Tổng quan luận án
Trật khớp cùng đòn là một thương tổn thường gặp trong chấn thương chỉnh hình vùng vai, chiếm tỷ lệ đáng kể trong các chấn thương khớp vai do tai nạn giao thông, tai nạn sinh hoạt hoặc thể thao. Khớp cùng đòn đóng vai trò kết nối xương bả vai với xương đòn, giữ chức năng điều hợp các hoạt động vận động phức tạp của toàn bộ đai vai. Khi hệ thống giữ vững khớp cùng đòn bị tổn thương dẫn đến mất vững kéo dài, bệnh nhân có nguy cơ đối mặt với hội chứng loạn động xương bả vai, làm biến đổi động học của nhóm gân cơ chóp xoay, gây ra hội chứng đau mạn tính và suy giảm nghiêm trọng chức năng chi trên.
Khuynh hướng ngoại khoa hiện nay đối với các tổn thương trật khớp cùng đòn từ loại IIIB trở lên (theo phân loại Rockwood cải biên) là nắn chỉnh hoàn trả giải phẫu và thực hiện phẫu thuật tái tạo hệ thống dây chằng. Độ vững của khớp cùng đòn được duy trì bởi hai hệ thống cấu trúc chính: dây chằng bao khớp cùng đòn (kiểm soát sự dịch chuyển theo phương trước - sau trên mặt phẳng ngang) và phức hợp dây chằng quạ đòn gồm hai bó riêng biệt là dây chằng nón và dây chằng thang (chịu trách nhiệm chống lại các lực làm di lệch đầu ngoài xương đòn lên trên, ra trước và ra sau). Do sự tương đồng và bổ trợ một phần về chức năng giữa dây chằng bao khớp cùng đòn và dây chằng thang trong việc kiểm soát di lệch trên mặt phẳng ngang, y văn thế giới vẫn tồn tại nhiều tranh luận về việc liệu có bắt buộc phải tái tạo đồng thời cả hai hệ thống dây chằng hay chỉ cần tái tạo phục hồi giải phẫu phức hợp dây chằng quạ đòn. Nhiều báo cáo lâm sàng ghi nhận nguyên nhân thất bại sau phẫu thuật tái tạo dây chằng quạ đòn đơn thuần chủ yếu bắt nguồn từ tình trạng mất vững ngang còn tồn lưu. Mặc dù kỹ thuật tái tạo giải phẫu hai bó dây chằng quạ đòn qua nội soi bằng mảnh ghép gân (như kỹ thuật của Yoo sử dụng 2 đường hầm xương đòn và 1 đường hầm mỏm quạ) đã được áp dụng, các dữ liệu thực nghiệm cơ sinh học trên xác tươi nhằm định lượng khả năng kiểm soát di lệch trước - sau của cấu trúc tái tạo này vẫn còn hạn chế và chưa có sự đồng thuận. Tại Việt Nam, trước thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình nào đánh giá toàn diện từ thực nghiệm cơ sinh học đến ứng dụng điều trị lâm sàng kỹ thuật tái tạo dây chằng quạ đòn có nội soi hỗ trợ.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể gồm hai nội dung:
- Xác định vai trò giữ vững khớp cùng đòn trên mặt phẳng ngang của dây chằng quạ đòn và dây chằng bao khớp cùng đòn thông qua nghiên cứu thực nghiệm cơ sinh học trên xác tươi.
- Đánh giá kết quả điều trị trật khớp cùng đòn bằng kỹ thuật tái tạo dây chằng quạ đòn qua phẫu thuật nội soi hỗ trợ trên bệnh nhân lâm sàng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án bao gồm:
- Đối tượng thực nghiệm cơ sinh học: Mẫu khớp vai trên thi hài xác tươi người Việt Nam được bảo quản theo tiêu chuẩn y học tại Bộ môn Giải phẫu học, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đối tượng lâm sàng: Các bệnh nhân được chẩn đoán trật khớp cùng đòn (bao gồm nhóm tổn thương bán cấp và mạn tính thuộc các phân loại Rockwood cải biên cần can thiệp phẫu thuật), được chỉ định và thực hiện phẫu thuật tái tạo dây chằng quạ đòn bằng mảnh ghép gân tự thân qua nội soi hỗ trợ tại bệnh viện thực hành chuyên khoa.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu giải phẫu, cơ sinh học và các phương pháp can thiệp ngoại khoa khớp cùng đòn qua các thời kỳ:
Giải phẫu và cơ sinh học hệ thống giữ vững
Về giải phẫu và hình thái học, luận án điểm lại các mốc giải phẫu quan trọng trên xương đòn (củ nón, đường thang) và mỏm quạ (phần đứng/nền mỏm quạ và phần ngang). Về dây chằng bao khớp cùng đòn, Salter xác định dây chằng cùng đòn trên có độ dày từ 2,0 đến 5,5 mm, dày và chắc hơn dây chằng dưới, hòa nhập với cân thang - delta. Renfree (2003) đo đạc chiều dài trung bình của dây chằng bao khớp là 22,9 mm và cảnh báo việc cắt đầu ngoài xương đòn vượt quá 2,6 mm ở nam hoặc 2,3 mm ở nữ có thể làm tổn thương dây chằng bao khớp. Tại Việt Nam, nghiên cứu trên 36 khớp vai xác tươi của Nguyễn Thanh Quang (2018) ghi nhận độ dày dây chằng bao khớp ở người Việt dao động từ 2,3 mm đến 3,4 mm, dày nhất ở phần trên.
Đối với phức hợp dây chằng quạ đòn, nghiên cứu của Rios (2007) và Mai Thanh Việt đã làm rõ đặc điểm giải phẫu: dây chằng thang nằm phía trước ngoài có dạng tứ giác, hướng đi xiên; dây chằng nón nằm phía sau trong hình nón thẳng đứng bám vào nền mỏm quạ và củ nón. Theo Mai Thanh Việt, ở người Việt Nam, khoảng cách trung bình từ tâm diện bám dây chằng thang đến đầu ngoài xương đòn là 16,6 ± 2,1 mm, và từ tâm diện bám dây chằng nón đến đầu ngoài xương đòn là 36,9 ± 3,4 mm.
Về cơ sinh học, Klimkiewicz (1999) và Fukuda (1986) chứng minh dây chằng bao khớp cùng đòn kháng lại 50% lực di lệch ra trước và 65% lực di lệch lên trên ở biên độ nhỏ; nhưng ở mức độ di lệch lớn, dây chằng nón chịu trách nhiệm chính (kháng 70% lực ra trước và 60% lực lên trên). Kapandji (1982) chỉ rõ dây chằng nón kiểm soát di chuyển ra trước, trong khi dây chằng thang kiểm soát di chuyển ra sau trên mặt phẳng ngang. Debski (2001) khẳng định hai bó của dây chằng quạ đòn hoạt động độc lập tương tự dây chằng chéo trước khớp gối. Lực gây đứt phức hợp quạ đòn tự nhiên được xác định là 500 ± 134 N (đứt nón đơn độc: 394 ± 170 N; đứt thang đơn độc: 440 ± 118 N), trong đó dây chằng nón có độ cứng vững cao nhất (105 ± 104 N/mm). Costic (2008) ghi nhận độ cứng vững và ứng suất tới hạn của phức hợp quạ đòn là 60,2 N/mm và 560 ± 206 N, so với tái tạo bằng gân bán gân là 23 N/mm.
Phân loại chấn thương và tổn thương kết hợp
Tossy (1963) khởi xướng phân loại trật khớp cùng đòn 3 mức độ, sau đó Rockwood (1984, 1996) hoàn thiện thành 6 loại từ loại I đến loại VI. Đến năm 2014, Beitzel cải biên phân loại loại III thành IIIA (mất vững tĩnh, vững khi khép tay) và IIIB (mất vững xoay/mất vững động, có chỉ định phẫu thuật). Về tổn thương nội khớp kèm theo, Jansen Gunner ghi nhận tỷ lệ tổn thương trong khớp ổ chảo cánh tay lên đến 53% ở trật khớp cùng đòn loại III trở lên (12% cần khâu phục hồi, 41% cần cắt lọc), thường gặp nhất là tổn thương sụn viền trên kiểu SLAP (theo Snyder), rách chóp xoay (theo Ellman). Petri (2016) chỉ ra rằng 2/3 trường hợp thất bại khi điều trị bảo tồn loại III xuất phát từ các tổn thương nội khớp bị bỏ sót.
Chẩn đoán hình ảnh và thăm khám
Chronopoulos (2004) đánh giá các nghiệm pháp lâm sàng: nghiệm pháp khép chéo tay có độ nhạy cao nhất (77%) và nghiệm pháp O'Brien có độ đặc hiệu cao nhất (95%). Về chẩn đoán hình ảnh, ngoài phim X-quang Zanca và phim nghiêng nách, Tauber (2010) mô tả kỹ thuật chụp X-quang toác khớp chiếu động bên nách đo góc ổ chảo - cùng đòn (GACA), xác định độ chênh lệch góc > 12,3° giữa tư thế đưa tay ra trước và tư thế trung gian là tiêu chuẩn chẩn đoán mất vững ngang. Minkus (2017) ứng dụng phim Alexander để phân biệt loại IIIA và IIIB. Các tác giả Nemec (2011) và Schaefer khẳng định vai trò của MRI trong việc đánh giá trực tiếp tổn thương dây chằng và các tổn thương trong khớp kèm theo.
Tiến trình kỹ thuật phẫu thuật và vị trí của luận án
Lịch sử phẫu thuật ghi nhận kỹ thuật Delbet (1917), Bosworth (1941), Weaver - Dunn (1972), Bailey (1972 chuyển mỏm quạ). Lee (2003) báo cáo mổ mở tái tạo bằng gân tự thân. Chernchujit (2006) thực hiện nội soi cố định quạ đòn bằng chỉ neo; Scheibel (2008) và Yoo (2010) phát triển phẫu thuật nội soi tái tạo dây chằng quạ đòn bằng mảnh ghép gân qua 3 đường hầm (2 đường hầm xương đòn, 1 đường hầm mỏm quạ). Đường vào nội soi mỏm quạ được Karnaugh (2001) mô tả qua khoang dưới mỏm cùng, Lo (2003) tiếp cận từ trong khớp qua khoảng gian chóp xoay, và Salata (2013) chuẩn hóa tam giác giải phẫu tiếp cận mỏm quạ. Về xử trí độ vững ngang, Mazzocca (2006) cho rằng tái tạo hai bó quạ đòn đã đủ phục hồi độ vững ngang; ngược lại, Patrick (2012), Beitzel (2014) và Morikawa (2019) khuyến nghị cần khâu phục hồi hoặc tái tạo thêm dây chằng bao khớp cùng đòn trên và cân thang - delta.
Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết: Làm sáng tỏ vai trò giữ vững trên mặt phẳng ngang của từng bó dây chằng thông qua thực nghiệm cắt tuần tự trên xác tươi; đồng thời đánh giá hiệu quả phục hồi giải phẫu, kiểm soát di lệch đa hướng và xử trí thương tổn nội khớp đi kèm của kỹ thuật tái tạo dây chằng quạ đòn 2 bó qua nội soi hỗ trợ kết hợp khâu phục hồi cân thang - delta trên bệnh nhân lâm sàng tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp hai mô hình nghiên cứu: nghiên cứu thực nghiệm cơ sinh học (định lượng thực nghiệm) và nghiên cứu lâm sàng can thiệp không đối chứng (định lượng tiến cứu kết hợp hồi cứu).
Khung lý thuyết và biến số cơ sinh học
Nghiên cứu cơ sinh học dựa trên lý thuyết động học khớp và độ vững thụ động vùng vai. Thí nghiệm đo lường sự thay đổi góc ổ chảo - cùng đòn (GACA) và mức độ di lệch ngang của đầu ngoài xương đòn trên phim X-quang toác khớp chụp động bên nách theo kỹ thuật của Tauber ở tư thế cánh tay dạng 90°.
- Biến số cơ sinh học: Đo góc GACA tại tư thế trung gian (tư thế 0), đưa tay ra sau 60° (tư thế 1), đưa tay ra trước 60° (tư thế 2); xác định độ chênh lệch góc GACA giữa các tư thế trước và sau khi thực hiện can thiệp cắt tuần tự các cấu trúc giải phẫu:
- Trạng thái nguyên vẹn ban đầu.
- Sau khi cắt dây chằng bao khớp cùng đòn (vị trí 1 và 2).
- Sau khi cắt tiếp dây chằng thang hoặc dây chằng nón.
- Sau khi cắt toàn bộ phức hợp dây chằng quạ đòn.
- Sau khi tái tạo lại dây chằng quạ đòn bằng mảnh ghép gân qua kỹ thuật 3 đường hầm.
Phương pháp nghiên cứu lâm sàng
- Thiết kế: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng theo dõi dọc.
- Cỡ mẫu và chọn mẫu: Bệnh nhân trật khớp cùng đòn phân loại Rockwood cải biên (tập trung vào loại IIIB, IV, V), phân chia theo thời gian chấn thương thành nhóm bán cấp và nhóm mạn tính.
- Kỹ thuật phẫu thuật thực hiện:
- Bệnh nhân nằm nghiêng, kéo tay, bộc lộ vùng vai và vị trí lấy gân bán gân tự thân ở chân cùng bên.
- Thiết lập các cổng nội soi khớp vai chuẩn để thám sát toàn diện khớp ổ chảo cánh tay, phát hiện và xử trí tổn thương kết hợp (tổn thương sụn viền theo Snyder, tổn thương chóp xoay theo Ellman).
- Bộc lộ nền mỏm quạ qua nội soi từ khoang dưới mỏm cùng dựa vào mốc tam giác giải phẫu (Salata).
- Khoan 1 đường hầm tại nền mỏm quạ bằng dụng cụ định vị chuyên dụng; khoan 2 đường hầm tại xương đòn (đường hầm dây chằng nón và đường hầm dây chằng thang theo mốc giải phẫu đo đạc từ đầu ngoài xương đòn).
- Mảnh ghép gân bán gân tự thân được chuẩn bị, căng trên bàn căng gân, sau đó luồn qua đường hầm mỏm quạ và kéo lên cố định qua 2 đường hầm xương đòn bằng chỉ khâu/cột néo cố định ép sát mặt trên xương đòn.
- Nắn chỉnh khớp cùng đòn dưới kiểm tra của màn tăng sáng X-quang tại phòng mổ.
- Phục hồi lại phần còn lại của dây chằng bao khớp cùng đòn và khâu tăng cường cân thang - delta.
- Quy trình phục hồi chức năng sau mổ: Mang đai treo vai bất động trong 6 - 8 tuần đầu (tập nhẹ vận động khuỷu, cổ tay); từ tuần 6 - 8 bắt đầu tập thụ động và chủ động trợ giúp; từ tuần 12 tập chuỗi đóng, co cơ đẳng trương và kháng lực; sau 6 - 12 tháng trở lại hoạt động thể thao nặng.
Công cụ thu thập và kỹ thuật phân tích dữ liệu
- Đo đạc X-quang: Khoảng cách quạ đòn (C-C), khoảng cách cùng đòn (A-C theo phương pháp Rahm), góc GACA, đánh giá tỷ lệ mất nắn khớp, bán trật hoặc trật lại trên mặt phẳng trán và mặt phẳng ngang so với bên lành.
- Đánh giá lâm sàng và chức năng: Thang điểm đau trực quan (VAS), thang điểm chức năng khớp vai Constant (đánh giá mức độ đau, hoạt động thường ngày, tầm vận động khớp, lực cơ), và mức độ hài lòng của bệnh nhân.
- Phân tích dữ liệu: Dữ liệu được xử lý bằng các thuật toán thống kê y sinh học; so sánh các giá trị trung bình, tỷ lệ phần trăm giữa các thời điểm trước mổ, sau mổ 6 tháng, 12 tháng và lần đánh giá sau cùng; so sánh tương quan giữa nhóm tuổi, thời gian chấn thương (bán cấp vs mạn tính), phân loại tổn thương và thương tổn nội khớp đi kèm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Chương 1 tổng hợp có hệ thống cơ sở giải phẫu, cơ sinh học, phân loại bệnh học và các quan điểm điều trị trật khớp cùng đòn trong y văn:
- Mô tả chi tiết hình thái học xương đòn, mỏm quạ và diện bám của dây chằng nón, dây chằng thang, dây chằng bao khớp cùng đòn, cân thang - delta ở người Việt Nam và thế giới.
- Phân tích chức năng cơ sinh học: Dây chằng bao khớp cùng đòn là cấu trúc giữ vững chính chống lại di lệch trước - sau ở tải lực sinh lý ban đầu. Dây chằng nón giữ vai trò nguyên phát chống lại lực nâng lên trên (chiếm 60 - 70%) và xoay ra trước. Dây chằng thang chịu trách nhiệm chính kiểm soát di lệch ra sau trên mặt phẳng ngang.
- Cơ chế chấn thương: Trực tiếp (ngã đập vai khép) chiếm ưu thế, lực đẩy mỏm cùng vai xuống dưới trong khi xương đòn bị kéo lên bởi cơ thang; cơ chế gián tiếp (chống tay).
- Phân loại: Chuẩn hóa 6 mức độ theo Rockwood và phân loại tiểu nhóm IIIA/IIIB theo Beitzel (2014) dựa trên X-quang Alexander.
- Điểm lại các tổn thương khớp ổ chảo cánh tay kết hợp (tỷ lệ lên tới 53% theo Jansen Gunner) và các phương pháp chẩn đoán hình ảnh: X-quang Zanca, X-quang động bên nách Tauber, MRI, CT 3D, siêu âm.
- Lược khảo các nhóm kỹ thuật phẫu thuật: chuyển dây chằng (Weaver - Dunn, Bailey), cố định cơ học (Bosworth, nẹp móc, giằng bên trong), tái tạo bằng mảnh ghép gân theo giải phẫu (Mazzocca, Carofino, Yoo) và các kỹ thuật phẫu thuật nội soi tiếp cận mỏm quạ (Karnaugh, Lo, Salata).
Bảng 1: Bảng đối chiếu các phương pháp và phân loại kinh điển được tổng quan trong Luận án
| Tác giả & Năm |
Đóng góp / Phương pháp / Phát hiện chính |
| Tossy (1963) & Rockwood (1984, 1996) |
Phân loại tổn thương khớp cùng đòn từ loại I đến loại VI dựa trên X-quang và mức độ tổn thương giải phẫu |
| Beitzel (2014) |
Cải biên phân loại loại III thành IIIA (vững) và IIIB (mất vững xoay, chỉ định phẫu thuật) qua phim Alexander |
| Fukuda (1986) & Debski (2001) |
Xác định cơ sinh học: dây chằng cùng đòn giữ vững di lệch nhỏ; dây chằng nón kháng lực lên trên, dây chằng thang kiểm soát di lệch ra sau |
| Tauber (2010) |
Kỹ thuật chụp X-quang chiếu động bên nách đo góc GACA để định lượng mất vững ngang (chênh lệch > 12,3°) |
| Yoo (2010) |
Kỹ thuật tái tạo 2 bó dây chằng quạ đòn bằng mảnh ghép gân qua nội soi với 3 đường hầm (2 đòn, 1 quạ) |
| Costic (2008) |
Định lượng độ cứng vững phức hợp quạ đòn tự nhiên (60,2 N/mm) và gân bán gân tái tạo (23 N/mm) |
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 2 trình bày chi tiết quy trình thực nghiệm cơ sinh học và quy trình can thiệp lâm sàng:
- Nghiên cứu cơ sinh học: Thiết lập mô hình thực nghiệm trên xác tươi tại Bộ môn Giải phẫu. Cố định tư thế cánh tay dạng 90°, thực hiện nghiệm pháp toác khớp chụp động bên nách theo Tauber ở 3 tư thế (tư thế 0, tư thế 1 đưa sau 60°, tư thế 2 đưa trước 60°). Ghi nhận số đo góc GACA qua từng bước cắt bỏ tuần tự các dây chằng: cắt bao khớp cùng đòn trên/sau, cắt dây chằng thang, cắt dây chằng nón, và sau khi tái tạo bằng mảnh ghép gân bán gân luồn qua 2 đường hầm xương đòn và 1 đường hầm mỏm quạ.
- Nghiên cứu lâm sàng: Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân trật khớp cùng đòn loại IIIB, IV, V (Rockwood cải biên), phân loại thời gian chấn thương (bán cấp và mạn tính). Quy trình phẫu thuật nội soi khớp vai thám sát tổn thương nội khớp, bộc lộ mỏm quạ ngoài khớp qua khoang dưới mỏm cùng, tạo 1 đường hầm mỏm quạ và 2 đường hầm xương đòn theo đúng vị trí giải phẫu diện bám (Mai Thanh Việt). Luồn và cố định mảnh ghép gân bán gân tự thân, nắn chỉnh khớp dưới màn tăng sáng X-quang, khâu phục hồi cân thang - delta và bao khớp còn lại.
- Biến số nghiên cứu: Bảng 2.1 (Biến số cơ sinh học: góc GACA, độ chênh lệch góc, tỷ lệ mất vững ngang); Bảng 2.2 (Biến số lâm sàng: tuổi, giới, nghề nghiệp, nguyên nhân chấn thương, tay thuận, phân loại Rockwood cải biên, thương tổn sụn viền Snyder, thương tổn chóp xoay Ellman, khoảng cách C-C, khoảng cách A-C, góc GACA, điểm VAS, điểm Constant qua các mốc thời gian, tai biến và biến chứng phẫu thuật).
- Đạo đức nghiên cứu: Đề tài được thông qua Hội đồng Đạo đức trong Nghiên cứu Y sinh học, có văn bản chấp thuận của người tham gia nghiên cứu và thân nhân người hiến xác.
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 3 công bố toàn bộ dữ liệu định lượng thu được từ thực nghiệm và theo dõi lâm sàng:
- Kết quả thực nghiệm cơ sinh học:
- Khi cắt dây chằng bao khớp cùng đòn, góc GACA có sự thay đổi rõ rệt ở tư thế đưa tay ra trước (tư thế 2) so với tư thế trung gian (tư thế 0), chứng minh sự xuất hiện của tình trạng mất vững ngang nguyên phát.
- Cắt tiếp bó dây chằng thang làm tăng đáng kể độ chênh lệch góc GACA và mức độ di lệch ra sau của xương đòn so với mỏm cùng vai.
- Tái tạo dây chằng quạ đòn 2 bó bằng mảnh ghép gân bán gân giúp khôi phục phần lớn độ vững trên mặt phẳng ngang, tuy nhiên việc khâu phục hồi bổ sung bao khớp cùng đòn và cân thang - delta giúp phục hồi góc GACA về gần trạng thái sinh lý ban đầu nhất.
- Kết quả nghiên cứu lâm sàng:
- Đặc điểm mẫu: Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi, giới tính, nghề nghiệp, nguyên nhân tai nạn và tay thuận; tỷ lệ phân loại Rockwood cải biên (loại IIIB, IV, V chiếm đa số).
- Tổn thương phối hợp nội khớp: Tỷ lệ cao bệnh nhân có tổn thương trong khớp ổ chảo cánh tay được phát hiện qua nội soi, bao gồm rách sụn viền (phân loại theo Snyder) và rách chóp xoay (phân loại theo Ellman), được xử trí cắt lọc hoặc khâu phục hồi đồng thì.
- Phục hồi giải phẫu trên X-quang: Khoảng cách quạ đòn (C-C) và khoảng cách cùng đòn (A-C) được nắn chỉnh về gần trị số của bên lành ngay sau mổ; theo dõi dọc sau 6 tháng, 12 tháng và lần đánh giá sau cùng ghi nhận sự duy trì khoảng cách C-C ở cả hai nhóm bán cấp và mạn tính.
- Phục hồi chức năng và giảm đau: Điểm đau VAS giảm rõ rệt theo thời gian từ trước mổ đến lần đánh giá sau cùng; điểm chức năng Constant cải thiện rõ rệt ở tất cả các tiêu chí (mức độ giảm đau, sinh hoạt hàng ngày, tầm vận động gập - dạng - xoay của khớp vai, và lực cơ).
- Tai biến và biến chứng: Luận án ghi nhận và mô tả chi tiết các trường hợp biến chứng sớm và muộn: 1 trường hợp mổ lại do nắn không hết di lệch làm mảnh ghép bị chùng; 1 trường hợp nhiễm trùng vết mổ tại nơi lấy gân mâm chày và xương đòn; các trường hợp mất nắn khớp một phần/bán trật hoặc trật lại theo mặt phẳng trán (C-C tăng dần qua các mốc 6 tháng, 12 tháng); các trường hợp vôi hóa dây chằng quạ đòn và thoái hóa khớp cùng đòn thứ phát.
Bảng 2: Tổng hợp các chỉ số và kết quả theo dõi chính trong nghiên cứu của Luận án
| Nhóm chỉ số đánh giá |
Các thông số và biến số ghi nhận trong luận án |
| Cơ sinh học thực nghiệm |
- Góc ổ chảo - cùng đòn (GACA) ở tư thế tay dạng 90° (tư thế 0, tư thế 1 đưa sau 60°, tư thế 2 đưa trước 60°) - Độ chênh lệch góc GACA qua các bước cắt tuần tự dây chằng bao khớp, dây chằng thang, dây chằng nón và sau tái tạo |
| Thương tổn nội khớp |
- Tỷ lệ tổn thương sụn viền theo phân loại Snyder (được xử trí cắt lọc/khâu phục hồi qua nội soi) - Tỷ lệ rách chóp xoay theo phân loại Ellman (xử trí đồng thì qua nội soi) |
| Chỉ số X-quang lâm sàng |
- Khoảng cách quạ đòn (C-C) trước mổ, sau mổ, so sánh bên mổ với bên lành theo thời gian - Khoảng cách cùng đòn (A-C) theo phương pháp Rahm - Tỷ lệ bán trật, trật lại trên mặt phẳng trán và mặt phẳng ngang |
| Chức năng và độ đau |
- Thang điểm đau VAS trước mổ và qua các mốc theo dõi - Điểm số chức năng khớp vai Constant (tổng điểm và các phân mục: đau, hoạt động, tầm vận động, lực cơ) - Tầm vận động khớp vai sau mổ 6 tháng và lần đánh giá cuối cùng |
| Biến chứng ghi nhận |
- Nhiễm trùng vết mổ (nơi lấy gân mâm chày, vết mổ xương đòn) - Giãn chùng mảnh ghép gân, trật lại/bán trật thứ phát - Vôi hóa dây chằng quạ đòn sau mổ, thoái hóa khớp cùng đòn |
Chương 4: BÀN LUẬN
Chương 4 phân tích, biện luận và so sánh các phát hiện của luận án với các nghiên cứu trong và ngoài nước:
- Biện luận cơ sinh học: Khẳng định dây chằng bao khớp cùng đòn giữ vai trò thiết yếu chống lại sự di lệch trước - sau trên mặt phẳng ngang; việc cắt bỏ bao khớp tạo ra sự mất vững ngang rõ rệt trên phim toác khớp động Tauber. Luận án phân tích cơ chế tương hỗ giữa dây chằng thang và dây chằng bao khớp cùng đòn, chứng minh rằng kỹ thuật tái tạo 2 bó quạ đòn (thang và nón) kết hợp khâu phục hồi cân thang - delta và bao khớp là giải pháp tối ưu để tái lập toàn diện độ vững tĩnh và động.
- Biện luận kết quả lâm sàng:
- Phân tích hiệu quả của phẫu thuật nội soi hỗ trợ: ít xâm lấn, quan sát trực tiếp và chuẩn xác diện bám nền mỏm quạ qua tam giác giải phẫu Salata, hạn chế nguy cơ tổn thương cấu trúc mạch máu - thần kinh dưới mỏm quạ.
- Tầm quan trọng của việc thám sát khớp ổ chảo cánh tay: Việc phát hiện và xử trí đồng thì các tổn thương sụn viền (Snyder) và chóp xoay (Ellman) giúp cải thiện triệt để điểm đau VAS và gia tăng điểm chức năng Constant, ngăn ngừa nguyên nhân gây thất bại đau vai kéo dài sau mổ.
- So sánh kết quả lâm sàng (điểm Constant, điểm VAS, tỷ lệ di lệch thứ phát trên mặt phẳng trán và mặt phẳng ngang) với các tác giả quốc tế (Yoo, Mazzocca, Carofino, Garofalo, Morikawa) và trong nước (Vũ Xuân Thành). Kết quả điều trị ở cả hai nhóm bán cấp và mạn tính đạt mức độ tương đương và khả quan.
- Đánh giá các biến chứng: Phân tích nguyên nhân dẫn đến bán trật hoặc trật lại thứ phát (do sự hòa nhập sinh học của mảnh ghép gân trong đường hầm xương, sự giãn chùng cơ học của gân ghép hoặc kỹ thuật nắn chỉnh ban đầu chưa triệt để); bàn luận về biến chứng nhiễm trùng nơi lấy gân và hiện tượng vôi hóa dây chằng quạ đòn sau mổ.
- Hạn chế của đề tài: Tác giả tự đánh giá các điểm hạn chế nội tại của nghiên cứu (trình bày tại trang 140 của luận án).
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã nêu rõ những đóng góp mới về mặt khoa học, lý luận giải phẫu - cơ sinh học và thực tiễn ngoại khoa:
Đóng góp về mặt khoa học và lý luận cơ sinh học
- Cung cấp dữ liệu thực nghiệm cơ sinh học trên xác tươi người Việt Nam về vai trò kiểm soát độ vững ngang của dây chằng bao khớp cùng đòn và phức hợp dây chằng quạ đòn. Chứng minh định lượng sự thay đổi góc GACA trên X-quang chiếu động bên nách khi cắt tuần tự từng thành phần dây chằng.
- Làm rõ cơ sở cơ sinh học khẳng định kỹ thuật tái tạo 2 bó dây chằng quạ đòn (bó nón và bó thang) mô phỏng chính xác giải phẫu tự nhiên, có khả năng phục hồi độ vững trên cả mặt phẳng trán và mặt phẳng ngang, đặc biệt khi được kết hợp với khâu phục hồi bao khớp cùng đòn và cân thang - delta.
Đóng góp về mặt thực tiễn lâm sàng ngoại khoa
- Chuẩn hóa quy trình phẫu thuật tái tạo dây chằng quạ đòn 2 bó theo giải phẫu sử dụng mảnh ghép gân bán gân tự thân với sự hỗ trợ của nội soi tại Việt Nam: tạo 1 đường hầm mỏm quạ và 2 đường hầm xương đòn đúng vị trí diện bám nguyên thủy.
- Khẳng định giá trị của nội soi khớp vai trong việc phát hiện và xử trí đồng thì các thương tổn phối hợp trong khớp ổ chảo cánh tay (rách sụn viền SLAP, rách chóp xoay), loại bỏ triệt để nguyên nhân gây đau kéo dài sau mổ.
- Đề xuất quy trình phục hồi chức năng 4 pha chặt chẽ sau phẫu thuật tái tạo dây chằng khớp cùng đòn, bảo đảm thời gian bất động cần thiết cho sự hòa nhập gân - xương trước khi tiến hành tập vận động chủ động và tăng cường sức cơ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Dựa trên phần trình bày tại mục Hạn chế của đề tài (trang 140) và phạm vi nghiên cứu của luận án:
- Nghiên cứu thực nghiệm cơ sinh học được thực hiện trên số lượng mẫu xác tươi giới hạn, điều kiện mô phỏng lực cơ tĩnh trên xác chưa phản ánh hoàn toàn tác động động học của hệ thống cơ sống quanh khớp vai trong điều kiện sinh lý vận động thực tế.
- Thiết kế nghiên cứu lâm sàng là nghiên cứu can thiệp tiến cứu theo dõi dọc không có nhóm đối chứng ngẫu nhiên (không đối chứng trực tiếp với kỹ thuật mổ mở kinh điển hoặc kỹ thuật chuyển dây chằng Weaver - Dunn trên cùng một cỡ mẫu).
- Thời gian theo dõi sau phẫu thuật cần tiếp tục được kéo dài hơn trên cỡ mẫu lớn hơn để đánh giá các biến đổi thoái hóa khớp cùng đòn muộn, sự thoái triển sinh học lâu dài của mảnh ghép gân tự thân và độ bền vững cơ học theo thời gian.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cao cho nhiều đối tượng chuyên môn:
- Bác sĩ phẫu thuật Chấn thương chỉnh hình và Phẫu thuật nội soi khớp: Tham khảo chi tiết các mốc giải phẫu, kỹ thuật bộc lộ mỏm quạ qua nội soi khoang dưới mỏm cùng, kỹ thuật khoan 3 đường hầm chính xác theo giải phẫu và kỹ thuật luồn, cố định mảnh ghép gân tự thân.
- Bác sĩ Chẩn đoán hình ảnh và Y học thể thao: Ứng dụng các quy trình chụp X-quang chuyên biệt (phim Zanca, phim Alexander, X-quang toác khớp chụp động bên nách Tauber) để đánh giá mất vững ngang và phân loại chính xác tổn thương khớp cùng đòn.
- Bác sĩ Phục hồi chức năng và Kỹ thuật viên Vật lý trị liệu: Sử dụng phác đồ phục hồi chức năng 4 pha được chuẩn hóa theo từng giai đoạn lành mô gân - xương sau mổ.
- Nghiên cứu sinh và Giảng viên y học: Nguồn tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa thực nghiệm giải phẫu - cơ sinh học và can thiệp lâm sàng trong lĩnh vực phẫu thuật tái tạo dây chằng.
Câu hỏi thường gặp
1. Dây chằng bao khớp cùng đòn và dây chằng quạ đòn giữ vai trò cơ sinh học khác nhau như thế nào trong việc duy trì độ vững khớp cùng đòn?
Dây chằng bao khớp cùng đòn (đặc biệt là phần trên và phần sau) là phương tiện giữ vững nguyên phát chống lại các lực gây di lệch trước - sau trên mặt phẳng ngang ở biên độ tải lực nhỏ. Phức hợp dây chằng quạ đòn gồm 2 bó hoạt động độc lập: dây chằng nón bám từ nền mỏm quạ lên củ nón xương đòn giữ vai trò nguyên phát chống lại lực nâng lên trên trên mặt phẳng trán và chống xoay ra trước; dây chằng thang đi xiên từ phần ngang mỏm quạ lên đường thang xương đòn kiểm soát sự di chuyển ra sau của đầu ngoài xương đòn trên mặt phẳng ngang.
2. Kỹ thuật tái tạo dây chằng quạ đòn được tác giả thực hiện trong luận án sử dụng cấu trúc đường hầm và vật liệu ghép nào?
Kỹ thuật phẫu thuật áp dụng phương pháp tái tạo 2 bó theo giải phẫu (kỹ thuật 3 đường hầm): tạo 1 đường hầm tại nền mỏm quạ (được định vị và bộc lộ qua nội soi) và 2 đường hầm tại xương đòn (tại diện bám dây chằng nón và dây chằng thang). Vật liệu ghép được sử dụng là mảnh ghép gân bán gân tự thân lấy từ vùng gối cùng bên, được căng trên bàn căng gân và luồn cố định ép sát vào xương đòn.
3. Phương pháp chụp X-quang toác khớp chiếu động bên nách (Dynamic axillary lateral view) theo Tauber được thực hiện như thế nào để đánh giá mất vững ngang?
Chụp bệnh nhân ở tư thế nằm với vai dạng 90° so với thân mình, thực hiện chụp 3 phim tại 3 tư thế cánh tay: tư thế 0 (nằm ngang trung gian), tư thế 1 (đưa tay ra sau 60°) và tư thế 2 (đưa tay ra trước 60°). Người khám đo góc ổ chảo - cùng đòn (GACA). Mất vững ngang được chẩn đoán xác định khi có sự chênh lệch góc GACA ở tư thế 2 lớn hơn 12,3° so với tư thế 0.
4. Vì sao phẫu thuật nội soi hỗ trợ lại có ưu thế vượt trội trong xử trí trật khớp cùng đòn so với mổ mở đơn thuần?
Nội soi hỗ trợ mang lại hai ưu thế cốt lõi: thứ nhất, cho phép thám sát toàn diện trong khớp ổ chảo cánh tay để phát hiện và xử trí đồng thì các tổn thương phối hợp thường bị bỏ sót (như rách sụn viền SLAP theo Snyder, rách chóp xoay theo Ellman); thứ hai, giúp tiếp cận bộc lộ nền mỏm quạ một cách chính xác, ít xâm lấn qua khoang dưới mỏm cùng, giảm thiểu nguy cơ tổn thương bó mạch thần kinh dưới mỏm quạ so với bộc lộ mổ mở rộng.
5. Những biến chứng nào được luận án ghi nhận và theo dõi trong quá trình nghiên cứu lâm sàng?
Các biến chứng được ghi nhận bao gồm: nhiễm trùng vết mổ nông (tại nơi lấy gân mâm chày và vết mổ xương đòn); mất nắn khớp một phần, bán trật hoặc trật lại thứ phát theo mặt phẳng trán (khoảng cách C-C tăng dần theo thời gian); mảnh ghép gân bị chùng do nắn chỉnh chưa hết di lệch cần mổ lại; vôi hóa dây chằng quạ đòn sau mổ; và thoái hóa khớp cùng đòn thứ phát.
Kết luận
Luận án Tiến sĩ Y học của tác giả Dương Đình Triết là công trình nghiên cứu chuyên sâu, kết hợp chặt chẽ giữa thực nghiệm cơ sinh học giải phẫu trên xác tươi và đánh giá can thiệp lâm sàng trong điều trị trật khớp cùng đòn. Bằng việc làm sáng tỏ vai trò giữ vững ngang của hệ thống dây chằng và chuẩn hóa kỹ thuật tái tạo dây chằng quạ đòn 2 bó bằng gân bán gân tự thân qua nội soi hỗ trợ kết hợp khâu phục hồi cân thang - delta, luận án đã chứng minh hiệu quả phục hồi giải phẫu, kiểm soát vững chắc di lệch đa hướng và cải thiện chức năng vận động khớp vai cho người bệnh. Công trình đóng góp cơ sở khoa học xác thực và giải pháp kỹ thuật ngoại khoa giá trị cho chuyên ngành Chấn thương chỉnh hình và Phẫu thuật nội soi khớp tại Việt Nam.