CHƯƠNG I GIỚI THIỆU XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA MẠNG 3G VÀ SAU 3G I.1 Lịch sử phát triển của thông tin di động và giới thiệu hệ thống thông tin IMT-2000 I.1 Lịch sử phát triển Ngày nay, khi nói đến thông tin di động mọi người đều biết đến 3 thế hệ thông tin di động. Thế hệ thứ nhất, 1G (First Generation) là hệ thống di động tương tự hoặc bán tương tự (đường vô tuyến là tương tự, và sử dụng hệ thống chuyển mạch số). Hệ thống này được xây dựng vào những năm 80, ví dụ như hệ thống NMT (Nordic Mobile Telephone) và AMPS (American Mobile Phone System). Những hệ thống thông tin di động 1G cung cấp các dịch vụ cơ bản chủ yếu là thoại và các dịch vụ liên quan đến thoại.
Các hệ thống di động thế hệ thứ nhất được phát triển trong phạm vi quốc gia, những yêu cầu kỹ thuật của các hệ thống này chủ yếu được xây dựng trên cơ sở thoả thuận giữa các nhà điều hành viễn thông của chính phủ với các công ty cung cấp dịch vụ viễn thông mà không có hệ tiêu chuẩn phổ biến rộng rãi. Do vậy, các hệ thống thông tin di động 1G không có khả năng tương thích lẫn nhau. Do yêu cầu thông tin di động ngày càng tăng đặc biệt là nhu cầu cần có một hệ thống di động toàn cầu. Các tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế bắt đầu xây dựng hệ thống thông tin di động thế hệ thứ hai - 2G (Second Generation).
Mục tiêu chủ yếu của hệ thống 2G là khả năng tương thích và đồng nhất trong môi trường quốc tế. Hệ thống phải có khả năng phục vụ trong một khu vực (ví dụ khu vực châu Âu), mọi người sử dụng phải có khả năng truy nhập hệ thống ở bất kỳ nơi nào trong khu vực đó. Theo quan điểm người sử dụng, hệ thống 2G hấp dẫn hơn hệ thống 1G bởi vì ngoài dịch vụ thoại truyền thống, hệ thống này còn có khả năng cung cấp một số dịch vụ truyền dữ liệu và các dịch vụ bổ xung khác. Do các tiêu chuẩn chỉ thực hiện được trong phạm vi khu 19 vực, khái niệm thông tin di động toàn cầu không thể thực hiện được và trên thị trường tồn tại một số hệ thống di động 2 G, tiêu biểu như: GSM, IS 95 và PDC.
Trong số đó hệ thống GSM dược phổ biến rộng rãi nhất. Hệ thống thông tin di động thế hệ thứ ba, 3G (Third Generation) ra đời với mục tiêu là thực hiện một hệ thống thông tin di động duy nhất trên toàn thế giới. Khác với các dịch vụ được cung cấp bởi những hệ thống thông tin di động hiện nay chủ yếu là thoại (công nghệ tương tự là đặc trưng hệ thống thế hệ thứ nhất, công nghệ số là đặc trưng của hệ thống thế hệ thứ 2), hệ thống 3G nhằm vào các dịch vụ băng rộng như truy nhập Internet tốc độ cao, truyền hình và ảnh chất lượng cao tương đương mạng hữu tuyến. Có thể nói rằng, khái niệm ITM-2000 (trước đây gọi là FPMLTS) được ITU đưa ra theo mô hình từ trên xuống.
Trước tiên, các yêu cầu về dịch vụ và chất lượng được đưa ra, sau đó các tổ chức chuẩn hoá và các nhà công nghiệp, khai thác sẽ tiến tới thiết kế mạng đáp ứng các yêu cầu này.2 Hệ thống thông tin di động 3G theo IMT-2000 Một số yêu cầu chính về IMT-2000 được ITU đề ra như sau: Tốc độ truyền dữ liệu cao 144kbps hoặc 384kbps cho vùng phủ rộng ngoài trời và 2Mbps cho vùng phủ hẹp trong nhà. Chất lượng thoại tương đương mạng hữu tuyến. Hỗ trợ cả dịch vụ chuyển mạch kênh và gói, truyền dữ liệu không đối xứng. Có thể cung cấp cả dịch vụ di động và cố định.
Có khả năng chuyển vùng quốc gia và quốc tế, hỗ trợ cấu trúc cell nhiều lớp. Cơ cấu tính cước mới theo dung lượng truyền thay cho thời gian như hiện nay. 20 ITU-R đã phát triển bộ chỉ tiêu kỹ thuật IMT-2000. IMT-2000 được tạo ra nhằm thoả mãn việc phát triển các tiêu chuẩn cho phép thiết lập một cơ sở hạ tầng thông tin vô tuyến toàn cầu bao gồm các hệ thống mặt đất và vệ tinh và các truy nhập cố định và di động cho các mạng công cộng và cá nhân.
Để có thể hiểu thấu đáo quá trình chuẩn hóa của các công nghệ thông tin di động 3G và sau 3G, điều kiện tiên quyết là nắm được quá trình phát triển của các công nghệ theo từng giai đoạn. Phần tiếp theo sẽ tập trung vào quá trình phát triển từ 2G lên 3G và sau 3G theo hai nhánh chính: hướng tới cdma2000 và hướng tới WCDMA. Hình tóm tắt quá trình phát triển lên 3G của 2 nhánh công nghệ chính này. Quá trình phát triển lên 3G của 2 nhánh công nghệ chính.
21 Sau đây là chi tiết hai phương án chuyển đổi được quan tâm nhất là từ GSM và CDMA IS-95. Các phương án chuyển đổi từ hai mạng GSM và CDMA IS-95 được tóm tắt trong Hình và được chi tiết hóa trong Hình sau đây. 1998 1999 2001 2003 HSCSD UMTS GSM EDGE không GPRS UMTS 3X IS-95B 1X cdmaOne IS-95A không 3X Hình 1. Tuỳ chọn các phương án chuyển đổi từ GSM và CDMA IS-95.2 Nâng cấp từ CDMA IS-95 (cdmaOne) lên 3G Cấu trúc của hệ thống CDMA IS-95 này cũng giống như các hệ thống cellular khác, nghĩa là giống cấu trúc GSM đã trình bày ở trên.
Hệ thống CDMA IS-95 có những đặc điểm chính sau đây: CDMA IS-95 được tối ưu hoá cho việc triển khai ở Mỹ để khắc phục những nhược điểm của hệ thống tương tự AMPS thế hệ thứ nhất. Hệ thống hoạt động ở cùng băng tần với hệ thống AMPS dùng song công phân tần FDD, độ rộng kênh 25kHz. Băng tần đường lên và xuống sử dụng băng 869MHz đến 894MHz và 824 MHz đến 849MHz tương ứng. Máy di động hỗ trợ hoạt động CDMA trên các kênh AMPS từ 1013 đến 1023, 1 tới 311, 356 tới 644, 689 tới 694 và 739 tới 777.
Các kênh CDMA được xác định bằng tần số và chuỗi mã. 64 hàm Walsh được dùng để phân biệt kênh đường xuống, 22 còn các tập bù mã PN dài được dùng để phân biệt các kênh đường lên. Các đặc tính điều chế và mã hoá được cho trong bảng sau: Bảng 1. Đặc tính điều chế và mã hóa của IS-95 CDMA §iÒu chÕ QPSK Tèc ®é chÝp 1,2288Mcps Tèc ®é d÷ liÖu chuÈn 9,600 bps tèc ®é ®ñ víi RS1 B¨ng th«ng 1,25MHz M· ho¸ ChËp víi m· Viterbi §an xen 20-ms Chi tiết về mã hoá và điều chế một kênh đường xuống và đường lên khác nhau.
Tín hiệu hoa tiêu được phát trong mỗi cell để giúp máy thu phát vô tuyến di động thâm nhập và bám tín hiệu đường xuống từ cell. Các nhà khai thác mạng cdmaOne muốn có được các khả năng mạng mới cho xử lý dữ liệu để cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng có thể khai thác tốt các thế hệ công nghệ hiện tại cũng như tương lai. Với sự phát triển mạnh công nghệ những năm gần đây, Internet và Intranet đã trở thành các công cụ thiết yếu của hoạt động kinh doanh hàng ngày. Chính vì vậy các doanh nghiệp có khuynh hướng muốn thiết lập được các văn phòng vô tuyến để điều hành hoạt động kinh doanh tới các cán bộ có thiết bị di động của mình.
Hơn nữa, việc phát triển công nghệ để cung cấp các tin tức và thông tin cần thiết trực tiếp tới đầu cuối di động cũng có một tiềm năng lớn là tạo ra nhiều nguồn doanh thu mới cho nhà khai thác. 23 cdma One 3G 2Mb 144k 3G3X 64kb 3G1 14.4 IS-95B IS- 2000 2001 Hình 1. Kế hoạch triển khai phát triển mạng cdmaOne I.3 Hướng phát triển theo nhánh WCDMA từ GSM Có rất nhiều lựa chọn cho phép nhà khai thác phát triển mạng GSM hiện có của mình. Tuy nhiên, GPRS là bước triển khai làm thay đổi mạnh mẽ cấu trúc mạng thông tin di động với phần chuyển mạch gói trong mạng lõi IP phục vụ hiệu quả các dịch vụ dữ liệu đến tốc độ trung bình.
Để có thể cung cấp dịch vụ 3G một cách đầy đủ (tốc độ dữ liệu tới 2Mbps) thì việc triển khai hệ thống WCDMA mới là tất yếu. Bên cạnh đó, có một lựa chọn cho phép nhà khai thác GSM có thể tối ưu hoá việc phát triển của mình, đó là công nghệ EDGE với những cải tiến về máy thu phát vô tuyến (tập trung vào phần mạng truy nhập vô tuyến) cho phép cung cấp dịch vụ dữ liệu tốc độ cao hơn và tăng dung lượng hệ thống mà không làm thay đổi lớn tới cấu trúc mạng di động. Các mạng WCDMA mới được xây dựng trên sự thành công của GSM và tận dụng cơ sở hạ tầng sẵn có của những nhà khai thác mạng GSM. Quá 24 trình phát triển về dịch vụ và mạng là từ mạng GSM hiện nay, qua giai đoạn phát triển GPRS và cuối cùng tiến lên mạng WCDMA.1 GPRS Điều kiện đặt ra là nhà khai thác đã phải có một mạng GSM rộng khắp.
Nhu cầu dịch vụ dữ liệu của thuê bao chủ yếu là các dịch vụ dữ liệu tốc động trung bình (tới 115 kbps). Hạ tầng mạng đã triển khai là rất lớn, nhà khai thác muốn tận dụng tối đa hạ tầng hiện có cho dịch vụ dữ liệu. GPRS là hệ thống 2.5G được nâng cấp từ GSM chủ yếu về mạng lõi theo nguyên tắc chuyển mạch gói. GPRS tăng cường các dịch vụ số liệu của GSM một cách đáng kể bằng cách cung cấp các kết nối dữ liệu chuyển mạch gói đầu cuối đến đầu cuối, cho tốc độ truyền dữ liệu tối đa lên đến 171,2 kbps và hỗ trợ các giao thức Internet TCP/IP và X.
Về kỹ thuật, hệ thống mạng truy nhập của GSM được giữ nguyên và chỉ cần nâng cấp phần mềm. Cụ thể BTS, BSC phải được nâng cấp phần mềm, MS phải có chức năng GPRS. Phân hệ mạng lõi được bổ xung thêm phần chuyển mạch gói với hai nút chính: nút hỗ trợ dịch vụ GPRS (SGSN) và nút hỗ trợ cồng GPRS (GGSN). Bằng cách này, với nâng cấp không đáng kể, hệ thống có thể cung cấp dịch vụ dữ liệu gói cho thuê bao di động rất thích hợp với các dịch vụ dữ liệu không đối xứng.
Với nhà khai thác GSM khi họ triển khai GPRS cần thực hiện: Bảng 1. Thực hiện triển khai GPRS h mạch Mạng lõi chuyển hiệ gói(SGSN, GGSN ) Mới Giao diện mới Gb giữa BSC-SGSN Điều Phần cứng và phần mềm BSC, tính cước. chỉnh Phổ tần đang sử dụng.