, cái) và các tháng khảo sát (tháng 6 đến tháng 10/2015);
  • Quy trình thu thập, cân đo khối lượng và quan sát tổn thương đại thể của ấu trùng C. tenuicollis.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này tập trung công bố và biện giải các phát hiện thực nghiệm qua các bảng số liệu chi tiết:

  • Đánh giá tình hình nhiễm Cysticercus tenuicollis trên lợn: Tỷ lệ nhiễm chung là 17,49% (88/502 con), cường độ dao động từ 1 - 45 ấu trùng/con. Tỷ lệ nhiễm tăng dần theo lứa tuổi lợn (từ 12,87% ở lợn ≤ 6 tháng lên 21,58% ở lợn > 12 tháng) và lợn cái (20,00%) có tỷ lệ nhiễm cao hơn lợn đực (14,98%).
  • Khảo sát sán dây ở chó: Phát hiện 5 loài sán dây ký sinh (D. caninum, S. erinacei-europaei, T. hydatigena, T. pisiformis, M. multiceps). Tỷ lệ nhiễm Taenia hydatigena trên chó đạt 31,39% (79/251 con), với cường độ từ 1 - 14 sán/chó.
  • Xác lập mối tương quan thuận giữa tỷ lệ chó nhiễm T. hydatigena và tỷ lệ lợn nhiễm C. tenuicollis tại 3 xã điều tra.
  • Phân tích triệu chứng và bệnh tích: lợn nhiễm nặng biểu hiện gầy yếu, niêm mạc nhợt nhạt hoặc hoàng đản, bụng to; mổ khám ghi nhận mặt gan xuất hiện rãnh di hành, bao gan có màng giả fibrin, tích dịch xoang bụng và nang ấu trùng bám nhiều ở màng treo ruột, màng mỡ chài.
  • Xây dựng hệ thống giải pháp kỹ thuật phòng chống bệnh cho địa bàn huyện Võ Nhai.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Khóa luận đúc kết các chỉ số dịch tễ học cốt lõi đã thu thập được; đồng thời đề xuất các kiến nghị cụ thể đối với chính quyền địa phương, cơ quan thú y và người dân nhằm thắt chặt quản lý đàn chó, nâng cao điều kiện vệ sinh chuồng trại và xử lý triệt để phủ tạng nhiễm bệnh tại các lò giết mổ.


Kết quả và đóng góp

Số liệu thực nghiệm chính

Các kết quả định lượng thu được qua điều tra mổ khám thực tế trên địa bàn huyện Võ Nhai được tổng hợp qua các bảng dưới đây:

Bảng 1: Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn theo địa phương

Địa phương (xã) Số lợn mổ khám (con) Số lợn nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%) Cường độ nhiễm (ấu trùng/con)
Tràng Xá 173 24 13,87 2 - 35
Dân Tiến 162 27 16,67 1 - 45
Bình Long 167 37 20,96 1 - 36
Tính chung 502 88 17,49 1 - 45

Bảng 2: Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn theo lứa tuổi

Tuổi lợn (tháng tuổi) Số lợn mổ khám (con) Số lợn nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%) Cường độ nhiễm (ấu trùng/con)
≤ 6 171 22 12,87 1 - 19
> 6 - 12 192 36 18,75 2 - 35
> 12 139 30 21,58 1 - 45
Tính chung 502 88 17,49 1 - 45

Bảng 3: Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn theo tính biệt

Tính biệt Số lợn mổ khám (con) Số lợn nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%) Cường độ nhiễm (ấu trùng/con)
Đực 247 37 14,98 1 - 35
Cái 255 51 20,00 1 - 45
Tính chung 502 88 17,49 1 - 45

Bảng 4: Tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn theo tháng điều tra (năm 2015)

Tháng điều tra Số lợn mổ khám (con) Số lợn nhiễm (con) Tỷ lệ mắc bệnh (%) Cường độ nhiễm (ấu trùng/con)
Tháng 6 98 12 12,24 1 - 18
Tháng 7 103 16 15,53 2 - 21
Tháng 8 92 17 18,47 1 - 19
Tháng 9 108 21 19,44 2 - 37
Tháng 10 101 22 21,78 1 - 45
Tính chung 502 88 17,49 1 - 45

Bảng 5: Thành phần loài sán dây ký sinh ở chó nuôi tại huyện Võ Nhai

STT Tên loài sán dây Tràng Xá Dân Tiến Bình Long Tỷ lệ gặp (%)
1 Dipylidium caninum (Linnaeus, 1758) + + + 100,00
2 Spirometra erinacei-europaei (Rudolphi, 1819) + + + 100,00
3 Taenia hydatigena (Pallas, 1766) + + + 100,00
4 Taenia pisiformis (Bloch, 1780) - + + 66,67
5 Multiceps multiceps (Leske, 1780) - - + 33,33

(Ghi chú: [+] phát hiện thấy; [-] không phát hiện thấy)

Bảng 6: Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó theo địa phương

Địa phương (xã) Số chó mổ khám (con) Số chó nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%) Cường độ nhiễm (sán dây/chó)
Tràng Xá 83 21 25,30 1 - 11
Dân Tiến 79 26 32,91 1 - 13
Bình Long 89 32 35,96 1 - 14
Tính chung 251 79 31,39 1 - 14

Kết quả xử lý số liệu cho thấy sự tương đồng rõ rệt về mặt dịch tễ: xã Bình Long có tỷ lệ chó nhiễm sán dây T. hydatigena cao nhất (35,96%) đồng thời cũng là nơi có tỷ lệ lợn nhiễm ấu trùng C. tenuicollis cao nhất (20,96%); ngược lại, xã Tràng Xá có tỷ lệ nhiễm thấp nhất ở cả hai loài (chó 25,30% và lợn 13,87%).

Giải pháp và khuyến nghị đề xuất

Trên cơ sở phân tích chu kỳ lây nhiễm, tác giả đề xuất hệ thống biện pháp can thiệp đồng bộ:

  1. Kiểm soát đàn chó: Quản lý chặt chẽ đàn chó nuôi, không thả rông; nghiêm cấm nuôi chó trong khu vực chuồng trại gia súc; định kỳ tẩy sán dây cho chó bằng các hoạt chất đặc hiệu (như Praziquantel, Albendazole).
  2. Vệ sinh thú y chuồng trại: Định kỳ quét dọn chuồng trại, thu gom phân lợn và phân chó để xử lý bằng phương pháp ủ nhiệt sinh học (nhiệt độ ủ đạt 50 - 60°C làm hỏng vỏ và tiêu diệt phôi sán); phun thuốc tiêu độc khử trùng định kỳ.
  3. Kiểm soát giết mổ: Giám sát nghiêm ngặt vệ sinh tại các điểm giết mổ gia súc; khi phát hiện phủ tạng (gan, phổi, lách, màng mỡ chài) có ấu trùng C. tenuicollis, phải thu gom tiêu hủy hoặc xử lý nhiệt triệt để; tuyệt đối không vứt bừa bãi hoặc cho chó ăn sống nội tạng chứa ấu trùng.
  4. Quản lý thức ăn, nước uống: Không cho lợn ăn rau xanh, bèo sống chưa qua xử lý sạch; cung cấp nước sạch, tránh nguồn nước bị ô nhiễm bởi phân chó.

Đóng góp của đề tài

Khóa luận đã bổ sung những dữ liệu dịch tễ học thực địa có độ tin cậy về tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis trên đàn lợn và thành phần sán dây trên đàn chó tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Công trình cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối liên hệ mật thiết giữa tỷ lệ nhiễm sán dây ở chó và tỷ lệ nhiễm ấu trùng ở lợn trong điều kiện chăn nuôi nông hộ miền núi.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được triển khai trong khoảng thời gian 6 tháng (từ tháng 5 đến tháng 11/2015), do đó số liệu biến động dịch tễ theo mùa chưa bao quát trọn vẹn cả chu kỳ năm (chưa có dữ liệu từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau). Địa bàn khảo sát giới hạn tại 3 xã của một huyện miền núi; các biện pháp phòng chống mới dừng lại ở mức đề xuất giải pháp kỹ thuật dựa trên phân tích chu kỳ sinh học chứ chưa có điều kiện thử nghiệm đánh giá hiệu quả can thiệp trên diện rộng ngoài thực địa.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô khảo sát dịch tễ trên các đối tượng vật chủ trung gian khác tại địa phương (trâu, bò, dê); theo dõi biến động tỷ lệ nhiễm liên tục trong 12 tháng; tiến hành thử nghiệm các phác đồ tẩy sán dây đồng loạt trên đàn chó nuôi tại cộng đồng để đánh giá mức độ suy giảm tỷ lệ nhiễm ấu trùng trên lợn sau can thiệp.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Thú y, Chăn nuôi: Tham khảo quy trình mổ khám phi toàn diện hệ tiêu hóa ở chó (theo Skrjabin) và kiểm tra nội tạng lợn tìm ấu trùng; phương pháp xử lý mẫu vi thể, kỹ thuật nhuộm Carmin làm tiêu bản cố định để định loại sán dây.
  • Cán bộ thú y cơ sở và cơ quan quản lý dịch tễ: Sử dụng các dẫn liệu về tỷ lệ, cường độ nhiễm và đặc điểm bệnh tích đại thể để phục vụ công tác kiểm soát giết mổ, xây dựng chương trình phòng chống ký sinh trùng truyền lây giữa chó và gia súc tại địa phương.
  • Người nghiên cứu ký sinh trùng học: Cung cấp thông tin đối sánh về thành phần loài sán dây ở chó và tỷ lệ nhiễm Cysticercus tenuicollis ở lợn tại khu vực trung du - miền núi phía Bắc.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn tại huyện Võ Nhai là bao nhiêu và phân bố giữa các xã như thế nào?

Theo kết quả mổ khám 502 con lợn tại 3 xã, tỷ lệ nhiễm chung là 17,49% (88 con nhiễm), cường độ nhiễm dao động từ 1 - 45 ấu trùng/con. Tỷ lệ nhiễm có sự khác nhau giữa các địa bàn: cao nhất tại xã Bình Long với 20,96% (37/167 con, cường độ 1 - 36 ấu trùng/con); tiếp theo là xã Dân Tiến với 16,67% (27/162 con, cường độ 1 - 45 ấu trùng/con); thấp nhất tại xã Tràng Xá với 13,87% (24/173 con, cường độ 2 - 35 ấu trùng/con).

2. Yếu tố lứa tuổi và tính biệt ảnh hưởng như thế nào đến mức độ nhiễm ấu trùng ở lợn?

Tỷ lệ nhiễm tăng dần theo lứa tuổi của lợn do thời gian tiếp xúc với mầm bệnh tăng lên: lợn ≤ 6 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm 12,87% (cường độ 1 - 19 ấu trùng/con); lợn từ > 6 - 12 tháng tuổi đạt 18,75% (cường độ 2 - 35 ấu trùng/con); và cao nhất ở lợn > 12 tháng tuổi với 21,58% (cường độ 1 - 45 ấu trùng/con). Về tính biệt, lợn cái có tỷ lệ nhiễm (20,00%, 51/255 con) cao hơn lợn đực (14,98%, 37/247 con), nguyên nhân được xác định do lợn cái thường có thời gian nuôi dài hơn và thường được nuôi theo phương thức tận dụng ăn thức ăn sống, uống nước chưa qua xử lý.

3. Tại huyện Võ Nhai đã phát hiện những loài sán dây nào ký sinh ở chó?

Nghiên cứu đã mổ khám 251 con chó và phát hiện 5 loài sán dây ký sinh:

  • Dipylidium caninum (tỷ lệ gặp 100% tại cả 3 xã)
  • Spirometra erinacei-europaei (tỷ lệ gặp 100% tại cả 3 xã)
  • Taenia hydatigena (tỷ lệ gặp 100% tại cả 3 xã)
  • Taenia pisiformis (tỷ lệ gặp 66,67%, xuất hiện tại Dân Tiến và Bình Long, không gặp ở Tràng Xá)
  • Multiceps multiceps (tỷ lệ gặp 33,33%, chỉ xuất hiện tại xã Bình Long)

4. Tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó tại địa phương là bao nhiêu và có tương quan gì với bệnh ở lợn?

Mổ khám 251 con chó ghi nhận 79 con nhiễm Taenia hydatigena, chiếm tỷ lệ chung là 31,39%, cường độ nhiễm từ 1 - 14 sán dây/chó. Tỷ lệ nhiễm tại các xã lần lượt là: Tràng Xá 25,30%, Dân Tiến 32,91% và Bình Long 35,96%. Tỷ lệ này có tương quan thuận rõ rệt với tỷ lệ nhiễm ấu trùng C. tenuicollis trên lợn tại từng xã: địa phương nào có tỷ lệ chó nhiễm sán dây cao (Bình Long) thì tỷ lệ lợn nhiễm ấu trùng cũng cao nhất, và ngược lại.

5. Vì sao không thể chẩn đoán bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis trên lợn sống bằng xét nghiệm phân?

Không thể chẩn đoán bệnh bằng phương pháp xét nghiệm phân thông thường vì Cysticercus tenuicollis là dạng ấu trùng ký sinh ngoài đường tiêu hóa (định vị tại nhu mô gan, bề mặt gan, màng treo ruột, màng mỡ chài, lách và xoang phúc mạc), không thải trứng hay đốt sán vào lòng ruột. Việc chẩn đoán xác định chủ yếu dựa vào mổ khám kiểm tra bệnh tích nội tạng sau khi giết mổ hoặc chọc dò dịch xoang bụng tìm đầu sán.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nông Thị Dương đã giải quyết đầy đủ các mục tiêu nghiên cứu về dịch tễ học và bệnh lý của ấu trùng Cysticercus tenuicollis trên đàn lợn tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên với tỷ lệ nhiễm chung là 17,49%. Đề tài đã làm rõ sự phân bố của 5 loài sán dây ở chó nuôi, xác định tỷ lệ nhiễm Taenia hydatigena ở chó đạt 31,39% và chứng minh mối liên hệ dịch tễ mật thiết giữa việc nhiễm sán ở chó với nguy cơ mắc bệnh ấu trùng ở lợn. Những kết quả thực nghiệm và hệ thống giải pháp phòng chống được đề xuất là cơ sở khoa học thiết thực để cơ quan thú y và người chăn nuôi tại địa phương áp dụng nhằm cắt đứt chu kỳ lây nhiễm, hạn chế thiệt hại kinh tế và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.