chương 1 trình bày những khái niệm cơ bản nhất về sự CDCCN kinh tế trong quá trình CNH, HĐH. Phần tiếp theo sẽ mô tả ngắn gọn một số mô hình lý thuyết về CDCCN kinh tế. Phần cuối chương sẽ giới thiệu tổng quan các nghiên cứu đã có trên thế giới và ở Việt Nam về quá trình CDCCN kinh tế và tăng trưởng kinh tế theo ba phương pháp tiếp cận: tiếp cận vào - ra, tiếp cận lý thuyết tăng trưởng mới, và tiếp cận kinh tế lượng. Khái niệm cơ cấu ngành kinh tế Cơ cấu kinh tế là tương quan giữa các bộ phận trong tổng thể kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lượng và chất lượng giữa các bộ phận.
Có nhiều dạng khác nhau của cơ cấu kinh tế, mỗi dạng phản ánh một khía cạnh nhất định của sự phát triển, trong đó cơ cấu ngành chính là dạng quan trọng nhất, phản ánh rõ nhất trình độ phát triển của một nền kinh tế [15]. Xét trên khía cạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế thì cơ cấu theo ngành của nền kinh tế được xem là quan trọng nhất, được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất vì nó phản ánh sự phát triển của khoa học công nghệ, lực lượng sản xuất, phân công lao động, chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất, đồng thời nó cũng thể hiện tính hiệu quả của việc phân bổ và sử dụng nguồn lực có lợi thế tương đối, khả năng cạnh tranh của quốc gia và hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Cơ cấu ngành kinh tế là tương quan giữa các ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc dân, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lượng và chất lượng giữa các ngành với nhau. Các mối quan hệ này được hình thành trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể [15].
Bản chất của cơ cấu ngành kinh tế thể hiện trên các khía cạnh: Thứ nhất, đó là tổng thể các nhóm ngành, các ngành kinh tế được hình thành, số lượng các ngành kinh tế luôn thay đổi trong quá trình phát triển của. Theo tính chất phân công lao động xã hội (hay sự khác nhau về quy trình công nghệ của các ngành trong quá trình tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ), các ngành kinh tế được phân 8 thành ba khu vực: khu vực I bao gồm các ngành nông - lâm − ngư nghiệp; khu vực II gồm các ngành công nghiệp và xây dựng; khu vực III gồm các ngành dịch vụ. Thứ hai, cơ cấu ngành kinh tế thể hiện ở mối quan hệ tương hỗ (bao gồm cả mặt số lượng và chất lượng) với nhau, mối quan hệ giữa các ngành thường xuyên biến đổi và ngày càng phức tạp theo sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội trong nước và quốc tế. Trạng thái cơ cấu ngành là dấu hiệu phản ánh trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Cơ cấu ngành kinh tế chịu sự tác động của nhiều nhân tố, các nhân tố này đều tác động đến sự thay đổi trong cơ cấu của tổng cầu và sự phân bổ các yếu tố sản xuất.
Nhóm các nhân tố tác động từ bên trong bao gồm: nhân tố thị trường và nhu cầu tiêu dùng xã hội; trình độ phát triển của lực lượng sản xuất cùng với sự vận động phù hợp của quan hệ sản xuất; quan điểm, chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong mỗi giai đoạn nhất định. Nhóm các nhân tố tác động từ bên ngoài bao gồm: xu thế chính trị xã hội trong khu vực và trên thế giới; xu thế toàn cầu hoá và quốc tế hoá lực lượng sản xuất; các thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ, sự bùng nổ của công nghệ thông tin. Đánh giá được một cách đúng đắn mức độ và phạm vi tác động của các nhân tố này là căn cứ để Nhà nước xây dựng và điều chỉnh cơ cấu kinh tế thông qua các chính sách cơ cấu phù hợp. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Bất cứ một quốc gia nào cũng cần có một cơ cấu kinh tế hợp lý và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế là nhằm đạt mục đích đó.
Mặc dù chuyển dịch cơ cấu kinh tế được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng ý nghĩa phổ biến nhất của nó liên quan đến dịch chuyển dài hạn và bền bỉ trong cơ cấu ngành kinh tế (Chenery, 1986; Syrquin, 2007). Cụ thể hơn, chuyển dịch cơ cấu gắn liền với những thay đổi trong tầm quan trọng tương đối của các ngành theo thời gian. Sự thay đổi này là kết quả của quá trình: xuất hiện thêm các ngành mới hoặc mất đi một số ngành đã có (tức là có sự thay đổi về số lượng các ngành và loại ngành trong cơ cấu ngành của nền kinh tế); thay đổi trong mối quan hệ tác động qua lại giữa các ngành thông qua quy mô đầu ra mà mỗi ngành cung cấp cho các ngành và qui mô đầu vào mà mỗi ngành sử dụng của các ngành trong hệ thống kinh tế; và do quy mô và nhịp độ tăng trưởng 9 của các ngành là khác nhau. Do đó, cơ cấu ngành kinh tế luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển.
Quá trình thay đổi của cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển gọi là sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế [15]. Như vậy, CDCCN không chỉ là sự thay đổi về số lượng các ngành, tỷ trọng của mỗi ngành mà còn là sự thay đổi về vai trò, tính chất mối quan hệ trong nội bộ cơ cấu ngành. Quá trình CDCCN là một quá trình diễn ra liên tục, gắn liền với tăng trưởng và phát triển kinh tế. Hơn nữa, CDCCN kinh tế diễn ra linh hoạt, phù hợp với những điều kiện bên trong và bên ngoài, phù hợp với các lợi thế tương đối của nền kinh tế là cơ sở cho tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững.
Hầu hết các nhà kinh tế đều nhất trí rằng tình trạng kém phát triển bao giờ cũng gắn liền với sản xuất nông nghiệp trong khi trình độ phát triển cao luôn đi kèm với một khu vực công nghiệp phát triển. Lịch sử phát triển kinh tế thế giới cũng như từng quốc gia đều cho thấy quá trình phát triển đi đôi với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đặc biệt là CDCCN kinh tế, trong đó tỷ trọng khu vực nông nghiệp giảm đi và tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng lên. Như vậy, CDCCN là một quá trình diễn ra gắn liền với quá trình CNH và được xem là kết quả của quá trình CNH đối với các nước đang phát triển 1. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình CNH, HĐH 1.
Công nghiệp hóa Theo định nghĩa của Liên hợp quốc (1963):“Công nghiệp hoá là phương thức phát triển kinh tế trong đó phần lớn nguồn lực quốc gia được sử dụng và phát triển công nghệ và kỹ thuật tiên tiến để đa dạng hoá sản xuất, đặc biệt là sản xuất công nghiệp, nhằm tạo ra và duy trì được một tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao và vượt qua được những lạc hậu về kinh tế xã hội” [98]. Theo khái niệm này, CNH bao gồm hai nội dung cơ bản: thứ nhất, CNH không chỉ là quá trình phát triển công nghiệp mà còn là quá trình tác động của công nghiệp vào tất cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội, làm biến đổi toàn diện nền kinh tế nhằm chuyển một nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu sang 10 nền kinh tế công nghiệp hiện đại, hay CNH là quá trình cải biến thể chế và cơ cấu kinh tế của đất nước; thứ hai, CNH là quá trình ứng dụng công nghệ mới ngày càng hiện đại hơn vào hoạt động kinh tế và đời sống xã hội nhằm cải biến phương thức lao động từ thủ công lạc hậu tới tiên tiến hiện đại, tạo ra NSLĐ ngày càng cao, hay CNH là quá trình chuyển dịch cơ cấu công nghệ trong sản xuất, trình độ của nền công nghiệp không cố định mà luôn được nâng cao, được HĐH theo sự phát triển của thời đại. CNH diễn ra ở các nước khác nhau, thời điểm lịch sử khác nhau, điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, do đó mục đích và phương thức tiến hành cũng khác nhau. Rất ít các quốc gia phát triển kinh tế thành công mà không thực hiện CNH.
Thông qua CNH, các nguồn lực được phân bổ nhiều hơn cho khu vực công nghiệp, khu vực mà NSLĐ được nâng cao nhanh chóng, nhờ đó, nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế. Khi nền kinh tế bước sang những giai đoạn phát triển cao hơn, trong ngành công nghiệp, tỷ trọng các ngành thâm dụng vốn ngày càng lớn và gia tăng với tốc độ nhanh, tỷ trọng các ngành sản xuất thâm dụng lao động sẽ giảm dần; trong ngành dịch vụ, các ngành dịch vụ chất lượng cao như: tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, luật, giáo dục, y tế, du lịch sẽ có tốc độ tăng nhanh và chiếm tỷ trọng cao. Xét trên góc độ thương mại, thế giới đã chứng kiến hai mô hình CNH: công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu và công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu. Công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu Công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu là đường lối CNH mà theo đó quốc gia tiến hành CNH nỗ lực thành lập và nuôi dưỡng các ngành công nghiệp trong nước để sản xuất ra các sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu.
Đây là một chiến lược hướng nội mà theo chiến lược này, quốc gia nên sản xuất hàng trong nước thay vì nhập khẩu, nghĩa là các ngành sản xuất hàng hóa trong nước sẽ phát triển, và sau đó có thể cạnh tranh được trên thị trường thế giới trong tương lai khi đạt được tính kinh tế theo quy mô. Chiến lược này đòi hỏi chính phủ cần áp dụng các chính sách thực hiện lựa chọn các hàng hóa sản xuất ở trong nước, thường là các hàng hóa được sản xuất dựa vào tay nghề thấp, thâm dụng lao động như dệt may, giày dép. Các biện pháp bảo hộ những ngành công nghiệp trong nước thường là dựng lên các hàng rào 11 mậu dịch chống lại hàng nhập khẩu và các khoản trợ cấp để khuyến khích các ngành công nghiệp trong nước [15, tr 267 – 272].