Mở đầu Chƣơng 1. Tổng quan khu vực nghiên cứu Chƣơng 2. Tình hình nghiên cứu, cơ sở tài liệu và phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Biến động môi trường ở Nam Tây Nguyên từ 1.300 năm cách ngày nay Kết luận Tài liệu tham khảo 5 CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Hồ Ea Tyn (12038’53,72”N, 107094’84,60”E) nằm trong Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Ka thuộc huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk, nằm phía nam Tây Nguyên. Hồ nằm cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 40km về phía Tây Nam.
Hồ có dạng elip kéo dài (~ 3,6km) theo hướng từ đông sang tây, chiều rộng trung bình 200m, nơi rộng nhất xấp xỉ 400m. Độ sâu của hồ trung bình là 3m, vị trí sâu nhất là 5m trong mùa khô (thời điểm khảo sát), lưu vực khoảng 10. Hồ được hình thành trên 2 đứt gãy kéo dài theo phương đông - tây, ngăn bởi 2 sườn núi bắc - nam tương đối cao. Phía tây của hồ nối liền với sông Krông Nô là một trong hai sông chính của khu vực.
Do có địa hình cao nên nước từ hồ Ea Tyn chỉ chảy tràn một chiều ra sông Krông Nô khi có lũ lụt. Tuy nhiên, một vài năm trở lại đây, người dân địa phương đã đào cống khơi thông với sông, nên vào mùa mưa, nước thường xuyên trao đổi với bên ngoài làm cho nước hồ bị đục hơn (Hình 1. Vị trí địa lý, hình ảnh hồ Ea Tyn, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk 6 1. Khí hậu, thủy văn, thực vật a.
Khí hậu Khu vực Tây Nguyên nói chung và khu vực huyện Lắk nói riêng đặc trưng bởi kiểu khí hậu savan nhiệt đới với nền nhiệt và lượng mưa cao, mỗi năm có hai mùa rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến hết tháng 4 năm sau, lượng mưa không đáng kể, trong đó tháng 2 hầu như không mưa. Tây Nguyên chịu ảnh hưởng của hai hệ thống gió mùa chính: gió mùa thổi từ Ấn Độ Dương (ISM) theo hướng Tây Nam, gió mùa Đông Á (gồm có gió mùa mùa hè – EASM và gió mùa mùa đông – EAWM). Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của gió đông thổi từ Thái Bình Dương – gió mùa mùa hè Đông Bắc Thái Bình Dương (WNPSM) (Hình 1.
Chế độ nhiệt: - Nhiệt độ trung bình năm: 24 - 250C - Nhiệt độ cao nhất trong năm (tháng 3, 4): 380C - Nhiệt độ thấp nhất trong năm (tháng 12, 1): 100C - Chêch lệch nhiệt độ ngày và đêm: 5,50C - Thời gian nắng chiếu sáng trung bình/năm: 1.400 giờ Chế độ gió: Hướng gió thịnh hành vào mùa mưa là Tây Nam và vào mùa khô là Đông Bắc. Gió Tây và Tây Nam thường thổi vào các tháng 5-9, còn các tháng 10 và 4 thì gió Đông và Đông Nam là chủ yếu. Tốc độ gió bình quân vào mùa khô dưới 3m/s, mùa mưa từ 4-5m/s, mùa này thỉnh thoảng có gió mạnh trên 10m/s, tốc độ trên 15m/s thường xảy ra ở các thời điểm đầu hoặc cuối mùa mưa. Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm đạt từ 1.
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 10, lượng mưa chiếm 85-90% lượng mưa cả 7 năm. Số ngày mưa trung bình trong mùa mưa khoảng 20 ngày/tháng, thậm chí có tháng mưa tất cả các ngày. Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến hết tháng 4 năm sau. Lượng mưa mùa khô không đáng kể chỉ chiếm 10-15% tổng lượng mưa hàng năm.
Vào mùa khô, mưa chỉ có ở cuối hoặc đầu mùa; thời kỳ giữa mùa lượng mưa không đáng kể, nhiều năm không có mưa, nếu có thì thời gian mưa chỉ khoảng vài ngày và lượng mưa khoảng dưới 10mm/tháng [4]. Các hệ thống gió mùa ở Đông Nam Á [18] 8 Nhìn chung, khí hậu huyện Lắk gồm hai mùa rõ rệt. Mùa mưa có lượng nước lớn dễ gây ngập lụt cho vùng trũng thấp ven sông, ảnh hưởng lớn đến đời sống người dân và hoạt động kinh tế. Đối với các vùng trên cao không bị ngập lụt, lượng nước lớn khá thích hợp cho việc phát triển trồng cây nông nghiệp.
Mùa khô diễn ra trong thời gian khá dài và lượng mưa hầu như không đáng kể nên sẽ gây ra hiện tượng thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp và đời sống. Thủy văn Nước mặt: Nguồn nước mặt của huyện Lắk khá dồi dào, lượng mưa trung bình hàng năm được tiếp nhận vào các sông suối và nhiều hồ chứa. Hai nhánh sông chính Krông Nô, Krông Ana cùng hệ thống sông suối khe nhỏ dày đặc đổ về dòng Sêrêpôk góp phần lớn vào tổng lượng dòng chảy của các con sông này trên 8 tỷ m3/năm. Ngoài ra, nguồn nước mặt còn được dự trữ ở hệ thống các hồ chứa như hồ Lắk, hồ Buôn Triêk, hồ Buôn Triă, và hồ Buôn Tua Srah, các hồ này có diện tích bề mặt lớn giữ nước quanh năm.
Mạng lưới sông ngòi: Huyện có mạng lưới sông dày đặc với mật độ khoảng 0,65-0,85 km/km2, thuộc lưu vực của hai con sông lớn Krông Ana (chiếm 44%) và Krông Knô (56%). Phía Bắc và Tây Bắc bao bọc bởi sông Krông Ana, phía Nam và phía Tây bao bọc bởi sông Krông Knô. Đây là hai con sông lớn trong hệ thống sông Sêrêpôk. Ngoài hai con sông lớn kể trên, còn các suối nội địa bắt nguồn từ dãy Chư Yang Sin đổ về sông Krông Ana và Krông Knô là: Suối Đăk Phơi, suối Đăk Liêng, suối Đăk Păk, suối Đăk Mây… - Sông Krông Knô: Chạy dọc theo biên giới phía nam của huyện, sau đó chuyển hướng lên phía bắc nhập vào sông Krông Ana tại Buôn Đray cùng đổ vào sông Sêrêpôk.
Tổng diện tích toàn lưu vực là 4.620km2, tính đến Chư Bông Kron diện tích lưu vực khoảng 3. Dòng chính sông dài 56km, độ dốc bình quân lưu vực là 17,6%, độ cao bình quân lưu vực 917m, mật độ lưới sông là 0,86km/ km2. Sông Krông Knô có nhánh sông lớn đáng kể là sông Đăk Rmăng. 9 - Sông Krông Ana: Là hợp lưu của 3 sông nhánh lớn: Sông Krông Buk, Krông Păk và Krông Bông.
Tổng diện tích lưu vực sông là 3.200km2, tính đến cầu Giang Sơn diện tích lưu vực khoảng 3. Chiều dài dòng chính là 215km. Dòng chính chảy theo hướng Đông - Tây, dọc theo sông về phía trung, hạ lưu là những bãi lầy đất chua do bị ngập lâu ngày. Độ đốc của những sông nhánh lớn thượng nguồn từ 4-5%, đoạn sông phía hạ lưu trong vùng Lắk có độ dốc nhỏ vào khoảng 0,25%.
Hàng năm về mùa lũ, lũ từ thượng nguồn sông Krông Ana đổ về gây ngập lụt toàn bộ vùng đồng bằng Lắk và Buôn Trấp. Hồ thuỷ điện: Công trình thủy điện Buôn Tua Srah được khởi công năm 2004 trên sông Krông Nô tại ranh giới giữa tỉnh Đắk Nông và Đắk Lắk. Phần tỉnh Đắk Lắk thuộc địa phận huyện Lắk (các xã Krông Knô; Nam Ka; Đăk Nuê) hình thành hồ Buôn Tua Srah với mực nước dâng bình thường là 487,5m, diện tích lòng hồ là 3.741,6 ha cũng là một nơi tạo nguồn nước mặt và khai thác du lịch sinh thái, nuôi trồng thủy sản. Thủy điện Buôn Tua Srah có tổng công suất 86MW, mỗi năm cung cấp trên 750 triệu kWh và có tác dụng cắt lũ phần hạ lưu thuộc địa bàn huyện Lắk, điều tiết và cung cấp nguồn nước ổn định cho công trình thuỷ điện Buôn Kuốp (280MW) ở phía hạ lưu trong những tháng mùa khô.
Tháng 9/2009 tổ máy số 1 thủy điện Buôn Tua Srah công suất 43MW chính thức phát điện lên lưới điện quốc gia với sản lượng điện hàng năm đạt trên 376 triệu kWh và đầu năm 2010 đã phát điện tổ máy số 2 phát hết công suất 86MW. Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm huyện Lắk thuộc phức hệ chứa nước khe nứt - vỉa, các thành tạo trầm tích Neogen (N13 - N2), thành tạo trong diện phân bố hẹp, độ sâu từ 30-50m, nước phức hệ này rất phong phú trong các lớp hạt thô, lưu lượng 0,47-4,26l/s. Khả năng chứa nước khá đồng nhất theo diện. Nước thuộc áp lực nước trung bình, động thái khá ổn định, ít phụ thuộc vào các yếu tố khí hậu và dòng mặt.
Đây là đơn vị chứa nước không lớn, song có ý nghĩa đối với những vùng khan nguồn nước mặt, phục vụ cho ăn uống, sinh hoạt ở quy mô nhỏ. Độ khoáng hóa đặc trưng từ 0,03-0,27g/l, pH = 5,7-6,8, ứng với môi trường axit yếu 10 đến trung tính. Hiện nay nguồn nước ngầm đang được sử dụng khá phổ biến cho sinh hoạt và sản xuất thông qua hệ thống giếng khoan, giếng đào [4]. Nhìn chung, khu vực huyện Lắk có hệ thống sông, suối khá dày đặc.
Hệ thống thủy lợi nếu được phát triển tốt dựa trên mạng lưới sông, suối là lợi thế lớn cho đời sống người dân cũng như hoạt động sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, vào mùa khô, việc sử dụng nguồn nước mặt sẽ tương đối khó khăn, cần đến sự tính toán để có phương án sử dụng nguồn nước hợp lý. Đặc điểm hệ sinh thái Căn cứ vào sự phân hoá theo độ cao, có thể chia các kiểu thảm thực vật của huyện Lắk như sau [4]: - Thảm thực vật rừng kín cây lá rộng thường xanh nhiệt đới ẩm: Là rừng điển hình ở độ cao dưới 800m, chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của huyện. Cấu trúc rừng nhiều tầng tán, nhiều dây leo và cây phụ sinh, tầng cỏ và tầng cây bụi rất phát triển, thành phần chiếm ưu thế là cây lá rộng thường xanh.
- Thảm thực vật rừng kín cây lá rộng thường xanh nhiệt đới ẩm trên núi: Phân bố trên các núi có độ cao trên 800m ở phía đông của huyện. Tầng ưu thế sinh thái có bộ lá rộng thường xanh. Đặc điểm địa chất a. Đặc điểm địa tầng Hồ Ea Tyn nằm gọn trong địa bàn huyện Lắk với đặc điểm địa tầng như sau.
Hệ tầng La Ngà (J2ln) Hệ tầng La Ngà chiếm diện tích lớn nhất trong huyện, phân bố ở các xã Ea- R’Bin, Buôn Triết, Buôn Tría, Đăk Nuê và một phần ở xã Bông Krang (Bề dày chung của hệ tầng La Ngà đạt khoảng 1. Thành phần hệ tầng gồm các trầm tích vũng vịnh, thường hạt mịn, dạng dải, chứa nhiều hạt pyrit, chứng tỏ được thành tạo trong môi trường khử, chuyển lên hệ xen kẽ hạt thô- hạt mịn thuộc tướng biển 11 ven bờ, phân bố ở phân giữa bể Đà Lạt. Các lớp trầm tích của hệ tầng La Ngà có đường phương vĩ tuyến hoặc đông bắc – tây nam bị uốn nếp mạnh tạo thành các nếp uốn hẹp, kéo dài có cánh đốc 60-700. Mặt cắt của hệ tầng gồm 4 tập: - Tập 1: Sét kết màu đen phân lớp mỏng, mặt lớp láng bóng đôi chỗ có thể tách thành từng tấm như đá phiến lợp; tập dày khoảng 80m.