Đặt vấn đề Rừng đóng vai trò quan trọng đối với con người. Rừng là lá phổi xanh khổng lồ điều hòa khí hậu, hạn chế thiên tai, bão lũ, là khâu quan trọng trong chu trình điều hòa vật chất của thiên nhiên, là nơi cư trú của nhiều loài động vật, là nơi cung cấp thức ăn cho nhiều loài động vật nói chung. Đặc biệt sự đa dạng loài của lớp thực vật dưới tán rừng còn có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp nguồn nguyên liệu phục vụ đời sống sinh hoạt của con người như lấy gỗ, nguyên liệu sản xuất giấy, xây dựng nhà của và các trang bị nội thất, cho dầu béo, tinh dầu, làm thuốc, làm cảnh và nhiều giá trị sử dụng khác. Việt Nam có điều kiện địa hình và khí hậu đa dạng, là nơi gặp gỡ của hai trung tâm giàu loài nhất thế giới là Trung Quốc và Indonexia.
Hệ thực vật nước ta có thành phần loài mang cả yếu tố thực vật nhiệt đới ẩm Indonexia – Malaysia và thực vật vùng nam trung hoa và các yếu tố của thực vật Ấn Độ - Trung và Nam tiểu Á. Theo thống kê, nước ta hiện có 10.257 chi và 305 họ, chiếm khoảng 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 57% tổng số họ của toàn thế giới. Đất nước ta đang trên đà phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, một diện tích đất rừng không nhỏ đã được sử dụng để xây dựng các công trình nhà ở, nhà xưởng, xí nghiệp, đường xã, khu vui chơi giải trí…bên cạnh đó nạn phá rừng làm nương rẫy, khai thác gỗ, khai thác củi và các nguồn tài nguyên khác thường xuyên xảy ra, diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp, nhiều loài sinh vật quý hiếm có nguy cơ bi tuyệt chủng, lâm tặc ngày càng lộng hành tàn phá thiên nhiên nếu chúng ta không có biện pháp ngăn chặn kịp thời trong thời gian tới thì nguồn tài nguyên rừng sẽ bị cạn kiệt. e 2 Xã xuân Lạc, huyện chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn là một trong 3 xã nằm trong khu bảo tồn loài và sinh cảnh nam xuân lạc có diện tích 1.
diện tích chủ yếu là đất lâm nghiệp với thành phần loài thưc vật phong phú và đa dạng. trước khi trở thành khu bảo tồn loài và sinh cảnh (năm 2004) thì hiện tượng phá rừng, khai thác gỗ diễn ra thường xuyên làm cho chất lượng rừng bị suy giảm nghiêm trọng, từ khi trở thành khu bảo tồn thiên nhiên các loài thực vật ở đây đã được bảo vệ nghiêm ngặt hơn, tình trạng phá rừng đã giảm đi đáng kể, song việc khai thác trái phép nguồn tài nguyên lâm sản và phi lâm sản vẫn còn diễn ra hàng ngày, nên đã làm suy giảm đáng kể tính đa dạng sinh học. Với lý do trên chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu sự đa dạng của lớp thực vật dưới tán rừng tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc - Chợ Đồn - Bắc Kạn”. Mục tiêu nghiên cứu Xác định được đa dạng của các kiểu thảm thực vật dưới tán rừng về loài và giá trị sử dụng.
Đề xuất các biện pháp bảo vệ và phục hồi mức độ đa dạng của các loài thực vật dưới tán đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học Qua quá trình thực hiện đề tài, sinh viên sẽ được thực hành nghiên cứu khoa học, biết phương pháp phân bổ thời gian hợp lý và khoa học trong công việc để đạt được hiệu quả cao trong công việc đồng thời là cơ sở để củng cố những kiến thức đã học ở trường vào hoạt động thực tiễn. Ý nghĩa thực tiễn Bước đầu đã xác định được sự đa dạng của lớp thực vật dưới tán rừng tại khu bao tồn thiên nhiên loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, Chợ Đồn, Bắc Kạn Xác định được một số loài thực vật có nguy cơ bị tuyệt chủng theo sách đỏ Việt Nam (2007), danh lục đỏ IUCN (2006) và nghi định 32/2006/NĐ-CP.
Đề xuất một số biện pháp để bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thực vật tại địa phương. e 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học nghiên cứu Đối với công tác bảo tồn bất kỳ một loài sinh vật nào trong tự nhiên, điều đầu tiên chúng ta phải quan tâm đến đó là sinh cảnh sống của chúng, nếu sinh cảnh sống phù hợp và tác động của con người hợp lý thì các loài sinh vật mới có cơ may tồn tại lâu dài. Ở KBTL&SC Nam Xuân Lạc chúng tôi đã tham khảo một số tài liệu đánh giá về cấu trúc thảm thực vật của một số các tác giả trước đây.
Đặc biệt là tài liệu về phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam của Thái Văn Trừng, ông đã phân thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu (quan điểm hệ sinh thái). KBTL&SC Nam Xuân Lạc là hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam là thành một phần nằm trong hệ sinh thái rừng nhiệt đới của Việt Nam. Trong các trạng thái rừng của thảm thực vật rừng tại KBTL&SC Nam Xuân Lạc còn ẩn chứa nhiều nguồn gen quý hiếm của các loài thực vật. Để bảo tồn các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng, tổ chức bảo tồn thiên nhiên hoang dã của thế giới đã đưa ra thang bậc phân hạng mức độ đe dọa đối với các loài động, thực vật cơ bản.
Trước đây là thang bậc phân hạng IUCN 1978 và mới đây nhất là thang bậc phân hạng IUCN 1994 (gồm 8 hạng) có bổ sung và cập nhật theo định kì. Đây là cơ sở để đánh giá chung của thế giới. Ở Việt Nam dựa trên thang bậc phân hạng IUCN 1994, Viện khoa học và công nghệ Việt Nam đã dựa trên tiêu chuẩn IUCN 1994 đưa ra danh mục các loài động, thực vật hoang dã cần bảo tồn (sách đỏ Việt Nam 2007). Bảo tồn loài và sinh cảnh sống của các loài động, thực vật hoang dã là nhiệm vụ chính của các Vườn Quốc Gia (VQG) và KBT của Việt Nam nói chung và KBTL&SC Nam Xuân Lạc nói riêng.
Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 2. Tình hình nghiên cứu trong nước 2. Các nghiên cứu liên quan đến ĐDSH Việt Nam có khoảng 12.000 loài thực vật có mạch, trong đó đã định tên đuợc khoảng 7.000 loài thực vật bậc cao, 800 loài rêu và 600 loài nấm. Tính đặc hữu của hệ thực vật rất cao, có ít nhất là 40% số loài đặc hữu, không có họ thực vật đặc hữu, nhưng có tới 3% số chi thực vật đặc hữu.
Các khu vực: Hoàng Liên Sơn, Tây Nguyên, Bắc và Trung Trường Sơn được coi là trung tâm các loài đặc hữu. [3] Như chúng ta đã biết, tính đa dạng sinh học của một hệ sinh thái tiêu biểu hay một vùng lãnh thổ nào đó đều được biểu hiện trong các phạm trù khác nhau. Trước hết là sự đa dạng các taxon (ngành, lớp, họ, chi, loài…); sau đó là sự đa dạng trong cấu trúc của hệ sinh thái, mối quan hệ tương hỗ giữa các quần hệ, quần xã, tạo nên sự cân bằng sinh thái bền vững, tồn tại một cách tự nhiên; và cuối cùng là vai trò của con người tác động vào sự đa dạng đó để duy trì, phát triển, phá vỡ, huỷ hoại sự cân bằng đó. Việt Nam nằm ở Đông Nam bán đảo Đông Dương có phần đất liền rộng khoảng 330.000 km2, với bờ biển dài khoảng 3200 km, phần nội thuỷ và lãnh hải gần với bờ biển rộng khoảng hơn 22.
Ba phần tư diện tích của cả nước là đồi núi với đỉnh núi cao nhất là Phan Xi Păng 3143m ở phía Tây Bắc. Nơi đây các dãy núi cao được hình thành do sự kéo dài của dãy núi Hymalaya. Mặc dù có những tổn thất quan trọng về diện tích rừng trong một thời kỳ kéo dài nhiều thế kỷ nhưng hệ thực vật nước ta vô cùng phong phú và đa dạng về chủng loại… Điều đặc biệt là hệ thực vật nước ta giàu những loài cây gỗ, cây bụi, dây leo gỗ…và rất nhiều đại diện cổ tồn tại từ kỷ đệ tam. Theo dự đoán của các nhà thực vật học (Takhtajan, Phạm Hoàng Hộ, Phan Kế Lộc) số loài ít nhất sẽ lên đến 12.000 loài thực vật bậc cao, trong đó có khoảng 2.300 loài được sử dụng e 5 làm nguồn lương thực, thực phẩm, làm thuốc chữa bệnh, thức ăn cho gia súc, lấy gỗ, lấy tinh dầu, dầu béo và nhiều loại nguyên liệu khác (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997) [11], mặt khác hệ thực vật Việt Nam có mức độ đặc hữu cao.
Tuy rằng hệ thực vật Việt Nam không có các họ đặc hữu mà chỉ có các chi đặc hữu chiếm khoảng 3% nhưng số loài đặc hữu chiếm đến khoảng 20%, tập trung ở 4 khu vực chính: núi Hoàng Liên Sơn, Ngọc Linh, cao nguyên Lâm Viên và khu vực rừng ẩm Bắc Trung Bộ. [18] ĐDSH của Việt Nam là sự khác biệt của tất cả các dạng sống hiện hữu trên mọi miền của đất nước. ĐDSH không tĩnh tại mà thường xuyên thay đổi, nó tăng lên do sự biến đổi về gen và các quá trình tiến hóa và giảm bởi các quá trình như suy thoái và mất sinh cảnh, suy giảm quần thể và tuyệt chủng. Năm 1992, Trung tâm giám sát bảo tồn thế giới đã xác định Việt Nam là một trong 16 nước có tính ĐDSH cao nhất trên thế giới.
Việt Nam được công nhận là một trung tâm đặc hữu về loài, 3 vùng sinh thái trong hơn 200 vùng sinh thái toàn cầu do WWF xác định và 6 trung tâm đa dạng về thực vật do IUCN xác định. Toàn bộ đất nước Việt Nam nằm trong điểm nóng Inđô-Bơ Ma do tổ chức bảo tồn quốc tế xác định, là một trong những vùng sinh học bị đe dọa nhất và giàu có nhất trên trái đất. Độ che phủ của rừng Việt Nam khoảng 37% với tổng diện tích tự nhiên là 12,3 triệu ha. Số loài thực vật ở cạn ở Việt Nam vào khoảng 13.766 loài, chiếm khoảng 6,3% so với toàn cầu.
[1] Theo kết quả kiểm kê rừng được công bố tại Quyết định số 2159/QĐ- BNN-KL ngày 17/7/2008 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT, diện tích rừng của Việt Nam là 12,837 triệu ha, với độ che phủ rừng tương ứng là 38,2%, trong đó có 10,283 triệu ha rừng tự nhiên. [14] Những nghiên cứu về nguy cơ suy giảm ĐDSH và các biện pháp bảo tồn cũng đã được chú ý ngày càng nhiều ở Việt Nam. Trước năm 1975, ở cả hai miền đã xây dựng được nhiều khu rừng cấm. Sau giải phóng 1975, nhà e 6 nước đã quan tâm xây dựng các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia để bảo vệ tính ĐDSH.