Chương 1: Tổng quan Trong chương này tác giả sẽ cung cấp nền tản kiến thức cơ bản về vật liệu ZnO cấu trúc sợi nano (nanofiber), việt liệu 2D graphene, cấu trúc tinh thể, các tính chất và khả năng ứng dụng của chúng. Tiếp theo, tác giả giới thiệu sơ lược về cơ chế, đặc trưng, các thông số cơ bản, nguyên tắc hoạt động của cảm biến khí nói chung và cảm biến khí dựa trên cơ sở sợi nano oxit kim loại nói riêng và nêu ra phương pháp electrospinning chế tạo sợi nano nhằm ứng dụng cho cảm biến khí. Cuối cùng sẽ tổng quát về sự chuyển trong và chuyển tiếp ngoài giữa graphene và sợi nano ZnO và tổng quan về một số nghiên cứu đã công bố về hai loại chuyển tiếp này. Thực nghiệm Nội dung chính của chương này là các quá trình thực nghiệm chế tạo mẫu.
Đối với việc chế tạo vật liệu tác giả sẽ trình bày hóa chất và lượng hóa chất đã được sử dụng trong quá trình thực nghiệm, quy trình chế tạo vật liệu 2D graphene, quy trình chế tạo vật liệu có kiểu chuyển tiếp trong và chuyển tiếp ngoài giữa graphene và sợi nano ZnO. Chương 3: Kết quả Tác giả trình bày kết quả chế tạo vật liệu thông qua các phép đo đạc đã được đề cập; cùng với đó sẽ tiến hành giải thích, nhận xét những kết quả đạt được. Kết luận Trong khuôn khổ phần kết luận, tác giả tổng kết lại những kết quả đã đạt được của luận văn. Những kết luận mang tính khoa học, cùng những vấn đề cần được giải quyết trong tương lai được tác giả đề cập.
Tổng quan về vật liệu 1. Vật liệu ZnO Vật liệu ZnO dạng khối là chất không mùi, màu trắng hoặc vàng nhạt, không tan trong nước (0.00016g/100ml nước), tan trong axit vô cơ pha loãng. ZnO là vật liệu bán dẫn loại n có bề rộng vùng cấm lớn 3,37 eV, độ linh động điện tử cao, năng lượng liên kết exciton lớn (60 meV), có nhiều trong tự nhiên và không độc hại [24]. Với các tính năng ưu việt như vậy, ZnO đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống.
1 Cấu trúc Wurtzite của vật liệu ZnO [13] Vật liệu ZnO có 2 dạng cấu trúc cơ bản: cấu trúc lập phương giả kẽm (Zinc blende) và cấu trúc lục giác (Wurtzite). Cấu trúc Wurtzite của ZnO là cấu trúc ổn định, bền vững ở nhiệt độ phòng và áp suất khí quyển. Nhóm đối xứng không gian tinh thể của cấu trúc này là C46v – p63mc. Mỗi nguyên tử kẽm (Zn) liên kết với 4 nguyên tử ôxi (O) nằm ở 4 đỉnh của tứ diện.
Ở nhiệt độ phòng ZnO có các thông số như sau: hằng số mạng lần lượt là: a = b = 2,2458 Å; c = 5,2060 Å, tương ứng với thể tích một ô cơ sở có giá trị V = 47,623 Å; khối lượng riêng 5,606g/cm3 và khối lượng phân tử 81,38 [24]. Tại áp suất khí quyển ZnO bắt đầu mềm ở nhiệt độ khoảng 1000 oC 6 nhưng đến nhiệt độ 1975 oC ZnO mới bắt đầu nóng chảy. Liên kết hoá học của ZnO là hỗn hợp của liên kết cộng hoá trị và liên kết ion, trong đó liên kết cộng hoá trị chiếm 33%, liên kết ion chiếm 67% [24]. Trong hợp chất, cấu hình điện tử của Zn là 4s2 và của O là 2s22p6.
Các thông số vật lý của vật liệu ZnO được trình bày trên bảng 1. 1 Các thông số vật lý thể hiện tính chất của vật liệu ZnO [24] Giá trị Thông số Khối lượng riêng 5,606 g/cm3 Hằng số mạng a = b = 2,2458 Å; c = 5,2060 Å Pha bền vững ở 300K Wurtzite Nhiệt độ nóng chảy 1975 Hằng số điện môi 8,656 Chiết suất 2,008 Độ rộng vùng cấm ở 300K 3,37 eV Độ hòa tan trong nước 0,16 mg/100 ml (30 oC) 1. Vật liệu Graphene Graphene (GP) là một trong những loại vật liệu nano carbon, có cấu trúc nano 2 chiều (2D). Graphene là vật liệu có nhiều tính chất đặc biệt như dẫn nhiệt, dẫn điện tốt, có độ cứng rất lớn (gấp hàng trăm lần so với thép) và nó gần như trong suốt [1].
Ngoài ra, Graphene có diện tích bề mặt riêng, độ linh động hạt tải lớn và phù hợp với công nghệ vi điện tử, nên đây là loại vật liệu có nhiều tiềm năng ứng dụng cho lĩnh vực cảm biến. Thật ra, thuật ngữ “graphene” đã được IUPAC (International Union of Pure and Applied Chemistry) đề xuất sử dụng thay cho thuật ngữ “graphite layers”, để phù hợp với nghiên cứu về cấu trúc đơn lớp carbon. Vì vậy, GP có thể được xem như là nguồn gốc của tất cả các dạng hình thù graphite, nếu 7 cuộn lại sẽ được dạng hình thù fullerene (0D), nếu quấn lại sẽ được dạng carbon nanotube (1D), còn nếu xếp chồng lên nhau sẽ tạo nên dạng hình thù graphite (3D) [1]. GP có cấu trúc đơn lớp nguyên tử carbon sắp xếp chặt chẽ trong mạng tinh thể hình tổ ong, với chiều dài liên kết C-C cỡ 0,14nm.
Mỗi nguyên tử C liên kết với 3 nguyên tử C gần nó nhất trong mạng tinh thể liên kết σ, tương ứng với trạng thái sp2, theo nguyên lí loại trừ Pauli các trạng thái liên kết σ được lấp đầy, vì vậy các liên kết này giữa các nguyên tử carbon trong mạng GP rất bền. Một điện tử trong mỗi nguyên tử carbon chưa tham gia vào liên kết nằm ở opitan p vuông góc với mạng tinh thể GP, sự xen phủ giữa các opitan p của các nguyên tử carbon cạnh nhau hình thành liên kết π [1]. Mức năng lượng của trạng thái liên kết này chưa được điền đầy, chính các điện tử nằm trong trạng thái này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các tính chất điện khác thường của GP. GP được xem như vật liệu bán dẫn với độ rộng vùng cấm bằng 0, hạt tải của GP bao gồm cả điện tử và lỗ trống.
Một đặt điểm thú vị của GP là tính chất dị thường của hạt tải, nó cư xử như hạt có khối lượng tương đối tính bằng 0 (Dirac fermion). Ngoài ra, GP có có một số tính chất rất đặc biệt như ứng suất Young lớn (cỡ 0,05 TPa), gần như trong suốt (9,77%), độ linh động của hạt tải lên đến 15×103 cm2/Vs và điện trở suất nhỏ cỡ 10-6 Ω/cm [1]. Băng nano (nanoribbons) GP có cấu trúc kiểu zigzag có tính chất như kim loại, còn với cấu trúc kiểu ghế bành (armchairs) có tính chất là kim loại hoặc bán dẫn và độ rộng vùng cấm phụ thuộc vào độ rộng của băng nano. Cảm biến khí và các đặc trưng của cảm biến khí 1.
Cấu tạo chung của một cảm biến khí Cấu tạo chung của cảm biến khí gồm có ba bộ phận chính là: đế, điện cực kim loại và lớp vật liệu nhạy khí. Khi cảm biến được đặt trong môi trường có khí cần đo, vật liệu nhạy khí sẽ phản ứng với khí đo và làm thay đổi tính chất (tính chất điện). Sự thay đổi này sẽ được hệ đo ghi nhận và phân tích thông qua kết nối giữa điện cực của cảm biến và hệ đo. 2 Cấu tạo chung của một hệ cảm biến khí dựa trên sự thay đổi độ dẫn của vật liệu nano ôxít kim loại Nguyên tắc hoạt động của loại cảm biến này là dựa vào sự tăng hay giảm điện trở của lớp vật liệu nhạy khí do tương tác như hấp phụ, phản ứng hóa học, khuếch tán xảy ra trên bề mặt hay trong lòng lớp vật liệu đó.
Vật liệu được sử dụng rất đa dạng gồm có polime, gốm, kim loại, ôxít kim loại, bán dẫn, v. Trong đó, vật liệu nano ôxít kim loại bán dẫn được quan tâm đặc biệt do có giá thành rẻ, cho độ đáp ứng cao, tốc độ đáp ứng nhanh, dễ chế tạo, có khả năng phát hiện đa dạng các loại khí, và khả năng thương mại hóa cao. Một số cấu trúc vật liệu nano được sử dụng làm lớp nhạy khí hiện nay trên thế giới là: - Vật liệu nano cấu trúc không chiều: là vật liệu mà cả 3 chiều đều có 9 kích thước nano. Ví dụ: chấm lượng tử, hạt nano, đám lượng tử.
- Vật liệu nano cấu trúc một chiều: là vật liệu trong đó hai chiều có kích thước nano, điện tử được tự do trên một chiều còn lại. Ví dụ: dây nano, sợi nano, thanh nano, ống nano carbon (CNTs), v. - Vật liệu nano cấu trúc hai chiều: là vật liệu trong đó có một chiều có kích thước nano, điện tử được tự do trong 2 chiều còn lại. Ví dụ: màng mỏng, màng graphene.
- Ngoài ra còn có vật liệu có cấu trúc nano hay nanocomposite trong đó chỉ có một phần của vật liệu có kích thước nm, hoặc trong cấu trúc của vật liệu có các cấu trúc nano không chiều, một chiều, hai chiều đan xen lẫn nhau. Cảm biến khí sử dụng sợi nano ôxít kim loại Sợi nano ôxít kim loại là cấu trúc nano một chiều (1D) được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực cảm biến khí, năng lượng và các lĩnh vực vật liệu quang học. Cấu trúc này có diện tích bề mặt riêng lớn, có định hướng tinh thể tốt nên tăng cường các quá trình hấp phụ vật lý, hoá học trên bề mặt dẫn đến hiệu hiệu suất vật liệu lớn và tiêu hao công suất nhỏ khi làm việc. Trong lĩnh vực cảm biến khí, các loại sợi nano ôxít kim loại được sử dụng thường là sợi nano SnO2, ZnO, CuO, TiO2,.
Các sợi nano ôxít kim loại này được tổng hợp bằng nhiều phương pháp vật lý và hoá học khác nhau, phương pháp tổng hợp cấu trúc sợi nano được chia thành các loại: kéo sợi, sử dụng nhiệt để phân tách pha, chế tạo khuôn, tự ráp, phun tĩnh điện [27].2 chỉ ra ưu và nhược điểm của các phương pháp chế tạo sợi nano (kéo sợi, chế tạo khuôn, phân tách pha, tự ráp và phun tĩnh điện), mỗi phương pháp có những ưu điểm và nhược điểm riêng, tuy nhiên phương pháp phun tĩnh điện tỏ ra là hiệu quả và phổ biến biến nhất với việc dễ dàng tạo ra được các sợi nano dài và liên tục của các loại vật liệu khác nhau, phương pháp đơn giản và rẻ tiền phù hợp với điều kiện Việt Nam. 2 Ưu điểm và nhược điểm của các phương pháp chế tạo [27] Quy trình Ưu điểm Nhược điểm Kéo sợi Cần ít thiết bị Qui trình không liên tục Chế tạo Các sợi với đường kính khác Cần nhiều khuôn khuôn nhau có thể được chế tạo bởi các khuôn khác nhau Phân tách pha Cần ít thiết bị, quy trình có thể Bị hạn chế về mặt chi trực tiếp chế tạo các ma trận sợi tiết. Độ đồng đều dễ dàng đạt được.