CHƯƠNG 1 LỊCH SỬ HỆ THỐNG THÔNG TIN DI ĐỘNG V À MẠNG 4G 1.1 LỊCH SỬ MẠNG DI ĐỘNG V À XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN Lịch sử ra đời và sự phát triển của dịch vụ di động tính đến hiện tại đ ược đánh dấu từ thế hệ đầu tiên 1G tới thế hệ 4G trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Thế hệ đầu tiên ra đời vào đầu những năm 70 (The first generation) của thế kỷ trước được thực hiện dựa trên công nghệ tương tự và cấu trúc cơ bản của thông tin di động. Hệ thống thế hệ thứ 2 (2G) được xây dựng trong những năm 80 vẫn đ ược sử dụng chủ yếu cho thoại nh ưng đã được thực hiện trên cơ sở công nghệ số, bao gồm các kỹ thuật xử lý tín hiệu số. Các hệ thống 2G n ày cung cấp các dịch vụ thông tin dữ liệu chuyển mạch k ênh ở tốc độ thấp.
Tính cạnh tranh lại một lần nữa dẫn tới việc thiết kế v à thực hiện các hệ thống bị phân hoá th ành các chuẩn khác nhau không tương thích như GSM (hệ thống di động toàn cầu) chủ yếu ở châu Âu, TDMA (đa truy nhập phân chia theo thời gian) IS -54/IS-136 ở Mỹ, PDC (hệ thống di động tế bào số cá nhân) ở Nhật và CDMA (đa truy nhập phân chia theo mã), IS95 một hệ thống khác tại Mỹ. Các hệ thống n ày hoạt động rộng khắp trên lãnh thổ quốc gia hoặc quốc tế và hiện nay chúng vẫn chiếm vai trò là các hệ thống chủ đạo, mặc dù tốc độ dữ liệu của các thuê bao trong hệ thống bị giới hạn nhiều.1 - Trục phát triển của hệ thống thông tin di động Bước chuyển tiếp giữa 2G v à 3G là 2. Thế hệ 2,5G được phát triển từ 2G với dịch vụ dữ liệu và các phương thức chuyển mạch gói, và nó cũng chú trọng tới các dịch vụ 3G cho các mạng 2G. Về c ơ bản nó là sự phát triển của công nghệ 2G để tăng dung lượng trên các kênh tần số vô tuyến của 2G và bước đầu đưa các dịch vụ dữ liệu dung lượng cao hơn vào, có thể nâng tới 384 Kbps.
Một khía cạnh rất quan trọng của 2.5G l à các kênh dữ liệu được tối ưu hoá cho dữ liệu gói truy nhập vào Internet từ các thiết bị di động như điện thoại, PDA hoặc máy tính xách tay. Trên cùng một mạng lưới với 2G, thế hệ 2.5G đã đưa internet vào thế giới thông tin di động cá nhân. Đây thực sự đ ã là một khái niệm mang tính cách mạng cho hệ thống viễn thông lai ghép hybrid. Trong thập kỷ 90, các nhà nghiên cứu đã định nghĩa ra hệ thống di động thế hệ kế tiếp, thế hệ thứ 3, đ ã loại trừ được những sự không tương thích của các hệ thống trước đây và thực sự trở thành hệ thống toàn cầu.
Hệ thống 3G có các kênh thoại chất lượng cao cũng như các khả năng về dữ liệu băng rộng, có thể đạt tới 2Mbps. Các hệ thống 3G hứa hẹn cung cấp những dịch vụ viễn thông tốc độ cao hơn, bao gồm thoại, fax và internet ở bất cứ thời gian nào, bất cứ nơi đâu với sự chuyển vùng roaming toàn cầu không gián đoạn. Chuẩn 3G to àn cầu của ITU đã mở đường cho các ứng dụng và dịch vụ sáng tạo. Mạng 3G đầu ti ên z 5 được thiết lập tại Nhật bản năm 2001.5G như là GPRS (dịch vụ vô tuyến gói chung) đã sẵn sàng ở Châu Âu.
Công nghệ 3G hỗ trợ băng thông 144 Kbps với tốc độ di chuyển lớn, 384 Kbps trong một khu vực cố định và 2 Mbps đối với trường hợp trong nhà.2 - Các thế hệ di động Hiện nay tốc độ download ở chế độ dữ liệu đang bị giới hạn ở 9.6 Kbps, thấp hơn khoảng 6 lần so với 1 đường kết nối cố định ISDN (mạng số tích hợp dịch vụ). Gần đây, với các thiết bị cầm tay , tốc độ download dữ liệu đã được tăng lên 3 lần đạt 28. Tuy nhi ên trong thực tế sử dụng tốc độ dữ liệu thường thấp hơn, đặc biệt là ở những khu vực đông đúc, hoặc l à khi mạng bị “nghẽn”. Tốc độ dữ liệu di động thế hệ 3 l à tối đa 384 Kbps download, điển hình là xấp xỉ 200 kbps và upload đạt 64 kbps từ năm 2001 [2].
Thông tin di động thế hệ 4 sẽ có tốc độ truyền dữ liệu cao h ơn, dự kiến có thể đạt tới 20 Mbps. 3G được các nhà sản xuất đề xuất đầu tiên mà không phải là từ các nhà khai thác. Năm 1996 nó đư ợc triển khai nhờ NTT (hãng điện thoại và điện báo Nhật bản) cùng Ericsson. Năm 1997 Hiệp hội công nghiệp Viễn thông TIA ở Mỹ chọn CDMA như là 1 công nghệ cho 3G.
Năm 1998 CDMA băng rộng (W- CDMA) và CDMA2000 đư ợc thông qua cho Hệ thống thông tin di động chung UMTS. Trong đó W-CDMA và CDMA2000 là 2 đ ề xuất chính của 3G. z 6 Hiện nay, các chuẩn mạng LAN không dây tốc độ cao nh ư IEEE802.11a, chuẩn HIPERLAN/2 cho LAN radio v à giao tiếp đa phương tiện đều dựa trên công nghệ OFDM, cho phép hỗ trợ tốc độ truyền l ên đến 54Bbps trong dải thông 5GHz.3 - Bảng so sánh tham số công nghệ cơ bản Hiện nay có 3 xu hướng phát triển xoay quanh hệ thống thông tin di động. Xu hướng thứ nhất là hướng tập trung quanh thế hệ 3G, để cải tiến phát tri ên lên 4G với công nghệ nòng cốt WCDMA.
Xu hướng thứ hai là phát triển mạng LAN vô tuyến tốc độ cao. Sự phát triển rộng khắp của WiFi đ ược bắt đầu từ năm 2005 cho các PC, máy tính x ách tay và PDA đang ngày càng đòi hỏi tốc độ cao hơn. Xu hướng thứ 3 là phát triển chuẩn IEEE 802.20 thực hiện đơn giản hơn 3G. Sự phát triển của mạng lõi hướng tới thế hệ NGN băng rộng sẽ hỗ trợ cho việc áp dụng các công nghệ mạng truy nhập mới thông qua các gateway truy nhập tiêu chuẩn, dựa trên các chuẩn ETSI-TISPAN, ITU-T, 3GPP và các chuẩn khác.2 GIỚI THIỆU MẠNG 4G 4G (Fourth Generation) là tên gọi tắt của hệ thống truyền thông di động thế hệ 4, hiện đang được ITU chuẩn hóa dưới tên gọi là IMT-Advanced.
Theo lịch trình của ITU thì phải đến năm 2011, ITU mới ho àn thành và chính thức z 7 đưa ra chuẩn IMT-Advanced. Chính vì vậy, hiện có nhiều ứng cử vi ên chạy đua trên con đường tiến lên 4G cũng như là có nhiều công nghệ đề cử cho 4G, trong đó các công nghệ tâm điểm được nhắc đến nhiều nhất l à OFDMA/MIMO/IP. Tuy nhiên, để đạt được những tính năng then chốt đ ã nêu ra ở trên, nhất là về tốc độ truyền thông, một số giao diện vô tuyến vẫn đang đ ược khảo sát.4 - Lịch sử các thế hệ di động theo công nghệ phát triển Việc nghiên cứu chuyển hướng sang các hệ thống thông tin di động thế hệ 4 (4G) để giải quyết các vấn đề tồn tại trong hệ thống di động thế hệ 3 (3G). Đó là việc cung cấp các loại hình dịch vụ ngày càng đa dạng hơn, từ tín hiệu thoại chất lượng cao sang tín hiệu video độ phân giải cao, các k ênh vô tuyến có tốc độ dữ liệu cao.
Khái niệm 4G đ ược sử dụng rộng rãi không chỉ có các hệ thống điện thoại tế bào mà còn bao gồm các kiểu hệ thống viễn thông truy nhập vô tuyến băng thông rộng. Một trong số các thuật ngữ d ùng để mô tả 4G là MAGIC: Mobile multimedia (Đa phương tiện di động), Anytime anywhere (Bất cứ khi nào, bất cứ nơi đâu), Global mobility support (Hỗ trợ di động toàn cầu), Integrated wireless solution (Gi ải pháp vô tuyến tích hợp) v à Customized personal service (Dịch vụ theo yêu cầu cá nhân). Như là một lời hứa cho tương lai, hệ thống 4G là hệ thống truy nhập vô tuyến tế b ào băng thông rộng, đã và đang là mối quan tâm lớn của lĩnh vực thông tin di động. 4G không chỉ hỗ trợ cho các dịch vụ thông tin di động thế hệ tiếp theo m à còn hỗ trợ cho cả các z 8 mạng vô tuyến cố định.
Những tính năng then chốt của thế hệ di động 4G : - Khả năng tương thích của các dịch vụ IMT với các mạng cố định - Khả năng liên hoạt động giữa các hệ thống truy nhập vô tuyến khác - Cung cấp dịch vụ di động chất lượng cao. - Thiết bị đầu cuối thích hợp cho việc sử dụng khắp tr ên thế giới. - Thiết bị, dịch vụ và ứng dụng thân thiện với người sử dụng. - Khả năng roaming toàn thế giới.
- Tốc độ số liệu được tăng cường (100Mb/s cho các ứng dụng với tính di động cao và 1Gb/s cho các ứng dụng với tính di động thấp). Thế hệ di động thư 4 được phát triển xoay quanh 2 công nghệ then chốt. OFDM là kỹ thuật ghép kênh phân chia tần số trực giao OFDM. Tín hiệu được chia thành các sóng mang nhỏ trực giao, trên mỗi sóng mang đó tín hiệu là “băng hẹp” (vài KHz) và vì vậy tránh được hiệu ứng đa đường, tạo nên một khoảng bảo vệ chèn vào giữa mỗi tín hiệu OFDM.
OFDM cũng tạo nên một độ lợi về phân tập tần số, cải thiện hiệu năng của lớp vật lý. Nó cũng t ương thích với những công nghệ mở rộng nâng cao khác, như là các anten thông minh và MIMO. Điều chế OFDM cũng có thể tận dụng nh ư là một công nghệ đa truy nhập (đa truy nhập phân chia tần số trực giao, OFDMA). Trong tr ường hợp này mỗi tín hiệu OFDM có thể truyền thông tin từ / tới một vài thuê bao sử dụng một bộ các sóng mang nhỏ khác nhau (subcarrier, subchannel).
Điều n ày không chỉ cung cấp thêm độ linh hoạt cho việc cấp nguồn t ài nguyên (tăng dung lượng), mà còn có thể tối ưu hoá các lớp chéo của việc sử dụng link vô tuyến. MIMO (Multiple Input Multiple Output) sử dụng ghép kênh tín hiệu giữa rất nhiều các anten phát (đa th ành phần không gian) trên miền thời gian hoặc miền tần số. Điều này rất phù hợp với OFDM, bởi vì có thể xử lý các tín hiệu thời gian độc lập ngay khi dạng sóng OFDM đ ược thiết lập chính xác cho kênh. Đặc điểm này của OFDM giúp cho công đoạn xử lý đ ược đơn giản hoá đi rất nhiều.
Tín hiệu phát đi bởi m anten được n anten thu lại. Việc xử lý các tín hiệu thu được có thể mang lại một v ài cải thiện hiệu năng: phạm vi, chất l ượng của tín hiệu thu và hiệu suất phổ.