Đặt vấn đề Rừng là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của trái đất nói chung và của mỗi quốc gia nói riêng. Ngoài chức năng cung cấp những lâm sản phục vụ nhu cầu của con người, rừng còn có chức năng bảo vệ môi trường sinh thái và rừng là nơi lưu giữ các nguồn gen động thực vật phục vụ cho cho các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp. Rừng có được những chức năng đó là nhờ có đa dạng sinh học (ĐDSH). ĐDSH là một trong những nguồn tài nguyên quí giá nhất, vì nó là cơ sở của sự sống còn, thịnh vượng và tiến hoá bền vững của các loài sinh vật trên hành tinh chúng ta.
Nhưng hiện nay cuộc sống con người đang bị đe dọa bởi khí hậu trên trái đất đang bị thay đổi, nhiệt độ tăng lên, ảnh hưởng của hiệu ứng nhà kính đang làm thay đổi tầng ozôn. Một trong những nguyên nhân là lớp thảm thực vật màu xanh bao phủ trên toàn bề mặt trái đất bị phá hoại nghiêm trọng. Hội nghị thượng đỉnh Rio de Janeiro năm 1992 là tiếng chuông báo động cho chính phủ các nước trên hành tinh chúng ta và mọi người có lương tri trên toàn thế giới cảnh tỉnh và có trách nhiệm bảo vệ lớp thảm thực vật xanh của trái đất, trước tiên là bảo vệ tính đa dạng sinh học của nó. Bởi vì đa dạng sinh học đảm bảo cho chúng ta có thức ăn, có nước uống, có không khí trong lành và sự bình an của cuộc sống.
Theo số liệu thống kê của các tổ chức IUCN, UNDP, WWF mỗi năm trên thế giới trung bình mất đi khoảng 20 triệu ha rừng, do rất nhiều nguyên nhân, đặc biệt là do sự kém hiểu biết vì mục đích cuộc sống, vụ lợi cá nhân đốt rừng làm nương rẫy (chiếm tới 50%), bên cạnh đó còn một số nguyên nhân như nạn cháy rừng ( chiếm khoảng 23%), do khai thác quá mức (chiếm khoảng 5 – 7%) do một số nguyên nhân khác ( chiếm khoảng 8%) Bảo tồn ĐDSH ngày nay đã trở nên hết sức quan trọng trên phạm vi toàn thế giới, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang diễn ra và ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống của người dân. Nghiên cứu về ĐDSH hiện nay là một vấn đề có tính chiến m 2 lược, trong đó đa dạng thực vật chiếm vị trí hàng đầu vì thực vật có vai trò quyết định toàn bộ sự sống của các sinh vật khác. Tuy nhiên, thực tế đang đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến bảo tồn ĐDSH cần phải giải quyết như quan hệ giữa bảo tồn và phát triển bền vững hoặc tác động của biến đổi khí hậu đối với bảo tồn ĐDSH. Việt Nam là một nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa.
Do vị trí địa lý nên Việt Nam được coi là một trong những trung tâm ĐDSH của Đông Nam Á. Từ kết quả nghiên cứu khoa học trên lãnh thổ Việt Nam, các nhà khoa học nhận định Việt Nam là một trong mười nước ở châu Á và một trong mười sáu nước trên thế giới có tính ĐDSH cao. Khu rừng đặc dụng xã Trường Hà nằm trong khu di tích Pác Bó. Khu di tích Pác Bó là một khu di tích lịch sử cách mạng quốc gia - đặc biệt của Việt Nam, thuộc bản Pác Bó xã Trường Hà huyện Hà Quảng tỉnh Cao Bằng cách trung tâm thành phố Cao Bằng 52 km về phía Bắc, là điểm đầu (km 0) của đường Hồ Chí Minh.
Khu di tích lịch sử Pác Bó được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt. Khu di tích bao gồm: nhà tưởng niệm Bác Hồ, hang Cốc Pó (tên địa phương có nghĩa là "đầu nguồn"), hang Lũng Lạn, hang Ngườm Vài (đều trên núi Các Mác), suối Lê nin, bàn đá nơi Bác Hồ làm việc, nền nhà ông Lý Quốc Súng, nền nhà ông La Thành, v. Ngày 8 tháng 2 năm 1941, khi về nước, Hồ Chí Minh đã sống và làm việc trong hang Cốc Bó và đặt tên dòng suối trước cửa hang là "suối Lênin" và ngọn núi có hang này là "núi Các Mác". Trước năm 1979 hang Cốc Pó rộng khoảng 15m³, trước cửa hang có một con suối lớn chảy ngầm từ trong núi đá ra, nguồn của con suối là bên phía Bắc của ngọn núi này và thuộc lãnh thổ Trung Quốc.
Trong chiến tranh biên giới Việt-Trung năm 1979, quân Trung Quốc đã cho nổ mìn phá hoại hang Cốc Pó. Ngày nay, hang Cốc Pó được khôi phục một phần để phục vụ khách tham quan du lịch. Khu rừng đặc dụng trong xã Trường Hà chứa đựng nhiều nguồn gen quý hiếm có thể phục vụ cho công tác tạo giống và nghiên cứu khoa học, đây là nơi tập m 3 trung nhiều loài động thực vật. Bên cạnh đó còn rất thuận lợi cho phát triền du lịch sinh thái.
Từ những năm 1960 đến nay, khu di tích lịch sử Pác Bó đã được đầu tư xây dựng, cải tạo và bảo tồn, tôn tạo nhiều hạng mục, góp phần quan trọng tôn vinh giá trị di tích. Chính vì vậy, công tác bảo tồn tính đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn gen quí cũng như các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác tại Khu di tích đã được nhà nước và Ban quản lý di tích rất quan tâm. Từ khi thành lập, Khu di tích đã có một số cuộc điều tra, đánh giá tài nguyên sinh học nơi đây, bước đầu cũng đã đánh giá được giá trị, tiềm năng và ý nghĩa của khu rừng đặc dụng. Nhưng một số nội dung quan trọng chưa được thực hiện một cách có hệ thống, đó là đánh giá đa dạng sinh học về các taxon phân loại một cách chính xác, yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật, công dụng và mức độ nguy cấp của các loài để từ đó đưa ra các biện pháp bảo tồn thích hợp.
Để góp phần đánh giá tính đa dạng thực vật khu di tích, làm cơ sở cho công tác bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên thực vật nơi đây, vì thế tôi chọn đề tài:“Nghiên cứu đa dạng thực vật thân gỗ trong rừng đặc dụng trên địa bàn xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng”. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1. Mục tiêu chung Góp phần bổ sung cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học cho trạng thái rừng ở khu rừng đặc dụng xã Trường Hà nhằm bảo tồn và phát triển tài nguyên thực vật, bảo vệ cảnh quan, di tích lịch sử tại khu vực nghiên cứu. Mục tiêu cụ thể + Xác định được đa dạng loài tại khu rừng đặc dụng xã Trường Hà + Xác định được các chỉ số đa dạng sinh học tại khu rừng đặc dụng xã Trường Hà.
+ Xác định được giá trị sử dụng các loài m 4 + Đề xuất một số giải pháp quản lý và bảo vệ đa dạng thực vật thân gỗ đặc biệt các loài quý hiếm, bảo vệ cảnh quan, di tích lịch sử. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong khoa học Đề tài góp phần làm cơ sở đánh giá hiện trạng về tài nguyên thực vật thân gỗ và chỉ ra được tính đa dạng, phong phú và những đặc trưng cơ bản của các trạng thái thảm thực vật tại xã Trường Hà. Ý nghĩa trong thực tiễn Cung cấp các thông tin cơ bản làm cơ sở cho việc bảo tồn tài nguyên thực vật thân gỗ tại xã Trường Hà.
Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo. m 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về đa dạng sinh học 2. Khái niệm về đa dạng sinh học Đa dạng sinh học là thuật ngữ chỉ tính phong phú của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là các gien chứa đựng trong các loài và những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường.
Đa dạng sinh học ở 3 mức độ: đa dạng di truyền, đa dạng loài, đa dạng hệ sinh thái. Đa dạng di truyền: Hay còn gọi là đa dạng gen, chỉ sự phong phú về gen và sự khác nhau số lượng của các gen, bộ gen trong mỗi quần thể và giữa các cá thể. Nghiên cứu về đa dạng gen đồi hỏi nhiều thời gian, thiết bị tài chính, kỹ thuật và hiểu biết về đa dạng gen trên thế giới còn ít. Tuy nhiên, đa dạng di truyền có tầm quan trọng đối với bất kỳ một loài sinh vật nào để duy trì khả năng sinh sản hữu thụ, tính bền vững và khả năng thích nghi của các cá thể trong loài với các điều kiện sống luôn luôn biến đổi.
Đa dạng loài: Là sự phong phú về số loài và trữ lượng các loài trong hệ sinh thái. Đây là khái niệm dễ hiểu và dễ nhận thấy trong thực tế vì một danh lục các loài động thực vật ghi nhận được của một dợt khảo sát thực địa chính là đa dạng loài động thực vật ở khu vực đó Hiện nay có khoảng trên 1,4 triệu loài sinh vật đã được mô tả và dự đoán có thể có từ 5 triệu đến 30 triệu loài sinh vật trên trái đất (Wilson, 1988). Đa dạng loài có tầm quan trọng trong việc duy trì tính ổn định của các quần thể và hệ sinh thái. Đa dạng hệ sinh thái: Các quần xã sinh học có quan hệ qua lại với môi trường vật lý tạo thành một hệ sinh thái.
Sự phong phú về môi trường trên cạn và dưới nước của quả đất đã tạo nên một số lượng lớn về hệ sinh thái. Đa dạng về hệ sinh thái là sự phong phú về hệ trạng thái và loại hình của các mối quan hệ giữa quần xã sinh học với môi trường tự nhiên. Tầm quan trọng của đa dạng sinh học Giá trị đa dạng sinh học là không thay thế được đối với sự tồn tại và phát triển của thế giới sinh học trong đó có con người, với kinh tế, xã hội, văn hóa và giáo dục, cụ thể:. Giá trị kinh tế: Đa dạng sinh học là đã, đang và sẽ mãi mãi là nguồn lương thực, thực phẩm, nơi trú ẩn, nguồn giống vật nuôi cây trồng và là nguồn dược liệu quý giá đảm bảo cho loài người tồn tại và phát triển.
Đa dạng sinh học còn cung cấp các nguyên vật liệu cho nhiều nghành nghề như gỗ, nhựa, sợi, da lông, đặc biệt là củi đun cho hàng tỉ con người trên thế giới. Giá trị sinh thái và môi trường: Các hệ sinh thái là cơ sở sinh tồn của mọi loài sinh vật. Nó còn có vai trò quan trọng trong điều hòa khí hậu, làm sạch môi trường không khí, nước, đảm bảo cho các chu trình nước, chu trình nitơ, chu trình cacbon,. Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 2.