Luận án tiến sĩ: Chuyển hóa rừng trồng keo tai tượng thành rừng kinh doanh gỗ lớn ở Bắc Giang

Luận án tiến sĩ phân tích cơ sở khoa học chuyển hóa rừng keo tai tượng thành rừng gỗ lớn tại Bắc Giang, góp phần phát triển kinh tế bền vững.

Chuyên ngành

Lâm sinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

159
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Một số khái niệm có liên quan

1.2. Trên thế giới

1.3. Những nghiên cứu về tỉa thưa rừng trồng

1.4. Nghiên cứu về ảnh hưởng của tỉa thưa đến các sinh trưởng cây

1.5. Nghiên cứu về ảnh hưởng của tỉa thưa đến năng suất, chất lượng gỗ và hiệu quả kinh tế rừng trồng

1.6. Nghiên cứu về tỉa thưa rừng trồng

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nội dung nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Quan điểm và cách tiếp cận

2.2.2. Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

2.2.3. Phương pháp đánh giá thực trạng chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn tại Bắc Giang

2.2.4. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến sinh trưởng rừng trồng Keo tai tượng

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Thực trạng chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn tại Bắc Giang

3.1.1. Tình hình chung về trồng rừng nguyên liệu tại Bắc Giang

3.1.2. Thực trạng trồng rừng gỗ lớn và chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn tại Bắc Giang

3.2. Ảnh hưởng của tỉa thưa đến sinh trưởng rừng trồng Keo tai tượng

3.2.1. Tỷ lệ sống

3.2.2. Chỉ số diện tích lá và quang hợp

3.2.3. Chỉ số diện tích lá và độ tàn che

3.2.4. Cường độ quang hợp

3.2.5. Đường kính ngang ngực và tiết diện ngang

3.2.6. Phân bố số cây theo cỡ kính

3.2.7. Sinh trưởng đường kính ngang ngực

3.2.8. Tiết diện ngang của Keo tai tượng

3.2.9. Chiều cao của Keo tai tượng

3.2.10. Đường kính tán lá của Keo tai tượng

3.2.11. Trữ lượng rừng Keo tai tượng

3.3. Ảnh hưởng của tỉa thưa đến chất lượng gỗ xẻ

3.3.1. Chiều dài đoạn gỗ lớn

3.3.2. Khối lượng gỗ

3.3.3. Khối lượng sản phẩm sơ chế và sản phẩm phụ

3.3.4. Số lượng mắt trên thân

3.3.5. Tỉ lệ gỗ lõi, gỗ dác

3.3.6. Tỷ lệ sử dụng gỗ xẻ

3.4. Hiệu quả kinh tế của rừng Keo tai tượng sau tỉa thưa, chuyển hóa

3.4.1. Hiệu quả kinh tế khi bán gỗ tại Bãi 1

3.4.2. Hiệu quả kinh tế khi bán sản phẩm sơ chế

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của luận án

Ngành công nghiệp chế biến gỗ tại Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu. Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ chỉ đạt trên 3 tỷ USD, nhưng đến năm 2018 đã tăng lên 9,3 tỷ USD. Để đạt mục tiêu xuất khẩu 25 tỷ USD vào năm 2025, việc phát triển vùng nguyên liệu gỗ lớn là rất quan trọng. Định hướng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) là xây dựng vùng trồng rừng gỗ lớn với diện tích khoảng 1,2 triệu ha. Tại Bắc Giang, mục tiêu đến năm 2020 là trồng 29.000 ha rừng tập trung, trong đó có 7.200 ha rừng gỗ lớn. Tuy nhiên, hiện trạng trồng rừng chủ yếu là gỗ nhỏ, với giá trị kinh tế thấp. Việc chuyển hóa từ rừng keo tai tượng kinh doanh gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn là cần thiết để nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dân.

II. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Luận án này không chỉ bổ sung cơ sở khoa học cho việc chuyển hóa rừng trồng keo tai tượng từ gỗ nhỏ sang gỗ lớn mà còn xác định năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của rừng keo tai tượng tại Yên Thế, Bắc Giang. Việc nghiên cứu này có thể giúp tối ưu hóa quy trình quản lý rừng, từ đó nâng cao giá trị kinh tế cho người trồng rừng. Đặc biệt, việc xác định mật độ cây tối ưu sau tỉa thưa sẽ góp phần quan trọng trong việc phát triển bền vững rừng gỗ lớn. Những kết quả từ nghiên cứu này có thể được áp dụng rộng rãi trong các chương trình phát triển lâm nghiệp tại Việt Nam.

III. Đối tượng địa điểm và giới hạn nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là rừng trồng keo tai tượng tại Yên Thế, Bắc Giang. Nghiên cứu sẽ tập trung vào ảnh hưởng của tỉa thưa đến sinh trưởng cây, chất lượng gỗ và hiệu quả kinh tế của rừng keo tai tượng 3, 4 và 5 tuổi. Giới hạn nghiên cứu bao gồm việc đánh giá hiện trạng chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn tại Bắc Giang, nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến các chỉ tiêu sinh trưởng như đường kính ngang ngực, chiều cao, và trữ lượng gỗ. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin quan trọng cho việc quản lý và phát triển rừng gỗ lớn tại khu vực này.

IV. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc tỉa thưa có ảnh hưởng tích cực đến sinh trưởng của rừng keo tai tượng. Tỉ lệ sống, chỉ số diện tích lá và cường độ quang hợp đều tăng lên sau khi thực hiện tỉa thưa. Đặc biệt, việc tỉa thưa giúp cải thiện chất lượng gỗ, với tỷ lệ gỗ lõi và gỗ dác được nâng cao. Hiệu quả kinh tế từ việc chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn cũng được chứng minh qua các kịch bản bán gỗ và sản phẩm sơ chế. Những kết quả này không chỉ khẳng định tính khả thi của việc chuyển hóa mà còn mở ra hướng đi mới cho ngành lâm nghiệp tại Bắc Giang.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số cơ sở khoa học chuyển hoá rừng trồng keo tai tượng acacia mangium willd kinh doanh gỗ nhỏ thành rừng kinh doanh gỗ lớn ở bắc giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm có liên quan Khái niệm gỗ lớn và rừng trồng gỗ lớn: Theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11567-1:2016: Gỗ lớn: là gỗ có đường kính đầu nhỏ lớn hơn hoặc bằng 15 cm và chiều dài lớn hơn hoặc bằng 2 m. Khái niệm rừng trồng gỗ lớn: Theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11567-1:2016: Rừng trồng gỗ lớn là rừng trồng với mục đích cung cấp gỗ lớn với tỷ lệ gỗ lớn đạt ≥ 70%. Theo Thông tư 29/2018/TT-BNNPTNT, ngày 16 tháng 11 năm 2018 về quy định các biện pháp lâm sinh thì Rừng trồng gỗ lớn là rừng có tổi thiểu 70% số cây đứng trên một đơn vị diện tích có đường kính tại 1,3m từ 20 cm trở lên đối với cây sinh trưởng nhanh.

Khái niệm chuyển hóa rừng: Theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11567-1:2016: Chuyển hóa rừng là việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh để thay đổi mục đích kinh doanh, quản lý của rừng. Đối với chuyển hóa rừng trồng kinh doanh gỗ nhỏ thành rừng kinh doanh gỗ lớn thì nguyên lý chuyển hóa được xác định như sau: - Chuyển hóa rừng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn dựa trên nguyên lý tạo điều kiện và môi trường để cây cá thể và toàn lâm phần sinh trưởng nhanh hơn, đặc biệt là sinh trưởng đường kính để nhanh chóng đạt tiêu chuẩn gỗ lớn. - Về nguyên lý, có ba cách để gia tăng sinh trưởng đường kính cây: (i) Kéo dài thời gian sinh trưởng; (ii) Điều chỉnh không gian sinh trưởng hợp lý để cây phát triển về đường kính; và (iii) Cải thiện điều kiện dinh dưỡng cho cây thông qua bón phân. luan an 7 - Về kéo dài thời gian sinh trưởng: chu kỳ kinh doanh ba loài cây keo sẽ được kéo dài đến >10 tuổi để sản xuất gỗ lớn thay vì 6-8 năm trong kế hoạch sản xuất gỗ nhỏ.

Trên thế giới 1. Tình hình phát triển rừng trồng Keo tai tượng Vùng sinh thái của Keo tai tượng thường là nhiệt đới ẩm, với mùa khô ngắn (4 - 6 tháng), lượng mưa trung bình từ 1. Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 13 - 210C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 25 -320C (Awang Kamis and David Taylor, 1993) [40]. Keo tai tượng là cây mọc nhanh, xanh quanh năm, trong điều kiện thuận lợi Keo tai tượng sinh trưởng quanh năm, tuy nhiên ở Thái Lan trong điều kiện nhiệt độ thấp, mưa ít, cây sinh trưởng chậm hoặc ngừng sinh trưởng (Atippanumpai L, 1989) [39].

Keo tai tượng có chu kỳ sống tương đối ngắn, khoảng từ 30 - 50 năm, cây có thể sinh trưởng ở những nơi có biên độ pH từ 4,5 đến 6,5. Keo tai tượng đôi khi có nhiều thân, nguyên nhân chưa được nghiên cứu kỹ, tuy nhiên có thể do độ phì đất, cạnh tranh về điều kiện sống (Turvey ND, 1995) [91]. Diện tích rừng trồng Keo tai tượng ngày càng tăng lên trong những năm gần đây ở Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia và Việt Nam. Indonesia là những nước trồng Keo tai tượng nhiều nhất thế giới, với diện tích khoảng 1,2 triệu ha (Nirsatmanto và cộng sự, 2004) [81].

Loài keo này đã thể hiện khả năng thích ứng cao với các lập địa thoái hóa, sinh trưởng nhanh và các tính chất gỗ đáp ứng được yêu cầu cho công nghiệp chế biến gỗ [81]. Keo tai tượng đã được đưa vào trồng ở Trung Quốc từ những năm 1960, tới năm 1997 đã có khoảng 200.000 ha được trồng ở phía Nam Trung Quốc gồm 4 tỉnh là Hải Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam. Tốc độ trồng rừng hàng năm khoảng 20. Các nghiên cứu đã được tiến hành cho đối tượng này khá đầy đủ như khả năng cố định đạm (cây hấp thụ luan an 8 153,8 kg nitơ/ha) và kỹ thuật trồng rừng thâm canh đã được chấp nhận thay cho phương pháp quảng canh vốn có (dẫn theo Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [21].

Ở Papua New Guinea từ năm 1950, có khoảng 60.000 ha rừng trồng các loài keo, trong đó Keo tai tượng chiếm khoảng 15-16 %. Sinh trưởng chiều cao của Keo tai tượng trên các lập địa tốt đạt 5 m/năm trong 2,5 năm đầu (dẫn theo Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [21]. Ở Indonesia, việc trồng Keo tai tượng với mục đích thương mại đã được triển khai từ đầu những năm 1980, đến năm 1990 đã có xấp xỉ 38.000 ha rừng trồng Keo tai tượng cung cấp gỗ nguyên liệu giấy và gỗ xẻ (Werren, M. Đến hết năm 2013, cây Keo tai tượng được gây trồng và phát triển nhiều ở Indonesia (300.000ha), Việt Nam (600.000ha) (Lydie-Stella Koutika và David M.

Ngoài ra Keo tai tượng còn được trồng tại các nước Bangladesh, Ấn Độ, Lào, Sri Lanka, Congo, Bờ biển ngà, Kenya, Zimbabwe, Brazin, Costa Rica, Cuba, Mỹ và một số nơi khác trên thế giới (http://www. Những nghiên cứu về tỉa thưa rừng trồng Tỉa thưa là một trong những biện pháp kỹ thuật quan trọng có ảnh hưởng rõ rệt đến cấu trúc, sinh trưởng, phát triển, sản lượng, chất lượng và cơ cấu sản phẩm rừng trồng. Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật chặt nuôi dưỡng rừng và tỉa rừng trồng, đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần thúc đẩy sinh trưởng cho những cây có phẩm chất tốt nhất mà không gây ảnh hưởng lớn đến cấu trúc rừng (Wenger K. Mặt khác, tùy vào loài và thời gian tỉa thưa mà lâm phần có những phản ứng khác nhau sau khi tỉa thưa (Medhurst J.L và cộng sự, 2002; Vu Dinh Huong và cộng sự, 2016) [77, 92].

Chặt nuôi dưỡng rừng Theo Wenger K. (1984) [93], “chặt nuôi dưỡng là biện pháp chính để nuôi dưỡng rừng bằng cách chặt bớt đi một số cây rừng nhằm tạo điều kiện cho những cây có phẩm chất tốt được giữ lại sinh trưởng, nuôi dưỡng hình thân, tạo tán, tăng lượng sinh trưởng, cải thiện chất lượng gỗ và nâng cao chức năng khác của rừng”. Chặt nuôi dưỡng phải đạt được các mục đích: (i) Mật độ lâm phần giảm xuống cải thiện điều kiện sinh trưởng của cây rừng; (ii) Xúc tiến sinh trưởng cây rừng, rút ngắn thời gian; (iii) Loại bỏ được chất lượng gỗ xấu, nâng cao chất lượng lâm phần; (iv) Lợi dụng sớm nâng cao được tổng lượng gỗ; (v) Cải thiện vệ sinh lâm phần tăng được sức đề kháng của lâm phần; và (vi) Xây dựng kết cấu lâm phần thích hợp, phát huy hiệu năng đa dạng của rừng (Shen Guofang, 2001) [88]. Chặt nuôi dưỡng rừng thường chia làm 2 loại: (1) Chặt thấu quang: chủ yếu là tỉa thưa loại bỏ cây nơi có mật độ dày, để lại cây tốt, loại cây xấu; chặt thấu quang bao gồm cả nhiệm vụ chặt thấu quang và chặt loại trừ; (2) Chặt sinh trưởng: Sau khi chặt thấu quang, cây rừng bước vào giai đoạn rừng mọc nhanh cần tiến hành chặt sinh trưởng để cây rừng mau chóng đạt thành thục.

Ở Mỹ chặt nuôi dưỡng gồm 5 loại: (1) Chặt loại trừ, chặt những cây chèn ép, không dùng, thứ yếu; (2) Chặt tự do, chặt bỏ những cây gỗ tầng trên; (3) Chặt tỉa thưa, giống như chặt tỉa thưa và chặt sinh trưởng; (4) Chặt chỉnh lý, chặt các cây thứ yếu, hình dáng và sinh trưởng kém; (5) Chặt gỗ thải, chặt các cây bị hại. Tuy nhiên, áp dụng chặt nuôi dưỡng cho chặt chuyển hoá rừng cần phải quan tâm đến điều kiện thực tế của lâm phần nghĩa là chặt chuyển hoá là chặt nuôi dưỡng nhưng cần phải bài chặt cả những cây có đủ không luan an 10 gian dinh dưỡng nhưng không có khả năng sinh trưởng thành cây gỗ lớn đồng thời chặt chọn ở những khoảng phân bố cụm [dẫn theo Phùng Ngọc Lan và Hoàng Kim Ngũ, 2005) [17]. Tỉa thưa rừng trồng Tỉa thưa trong rừng trồng là loại bỏ những cây xấu, yếu, những cây phi mục đích để điều tiết không gian dinh dưỡng, hạn chế cạnh tranh về mặt không gian dinh dưỡng trong rừng dựa trên cơ sở lý luận là quy luật phân hóa và tỉa thưa tự nhiên của cây rừng trong lâm phần. Vì vậy, thời điểm và cường độ tỉa thưa thích hợp tùy thuộc vào mục đích kinh doanh rừng, đặc điểm sinh học từng loài cây, sức sinh trưởng của cây và khoảng cách trồng trong các lâm phần cụ thể.

Tỉa thưa thường được tiến hành ở rừng sau khép tán với mục tiêu nhằm điều chỉnh mật độ sao cho lâm phần luôn tiệm cận với mật độ tối ưu để thúc đẩy sinh trường đường kính, chiều cao để có thể thu được năng suất lâm phần cao nhất (Rollinson T. Theo đó, trên lâm phần rừng trồng với mật độ ban đầu 1.500 cây/ha, quá trình tỉa thưa được tiến hành theo các giai đoạn: tỉa thưa lần 1 ở tuổi 3 (mật độ để lại 1.000 cây/ha), tỉa thưa lần 2 ở tuổi 10 (150 cây/ha) và tỉa thưa lần cuối ở tuổi 13 với mật độ để lại 100 cây/ha. Theo Lemmens và cộng sự (1995) [70]. đối với rừng trồng keo tai tượng nguyên liệu giấy, áp dụng tỉa thưa thường xuyên sau khi cây đạt 18 tháng tuổi.

Đối với rừng trồng keo tai tượng cung cấp gỗ chất lượng cao, lần đầu tỉa thưa khi cây đạt chiều cao 9m, tương ứng với thời điểm cây khoảng 2 tuổi. Nghiên cứu về ảnh hưởng của tỉa thưa đến các sinh trưởng cây Ảnh hưởng của tỉa thưa đến sinh trưởng rừng trồng luan an 11 Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra, tỉa thưa giúp sinh trưởng của những cây để lại tốt hơn (Lars Rytter, 1994; Medhurst và cộng s, 2002; Suzane và cộng sự, 2003; Harri Makinen và Antti Isomaki, 2004) [69, 77, 89, 57]; những lâm phần được tỉa thưa đường kính bình quân của lâm phần thường lớn hơn so với những lâm phần không tỉa thưa [57 93]; tỉa thưa giúp cho tán lá có khả năng hấp thụ được nhiều Nitơ hơn so với không tỉa thưa, góp phần vào việc tích lũy dinh dưỡng gia tăng chiều cao của cây. Mặt khác, tùy vào loài và thời gian tỉa thưa mà lâm phần có những phản ứng khác nhau sau khi tỉa thưa; ở một số trường hợp, tỉa thưa làm giảm tổng tiết diện ngang của lâm phần trong một giai đoạn nhất định, đặc biệt là ngay sau khi tỉa (Lydie-Stella Koutika, David M. Beadle C và cộng sự (2004) [42] đã áp dụng cường độ tỉa thưa khác nhau (0%, 33%, 66% và 100%) đối với cây phù trợ (Pinus radiata) tới sinh trưởng cây mục đích (Acacia melanoxylon) tại Australia, sau 2 năm cho thấy, việc tỉa thưa cây phù trợ đã ảnh hưởng tích cực tới tăng trưởng đường kính, tăng trưởng đạt cao nhất tại công thức tỉa thưa 100% (23 mm/năm), trong khi tăng trưởng trung bình đạt 14 mm/năm ở các công thức không tỉa thưa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Chuyển hóa rừng trồng keo tai tượng thành rừng kinh doanh gỗ lớn ở Bắc Giang" của tác giả Phạm Quốc Chiến, dưới sự hướng dẫn của TS. Đặng Thịnh Triều và TS. Đặng Văn Thuyết, được thực hiện tại Viện Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam vào năm 2020. Bài luận án này tập trung vào việc nghiên cứu và phát triển mô hình chuyển hóa rừng trồng keo tai tượng thành rừng kinh doanh gỗ lớn, nhằm nâng cao giá trị kinh tế và bảo vệ môi trường. Những kết quả từ nghiên cứu không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình chuyển hóa mà còn đưa ra các giải pháp thực tiễn cho việc quản lý và phát triển bền vững rừng trồng tại Bắc Giang.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực lâm nghiệp và quản lý tài nguyên rừng, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Đánh giá sinh trưởng loài cây keo lai Acacia mangium x Acacia auriculiformis tại lâm trường Hữu Lũng và Phúc Tân", nơi nghiên cứu về sự sinh trưởng của các loài cây keo, hay "Nghiên cứu sâu đục thân cói Bactra venosana và biện pháp phòng chống tại Thanh Hóa, Ninh Bình", cung cấp thông tin về các biện pháp quản lý sâu bệnh trong lâm nghiệp. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về "Luận án tiến sĩ về thảm thực vật thoái hóa và mô hình rừng trồng ở Cẩm Phả, Quảng Ninh", nghiên cứu về các mô hình rừng trồng và sự thoái hóa của thảm thực vật. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến lâm nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên.