Đặt vấn đề Cay tram tra (Melaleuca alternifolia) hay còn gọi là tram lá hep, là một loài cây thuộc họ Sim (Myrtaceae), chủ yêu được trồng dé sản xuất tinh dầu. Loài cây này được xem là thuộc nhóm bí mật quốc gia của Australia từ trước năm 2006. Tràm trà là loài cây thân gỗ nhỏ, cao 2 — 3 m và cao nhất có thể đến 15 m thường được trồng trên đất cát ven biên hoặc dat phèn ở địa hình cao ráo. Tinh dau của loài cây này chứa các thành phần chính gồm Terpinen-4-ol, y- Terpinene, a-Terpinene, 1,8-Cineole từ lâu đã được nghiên cứu và sử dụng ở nhiều nơi trên thế giới cho mục đích trị liệu và làm đẹp nhưng không hại da như: mỹ phẩm bôi da, kem đánh răng hoặc dùng trực tiếp dé trị mụn cóc hoặc nam da.
Do tram trà là loài cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và ôn định nên được du nhập vào Việt Nam từ Nam ra Bắc để khai thác trọn vẹn giá trị của cây. Và khu bảo tồn Đồng Tháp Mười tại huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An với địa hình đất phèn phù hợp cho việc nuôi trồng và công ty Mộc Hoa Trà thuộc khu bảo tồn chuyên sản xuất các sản phẩm từ tinh dau sẽ khai thác trọn vẹn các giá trị từ cây. Tuy vậy, những hiểu biết về nguồn gen cây tràm trà ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế thế nên việc nghiên cứu, tìm hiểu về các đặc điểm của cây là một cần thiết phải làm. Thế nhưng, việc chỉ đánh giá các giống tràm trà qua những tiêu chí kiểu hình thường rất khó khăn dé nhận ra mối quan hệ giữa các giống tram trà.
Do đó cần áp dụng chỉ thị phân tử nhằm xác định chính xác các giống là cách tiếp cận tốt hơn nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn gen cây tràm trà. Từ đó, có thêm những thông tin về quan hệ di truyền giữa các giống tràm trà, phục vụ cho công tác chọn tạo giống theo những đặc tính mong muốn và bảo tồn nguồn tài nguyên của cây tại khu bảo tôn. Hiện nay, có rất nhiều phương pháp dé nghiên cứu sự đa dang di truyền của các nguồn gen cây trồng như: AFLP, SSR, ISSR, RAPD,. Trong giới hạn của nghiên cứu này phương pháp ISSR được sử dụng dé phân tích đa dạng di truyền một số mẫu tram trà tại khu bảo tồn Đồng Tháp Mười tại huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An.
Đề tài được thực hiện nhằm cung cấp những thông tin về da dạng di truyền dé có cái nhìn khái quát, góp phan cho nghiên cứu bảo tồn và di thực các giống tram trà tại khu bảo tồn cũng như trên cả nước. Mục tiêu của đề tài Nghiên cứu di truyền và phân nhóm di truyền cây tram trà dựa vào chỉ thị ISSR dé phục vụ cho công tác di thực và bảo tồn cây tràm trà đùng cho mục đích dược liệu tại khu bảo tồn dược liệu Đồng Tháp Mười, huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An. Nội dung thực hiện Nội dung 1: Đánh giá các chỉ tiêu về đặc điểm hình thái lá của 30 mẫu tràm trà được trồng tại khu bảo tồn được liệu Đồng Tháp Mười. Các đặc điểm hình thái bao gồm: hình dạng, mau sắc, kích thước lá,.
Nội dung 2: Ly trích DNA tổng số các mẫu tram trà được thu thập. Thực hiện phản ứng PCR — ISSR trên các mẫu tram trà sau khi ly trích DNA. Xây dựng cây phân nhóm di truyền dựa trên kết quả của phản ứng PCR — ISSR bằng phần mềm thống kê di truyền NTSYSpc 2. Đánh giá sự đa dạng di truyền của các mẫu tràm trà được thu thập tại khu bảo tồn dược liệu Đồng Tháp Mười dựa trên kết quả cây phân nhóm di truyền đã xây dựng.
TONG QUAN TÀI LIEU 2. Giới thiệu về cây tram tra (Melaleuca alternifolia) 2.1 Nguồn gốc và phân bố cây tràm trà Ñ Giới: Thực vat (Plantae) ¡ Ngành: Thực vật hạt kín (Angiospermae) Lớp: Thực vật hai lá mầm thật sự (Eudicots) Bộ: Dao kim nương (Myrtales) Họ: Đào kim nuong/Sim (Myrtaceae) Chi: Tram (Melaleuca) "loài = Tram tra (Melaleuca alternifolia) Cay tram tra (Melaleuca alternifolia (Maiden and Betche) Cheel.), thuộc họ Sim (Myrtaceae), có nguồn gốc từ Australia (Cheel, 1924). Loại cây này có xuất xứ từ Úc, cụ thé là đông nam Queensland và bờ biển phía bắc với dãy liền kề của New South Wales, nơi nó mọc đọc theo suối và trên đầm lay, đây là một loại cây phổ biến ở Uc. Theo Rossetto và ctv (2003), cây tràm trà là nguồn thực vật chính cho ngành công nghiệp tỉnh dầu tràm của Úc.
Cây tràm trà có khả năng thích ứng cao với nhiều điều kiện, sinh trưởng được trên trên đât sét, đât mặn ven biên, đât ngập nước và cả đât đôi núi cao. Đặc điểm thực vật học của cây tràm trà Cây tram trà là một loài cây bụi với tan ram rap, có thể cao tới khoảng 7 m, vỏ có nhiều lớp như giấy, màu trắng. Đặc điểm nỗi bật của tram trà là sau khi trồng 1 — 2 năm có thé khai thác lần đầu, sau đó khai thác cây chéi hàng năm trong hơn 20 năm, nên là loài cây trồng có hiệu quả kinh tế cao và ôn định. Do tính đa dạng về hình thái và khả năng thích ứng với điều kiện môi trường nên việc mô tả cũng rất khó khăn.
Hầu hết các tài liệu chỉ tập trung vảo một số đặc điểm hình thái chính được mô tả dưới đây. Về hình thái lá, các lá sắp xếp xen kẽ, đôi khi mọc rải rác hoặc mọc thành chùm. Các lá nhẫn, mềm, phiến lá thắng nhọn, có chiều đài lá là 10 — 35 mm và chiều rộng là khoảng 1 mm. Các lá giàu tinh dầu, các tuyến dầu nổi rõ trên lá cây có thé nhìn thay bằng thấu kính.
Về hình thái hoa, những cây trên 3 năm tuổi thường ra hoa vào tháng 10 và tháng 11 và hoa mọc thành từng chùm hoặc rời rạc mảu trắng đến màu kem ở nách lá hoặc đầu cành, có thê khiến cây có vẻ ngoài “mềm mại” (Carson và Riley, 1993). Cụm hoa nhiều hoa, mọc thành chùm dày đặc, ở nách lá hoặc đầu cành; hoa đơn độc trong mỗi nách lá với đài hoa hình ống dai tới 3 mm va tràng hoa màu trang dai 2 — 3 mm, nhụy hoa dài 3 — 4 mm. Quả của cây tràm trà là quả nang chứa nhiều hạt nhỏ bên trong, có hình cầu như quả măng cụt, hóa gỗ, có đường kính 2 — 3 mm nằm rải rác đọc theo cảnh. Giới thiệu về tỉnh dầu tràm trà Theo Carson va ctv (2006), tinh dau từ cây tram trà đã được sử dụng gần 100 năm ở Úc nhưng hiện đã có mặt trên toàn thế giới dưới dang tinh dầu nguyên chat và là một thành phan phụ trong một loạt các sản phẩm với công dụng kháng khuẩn.
Úc cũng là nước có lich sử sản xuất tinh dau tram tra hơn 60 năm, có nhiều công trình nghiên cứu về cải thiện giống cho loài cây này. Hiện nay 97% tinh dau thương phẩm của nước này được sản xuất từ các khu trồng tram trà ở vùng ven biển phía bắc New South Wales và Atherton của Queensland. Ngoài ra, Indonesia, Trung Quốc, An Độ là những quốc gia có sản lượng lớn tinh dau tram tra. Vào năm 1989, Wiliams và Home đã chia tinh dầu tram tra (tea tree oil) thành 3 nhóm là: Nhóm 1 có 1,8-cineole thấp (3%) và terpinen-4-ol cao (45,4%), nhóm 2 có 1,8- cineole trung bình (30,3%) và terpinen-4-ol trung bình (18%), nhóm 3 có 1,8-cineole cao (64,1%) và terpinen-4-ol thấp (1,7%).
Nhóm tỉnh dầu giàu terpinen-4-ol được sản xuất nhiều nhất tại Australia và là nhóm có giá trị nhất (Khả và ctv, 2018). Bên cạnh đó, thành phan của tinh dau tram tra rất biến động theo các điều kiện địa lý, môi trường, sinh thái ven biển khác nhau. Tram trà giàu terpinen-4-ol là loại đa tác dụng, không hại da, được sử dụng trong nhiều lĩnh vực đời sống như nước súc miệng, mỹ phẩm bôi da, nước hoa, dầu gội đầu, xà phòng thơm, kem đánh răng. Tĩnh dầu tràm trà cũng được dùng chữa một số bệnh ngoài da thông thường như mụn trứng cá, mụn cóc, mụn nhọt, 4 mụn rộp, bỏng, côn trùng căn, bệnh nam móng tay, bệnh nam da bàn chân, m6 hôi chan.
Cây tràm trà được đưa về khảo nghiệm ở Việt Nam từ năm 1993, tràm trà trồng ở Việt Nam và trồng ở Australia (Tiêu chuẩn Australia-A.2782) có các chỉ số vật lý tương đương nhau). Các mô hình thí điểm tràm trà được trồng ở miền Bắc nước ta có tạo ra tinh đầu có hàm lượng terpinen-4-ol đạt 33 — 43%. Hiện tại đang được mở rộng quy mô sản xuất, ứng dụng. Mặc dù chưa ghi nhận về trường hợp tử vong nào được báo cáo trong tai liệu y khoa, nhưng tinh dau tram không được uống với lượng tương đối cao do độc tính của nó.
Hiện tại, tiêu chuẩn của Uc (AS 2782-1985) đang quy định hàm lượng của hai thành phan: terpinen-4-ol, hợp chất kháng khuẩn giả định, phải có ít nhất 30% trong tinh dầu tram, trong khi 1,8 -cineole, được cho là chat gây kích ứng da, không được vượt quá 15% trong các sản phẩm từ cây tram tra (Carson và ctv, 2006). Tại Long An, tram tra được trồng trên khu vực đất phèn thuộc huyện Mộc Hóa và Thạnh Hóa. Cây sinh trưởng khá tốt nếu áp dụng đúng quy trình kỹ thuật, đặc biệt cây chịu được phèn nặng nhưng phát trién tốt ở vùng đất cao ráo. Diện tích cây tram tra trên địa bàn huyện Thạnh Hóa khoảng 10 ha.
Và tại khu bảo tồn Đồng Tháp Mười (huyện Mộc Hóa) đã phát triển cây tràm trà với diện tích khoảng 15 ha với dây chuyền sản xuất tinh dau tram tra (Nhà máy Mộc Hoa Tràm) đạt tiêu chuan GPP, bảo đảm nguồn dược liệu sạch. Cây tràm trà là 1 trong 2 đề tài khoa học cấp quốc gia mà Khu bảo tồn đang thực hiện. Phân tích đa dạng di truyền dựa vào chỉ thị sinh học phân tử 2. Khái niệm đa dạng di truyền Da dang di truyền là tất ca các gen di truyền khác nhau của tat cả các cá thé thực vật, động vật, nam, và vi sinh vật.
Da dang di truyền ton tại trong một loài và giữa các loài khác nhau. Đa dang di truyền là sự đa dang về thành phan gen giữa các cá thé trong cùng một loài và giữa các cá thể khác loài, sự đa dạng di truyền còn là sự đa dạng về thành phần gen có thé di truyền trong một quan thé và giữa các quan thé khác nhau của cùng một loài. Quá trình sinh trưởng và phát triển qua nhiều thế hệ tạo ra các biến dị làm đa dạng nguồn gen trong quan thé.