Nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam giai đoạn 1989 - 2014

Luận án tiến sĩ phân tích mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần phát triển bền vững.

Chuyên ngành

Toán kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án

2015

185
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Khái niệm cơ cấu ngành kinh tế

1.2. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

1.3. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình CNH, HĐH

1.4. Công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu

1.5. Công nghiệp hoá theo hướng xuất khẩu

1.6. Chuyển dịch cơ cấu ngành trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1.7. Các mô hình lý thuyết về sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

1.7.1. Lý thuyết “cất cánh” của Walt Rostow

1.7.2. Các lý thuyết nhị nguyên

1.7.3. Lý thuyết tăng trưởng cân đối

1.7.4. Lý thuyết tăng trưởng bất cân đối

1.7.5. Mô hình “đàn ngỗng bay” của Kaname Akamatsu

1.7.6. Lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Moshe Syrquin

1.7.7. Lý thuyết kinh tế cơ cấu mới của Justin Yifu Lin

1.8. Đánh giá chung các lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

1.9. Tổng quan nghiên cứu về sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

1.9.1. Tổng quan các nghiên cứu về nguồn tăng trưởng đầu ra và thay đổi cơ cấu theo phương pháp tiếp cận vào - ra

1.9.2. Tổng quan các nghiên cứu về mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành và tăng trưởng năng suất lao động ở các quốc gia trên thế giới

1.9.3. Tổng quan các nghiên cứu sử dụng các mô hình kinh tế lượng đánh giá tác động của CDCCN kinh tế đến tăng trưởng kinh tế

1.10. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1989 - 2014

2.1. Một số chính sách liên quan đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam

2.2. Cơ cấu GDP, vốn và lao động theo ngành của nền kinh tế Việt Nam

2.2.1. Cơ cấu GDP theo ngành của nền kinh tế

2.2.2. Cơ cấu vốn theo ngành của nền kinh tế

2.2.3. Cơ cấu lao động theo ngành của nền kinh tế

2.3. Cơ cấu giá trị gia tăng, xuất khẩu và nhập khẩu theo ngành của nền kinh tế

2.3.1. Cơ cấu giá trị gia tăng theo ngành của nền kinh tế

2.3.2. Cơ cấu xuất khẩu theo ngành của nền kinh tế

2.3.3. Cơ cấu nhập khẩu theo ngành của nền kinh tế

2.4. Năng suất lao động của các ngành và nền kinh tế

2.5. Tăng trưởng năng suất lao động của các ngành và nền kinh tế

2.6. Kết luận chương 2

2.7. TÓM TẮT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CÁC MÔ HÌNH PHÂN TÍCH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ

3.1. Mô hình vào - ra phân tích nguồn tăng trưởng đầu ra và thay đổi cơ cấu

3.2. Mô hình vào - ra trong nền kinh tế mở

3.3. Phương pháp phân rã xác định nguồn tăng trưởng từ phía cầu

3.4. Phân tích từ phía cung

3.5. “Mô hình cơ bản” phân tích vai trò của chuyển dịch cơ cấu ngành đối với tăng trưởng năng suất lao động

3.6. Các mô hình kinh tế lượng đánh giá tác động của CDCCN kinh tế đến tăng trưởng kinh tế

3.7. Số liệu sử dụng cho phân tích

3.8. Sử dụng mô hình vào - ra để phân tích sự chuyển dịch cơ cấu ngành và nguồn tăng trưởng sản lượng của các ngành và nền kinh tế Việt Nam thời kỳ 1989 - 2007

3.8.1. Nguồn tăng trưởng đầu ra của các ngành và nền kinh tế thời kỳ 1989 - 1996

3.8.2. Nguồn tăng trưởng đầu ra của các ngành và nền kinh tế thời kỳ 1996 - 2000

3.8.3. Nguồn tăng trưởng của các ngành và nền kinh tế thời kỳ 2000 - 2007

3.9. So sánh khu vực chế biến, chế tạo của Việt Nam với một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới

3.10. Ảnh hưởng qua các mối liên hệ công nghiệp

3.11. Chỉ số thang đo liên ngành theo mô hình Ghosh

3.12. Sử dụng “mô hình cơ bản” phân tích vai trò của chuyển dịch cơ cấu ngành đối với tăng trưởng năng suất lao động ở Việt Nam thời kỳ 1995 - 2014

3.13. Kết quả ước lượng các mô hình kinh tế lượng đánh giá tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam thời kỳ 1998 - 2011

3.14. Kết luận chương 3

3.15. TÓM TẮT CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN, MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Chuyển Dịch Cơ Cấu Ngành Kinh Tế

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà kinh tế. Các nghiên cứu về phát triển kinh tế, kinh nghiệm công nghiệp hóa của các nước đi trước, và phân tích chính sách công nghiệp hóa đều đề cập đến vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Gần đây, sau các cuộc khủng hoảng kinh tế, nhiều nghiên cứu mới đã xuất hiện, đánh giá lại sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia và khu vực khác nhau. Tại Việt Nam, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã được đề cập nhiều, nhưng các công trình nghiên cứu sâu còn hạn chế. Luận án này hy vọng bổ sung cho các nghiên cứu trước bằng cách áp dụng ba phương pháp tiếp cận khác nhau để làm sáng tỏ khuôn mẫu tăng trưởng và thay đổi cơ cấu ngành và nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 1989 – 2014.

1.1. Khái niệm cơ bản về cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam

Cơ cấu ngành kinh tế là một khái niệm quan trọng, phản ánh sự phân bổ nguồn lực và hoạt động kinh tế giữa các ngành khác nhau trong nền kinh tế. Nó bao gồm tỷ trọng của từng ngành trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP), lao động, vốn đầu tư, và các yếu tố sản xuất khác. Sự thay đổi trong cơ cấu ngành kinh tế, hay còn gọi là chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, là một quá trình tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế, đặc biệt là trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

1.2. Tầm quan trọng của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sử dụng nguồn lực, và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Nó giúp chuyển dịch lao động từ các ngành có năng suất thấp sang các ngành có năng suất cao hơn, thúc đẩy ứng dụng công nghệ mới, và tạo ra các sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao hơn. Quá trình này cũng góp phần vào việc phát triển kinh tế Việt Nam một cách bền vững và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.

II. Thách Thức Chuyển Dịch Cơ Cấu Kinh Tế Việt Nam 1989 2014

Việt Nam đã có sự chuyển đổi đáng kể từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu sau hơn hai thập kỷ đổi mới. Kinh tế tăng trưởng với tốc độ khá cao và liên tục đã giúp Việt Nam thoát khỏi tình trạng kém phát triển, thu nhập thấp, trở thành quốc gia đang phát triển có mức thu nhập trung bình. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng dựa vào tăng vốn đầu tư, lao động rẻ, khai thác tài nguyên thô, gia công xuất khẩu đã bộc lộ nhiều điểm yếu. Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế, làm chậm lại quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là cơ cấu ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

2.1. Mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng

Mô hình tăng trưởng theo chiều rộng dựa vào việc tăng cường sử dụng các yếu tố đầu vào như vốn, lao động, và tài nguyên thiên nhiên. Mặc dù đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn đầu đổi mới, mô hình này dần trở nên kém hiệu quả do năng suất lao động thấp, công nghệ lạc hậu, và khai thác quá mức tài nguyên. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, dựa trên năng suất, hiệu quả, và đổi mới sáng tạo.

2.2. Tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu

Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam, làm giảm tốc độ tăng trưởng, thu hẹp thị trường xuất khẩu, và gây khó khăn cho các doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải chủ động tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, và nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài. Việc tái cơ cấu kinh tế được khởi động mạnh mẽ từ năm 2012 và được chính phủ xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm.

2.3. Điểm yếu của nền kinh tế Việt Nam

Các điểm yếu của nền kinh tế Việt Nam bao gồm chất lượng tăng trưởng thấp, năng suất lao động và hiệu quả sử dụng vốn còn hạn chế, sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao, và chậm cải thiện. Bên cạnh đó, sự phụ thuộc vào xuất khẩu các sản phẩm gia công, khai thác tài nguyên, và lao động giá rẻ cũng khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương trước các biến động của thị trường thế giới. Việc khắc phục những điểm yếu này là yếu tố then chốt để Việt Nam có thể đạt được mục tiêu trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020.

III. Phương Pháp Phân Tích Chuyển Dịch Cơ Cấu Ngành 1989 2014

Luận án này sử dụng ba phương pháp tiếp cận khác nhau để phân tích sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 1989 – 2014. Các phương pháp này bao gồm: mô hình vào - ra (tiếp cận vào - ra), mô hình cơ bản (tiếp cận lý thuyết tăng trưởng mới) và các mô hình kinh tế lượng. Mô hình vào - ra được sử dụng để phân tích sự chuyển cơ cấu ngành diễn ra như thế nào từ phía cầu và phía cung. Mô hình tăng trưởng mới để xem xét, đánh giá vai trò của chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ đối với tăng trưởng NSLĐ của nền kinh tế. Các mô hình kinh tế lượng để đánh giá mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế.

3.1. Mô hình vào ra Input Output Model

Mô hình vào - ra là một công cụ phân tích kinh tế quan trọng, cho phép đánh giá mối liên hệ giữa các ngành trong nền kinh tế. Nó giúp xác định tác động của sự thay đổi trong nhu cầu cuối cùng (ví dụ: tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu) đến sản lượng của các ngành khác nhau. Trong luận án này, mô hình vào - ra được sử dụng để phân tích sự chuyển dịch cơ cấu ngành từ phía cầu và phía cung, cũng như để đánh giá vai trò của các ngành khác nhau trong tăng trưởng kinh tế.

3.2. Mô hình cơ bản New Growth Theory

Mô hình cơ bản, hay còn gọi là lý thuyết tăng trưởng mới, nhấn mạnh vai trò của tri thức, công nghệ, và vốn nhân lực trong tăng trưởng kinh tế. Trong luận án này, mô hình cơ bản được sử dụng để xem xét, đánh giá vai trò của chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ đối với tăng trưởng năng suất lao động của nền kinh tế. Nó giúp xác định liệu việc chuyển dịch lao động từ các ngành có năng suất thấp sang các ngành có năng suất cao hơn có đóng góp vào tăng trưởng kinh tế hay không.

3.3. Mô hình kinh tế lượng Econometric Models

Các mô hình kinh tế lượng được sử dụng để đánh giá mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế một cách định lượng. Các mô hình này cho phép kiểm định các giả thuyết về tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành đến tăng trưởng kinh tế, cũng như để xác định các yếu tố khác có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Kết quả ước lượng từ các mô hình kinh tế lượng cung cấp bằng chứng thực nghiệm để hỗ trợ cho các kết luận và khuyến nghị chính sách.

IV. Thực Trạng Chuyển Dịch Cơ Cấu Ngành Kinh Tế Việt Nam 1989 2014

Chương 2 của luận án trình bày thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 1989 - 2014. Nội dung bao gồm phân tích cơ cấu GDP, vốn và lao động theo ngành của nền kinh tế Việt Nam. Bên cạnh đó, luận án cũng phân tích cơ cấu giá trị gia tăng, xuất khẩu và nhập khẩu theo ngành của nền kinh tế. Cuối cùng, chương này cũng đánh giá năng suất lao động của các ngành và nền kinh tế, cũng như tăng trưởng năng suất lao động của các ngành và nền kinh tế.

4.1. Cơ cấu GDP theo ngành của nền kinh tế

Phân tích cơ cấu GDP theo ngành cho thấy sự thay đổi về tỷ trọng của các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc nội. Thông thường, trong quá trình công nghiệp hóa, tỷ trọng của ngành nông nghiệp giảm dần, trong khi tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ tăng lên. Việc phân tích cơ cấu GDP theo ngành giúp đánh giá mức độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn 1989 - 2014.

4.2. Cơ cấu lao động theo ngành của nền kinh tế

Phân tích cơ cấu lao động theo ngành cho thấy sự phân bổ lao động giữa các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Trong quá trình công nghiệp hóa, lao động thường chuyển dịch từ ngành nông nghiệp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ. Việc phân tích cơ cấu lao động theo ngành giúp đánh giá mức độ chuyển dịch cơ cấu lao động của Việt Nam trong giai đoạn 1989 - 2014, cũng như tác động của nó đến năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế.

4.3. Cơ cấu xuất nhập khẩu theo ngành của nền kinh tế

Phân tích cơ cấu xuất nhập khẩu theo ngành cho thấy sự thay đổi về tỷ trọng của các ngành trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cơ cấu xuất nhập khẩu thường thay đổi theo hướng tăng cường xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp và dịch vụ, đồng thời nhập khẩu các nguyên vật liệu, máy móc thiết bị cần thiết cho sản xuất. Việc phân tích cơ cấu xuất nhập khẩu theo ngành giúp đánh giá mức độ tham gia của Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu, cũng như tác động của nó đến chuyển dịch cơ cấu ngành và tăng trưởng kinh tế.

V. Kết Quả Phân Tích Chuyển Dịch Cơ Cấu Ngành Kinh Tế Việt Nam

Chương 3 trình bày kết quả phân tích sự chuyển dịch cơ cấu ngành và nguồn tăng trưởng sản lượng của các ngành và nền kinh tế Việt Nam thời kỳ 1989 - 2007 sử dụng mô hình vào - ra. Chương này cũng sử dụng “mô hình cơ bản” để phân tích vai trò của chuyển dịch cơ cấu ngành đối với tăng trưởng năng suất lao động ở Việt Nam thời kỳ 1995 - 2014. Cuối cùng, chương này trình bày kết quả ước lượng các mô hình kinh tế lượng đánh giá tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam thời kỳ 1998 - 2011.

5.1. Nguồn tăng trưởng đầu ra của các ngành kinh tế

Phân tích nguồn tăng trưởng đầu ra của các ngành kinh tế giúp xác định các yếu tố đóng góp vào tăng trưởng sản lượng của từng ngành, bao gồm nhu cầu trong nước, xuất khẩu, và thay đổi công nghệ. Kết quả phân tích cho thấy sự thay đổi đáng kể trong vai trò của các ngành sơ cấp và các ngành công nghiệp chế biến chế tạo đối với tăng trưởng tổng giá trị sản xuất của nền kinh tế. Sự chuyển dịch diễn ra theo hướng giảm tỷ trọng đóng góp của các ngành sơ cấp, tăng tỷ trọng của các ngành chế biến chế tạo vào tăng trưởng đầu ra của nền kinh tế.

5.2. Vai trò của chuyển dịch cơ cấu ngành đối với tăng trưởng NSLĐ

Phân tích vai trò của chuyển dịch cơ cấu ngành đối với tăng trưởng năng suất lao động cho thấy rằng chuyển dịch cơ cấu ngành có đóng góp quan trọng vào tăng trưởng năng suất lao động của Việt Nam thời kỳ 1995 – 2014, và tầm quan trọng của chuyển dịch cơ cấu ngành thay đổi mạnh mẽ qua các thời kỳ nghiên cứu, trong đó ảnh hưởng mạnh nhất ở thời kỳ 2000 - 2010.

5.3. Tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành đến tăng trưởng kinh tế

Kết quả ước lượng các mô hình kinh tế lượng cho thấy rằng chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa có quan hệ chặt chẽ và có tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam thời kỳ 1998 - 2011. Điều này khẳng định tầm quan trọng của việc tiếp tục đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững.

VI. Khuyến Nghị Chính Sách Chuyển Dịch Cơ Cấu Kinh Tế Việt Nam

Từ các kết quả nghiên cứu, luận án rút ra một số kết luận và khuyến nghị chính sách quan trọng. Cơ cấu ngành của khu vực sơ cấp chuyển dịch từ nông nghiệp sang khai khoáng rồi đến thủy sản. So với các nền kinh tế khác, Việt Nam là một trong số rất ít các quốc gia mà khu vực sơ cấp đi theo định hướng xuất khẩu. Mặc dù đã có tín hiệu chuyển dịch tích cực trong cơ cấu ngành của khu vực chế biến chế tạo nhưng sự chuyển dịch này diễn ra chậm. Các ngành thâm dụng tài nguyên và lao động vẫn chiếm ưu thế hơn so với các ngành thâm dụng vốn và công nghệ.

6.1. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp chế biến chế tạo

Cần có các chính sách khuyến khích đầu tư vào các ngành công nghiệp chế biến chế tạo có giá trị gia tăng cao, sử dụng công nghệ tiên tiến, và có khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, cần có các biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực cạnh tranh, đổi mới công nghệ, và phát triển sản phẩm mới.

6.2. Nâng cao năng suất lao động trong các ngành kinh tế

Cần có các chính sách đầu tư vào giáo dục, đào tạo nghề, và nâng cao trình độ kỹ năng cho người lao động. Đồng thời, cần có các biện pháp khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng các phương pháp quản lý tiên tiến, cải thiện điều kiện làm việc, và tăng cường đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D).

6.3. Tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế

Cần tiếp tục đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thông qua việc tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA), cải thiện môi trường kinh doanh, và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Đồng thời, cần có các biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước tận dụng các cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như đối phó với các thách thức từ cạnh tranh quốc tế.

09/06/2025
Luận án tiến sĩ các mô hình phân tích sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 trình bày những khái niệm cơ bản nhất về sự CDCCN kinh tế trong quá trình CNH, HĐH. Phần tiếp theo sẽ mô tả ngắn gọn một số mô hình lý thuyết về CDCCN kinh tế. Phần cuối chương sẽ giới thiệu tổng quan các nghiên cứu đã có trên thế giới và ở Việt Nam về quá trình CDCCN kinh tế và tăng trưởng kinh tế theo ba phương pháp tiếp cận: tiếp cận vào - ra, tiếp cận lý thuyết tăng trưởng mới, và tiếp cận kinh tế lượng. Khái niệm cơ cấu ngành kinh tế Cơ cấu kinh tế là tương quan giữa các bộ phận trong tổng thể kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lượng và chất lượng giữa các bộ phận.

Có nhiều dạng khác nhau của cơ cấu kinh tế, mỗi dạng phản ánh một khía cạnh nhất định của sự phát triển, trong đó cơ cấu ngành chính là dạng quan trọng nhất, phản ánh rõ nhất trình độ phát triển của một nền kinh tế [15]. Xét trên khía cạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế thì cơ cấu theo ngành của nền kinh tế được xem là quan trọng nhất, được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất vì nó phản ánh sự phát triển của khoa học công nghệ, lực lượng sản xuất, phân công lao động, chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất, đồng thời nó cũng thể hiện tính hiệu quả của việc phân bổ và sử dụng nguồn lực có lợi thế tương đối, khả năng cạnh tranh của quốc gia và hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Cơ cấu ngành kinh tế là tương quan giữa các ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc dân, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lượng và chất lượng giữa các ngành với nhau. Các mối quan hệ này được hình thành trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể [15].

Bản chất của cơ cấu ngành kinh tế thể hiện trên các khía cạnh: Thứ nhất, đó là tổng thể các nhóm ngành, các ngành kinh tế được hình thành, số lượng các ngành kinh tế luôn thay đổi trong quá trình phát triển của. Theo tính chất phân công lao động xã hội (hay sự khác nhau về quy trình công nghệ của các ngành trong quá trình tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ), các ngành kinh tế được phân 8 thành ba khu vực: khu vực I bao gồm các ngành nông - lâm − ngư nghiệp; khu vực II gồm các ngành công nghiệp và xây dựng; khu vực III gồm các ngành dịch vụ. Thứ hai, cơ cấu ngành kinh tế thể hiện ở mối quan hệ tương hỗ (bao gồm cả mặt số lượng và chất lượng) với nhau, mối quan hệ giữa các ngành thường xuyên biến đổi và ngày càng phức tạp theo sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội trong nước và quốc tế. Trạng thái cơ cấu ngành là dấu hiệu phản ánh trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Cơ cấu ngành kinh tế chịu sự tác động của nhiều nhân tố, các nhân tố này đều tác động đến sự thay đổi trong cơ cấu của tổng cầu và sự phân bổ các yếu tố sản xuất.

Nhóm các nhân tố tác động từ bên trong bao gồm: nhân tố thị trường và nhu cầu tiêu dùng xã hội; trình độ phát triển của lực lượng sản xuất cùng với sự vận động phù hợp của quan hệ sản xuất; quan điểm, chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong mỗi giai đoạn nhất định. Nhóm các nhân tố tác động từ bên ngoài bao gồm: xu thế chính trị xã hội trong khu vực và trên thế giới; xu thế toàn cầu hoá và quốc tế hoá lực lượng sản xuất; các thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ, sự bùng nổ của công nghệ thông tin. Đánh giá được một cách đúng đắn mức độ và phạm vi tác động của các nhân tố này là căn cứ để Nhà nước xây dựng và điều chỉnh cơ cấu kinh tế thông qua các chính sách cơ cấu phù hợp. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Bất cứ một quốc gia nào cũng cần có một cơ cấu kinh tế hợp lý và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế là nhằm đạt mục đích đó.

Mặc dù chuyển dịch cơ cấu kinh tế được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng ý nghĩa phổ biến nhất của nó liên quan đến dịch chuyển dài hạn và bền bỉ trong cơ cấu ngành kinh tế (Chenery, 1986; Syrquin, 2007). Cụ thể hơn, chuyển dịch cơ cấu gắn liền với những thay đổi trong tầm quan trọng tương đối của các ngành theo thời gian. Sự thay đổi này là kết quả của quá trình: xuất hiện thêm các ngành mới hoặc mất đi một số ngành đã có (tức là có sự thay đổi về số lượng các ngành và loại ngành trong cơ cấu ngành của nền kinh tế); thay đổi trong mối quan hệ tác động qua lại giữa các ngành thông qua quy mô đầu ra mà mỗi ngành cung cấp cho các ngành và qui mô đầu vào mà mỗi ngành sử dụng của các ngành trong hệ thống kinh tế; và do quy mô và nhịp độ tăng trưởng 9 của các ngành là khác nhau. Do đó, cơ cấu ngành kinh tế luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển.

Quá trình thay đổi của cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển gọi là sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế [15]. Như vậy, CDCCN không chỉ là sự thay đổi về số lượng các ngành, tỷ trọng của mỗi ngành mà còn là sự thay đổi về vai trò, tính chất mối quan hệ trong nội bộ cơ cấu ngành. Quá trình CDCCN là một quá trình diễn ra liên tục, gắn liền với tăng trưởng và phát triển kinh tế. Hơn nữa, CDCCN kinh tế diễn ra linh hoạt, phù hợp với những điều kiện bên trong và bên ngoài, phù hợp với các lợi thế tương đối của nền kinh tế là cơ sở cho tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững.

Hầu hết các nhà kinh tế đều nhất trí rằng tình trạng kém phát triển bao giờ cũng gắn liền với sản xuất nông nghiệp trong khi trình độ phát triển cao luôn đi kèm với một khu vực công nghiệp phát triển. Lịch sử phát triển kinh tế thế giới cũng như từng quốc gia đều cho thấy quá trình phát triển đi đôi với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đặc biệt là CDCCN kinh tế, trong đó tỷ trọng khu vực nông nghiệp giảm đi và tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng lên. Như vậy, CDCCN là một quá trình diễn ra gắn liền với quá trình CNH và được xem là kết quả của quá trình CNH đối với các nước đang phát triển 1. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình CNH, HĐH 1.

Công nghiệp hóa Theo định nghĩa của Liên hợp quốc (1963):“Công nghiệp hoá là phương thức phát triển kinh tế trong đó phần lớn nguồn lực quốc gia được sử dụng và phát triển công nghệ và kỹ thuật tiên tiến để đa dạng hoá sản xuất, đặc biệt là sản xuất công nghiệp, nhằm tạo ra và duy trì được một tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao và vượt qua được những lạc hậu về kinh tế xã hội” [98]. Theo khái niệm này, CNH bao gồm hai nội dung cơ bản: thứ nhất, CNH không chỉ là quá trình phát triển công nghiệp mà còn là quá trình tác động của công nghiệp vào tất cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội, làm biến đổi toàn diện nền kinh tế nhằm chuyển một nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu sang 10 nền kinh tế công nghiệp hiện đại, hay CNH là quá trình cải biến thể chế và cơ cấu kinh tế của đất nước; thứ hai, CNH là quá trình ứng dụng công nghệ mới ngày càng hiện đại hơn vào hoạt động kinh tế và đời sống xã hội nhằm cải biến phương thức lao động từ thủ công lạc hậu tới tiên tiến hiện đại, tạo ra NSLĐ ngày càng cao, hay CNH là quá trình chuyển dịch cơ cấu công nghệ trong sản xuất, trình độ của nền công nghiệp không cố định mà luôn được nâng cao, được HĐH theo sự phát triển của thời đại. CNH diễn ra ở các nước khác nhau, thời điểm lịch sử khác nhau, điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, do đó mục đích và phương thức tiến hành cũng khác nhau. Rất ít các quốc gia phát triển kinh tế thành công mà không thực hiện CNH.

Thông qua CNH, các nguồn lực được phân bổ nhiều hơn cho khu vực công nghiệp, khu vực mà NSLĐ được nâng cao nhanh chóng, nhờ đó, nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế. Khi nền kinh tế bước sang những giai đoạn phát triển cao hơn, trong ngành công nghiệp, tỷ trọng các ngành thâm dụng vốn ngày càng lớn và gia tăng với tốc độ nhanh, tỷ trọng các ngành sản xuất thâm dụng lao động sẽ giảm dần; trong ngành dịch vụ, các ngành dịch vụ chất lượng cao như: tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, luật, giáo dục, y tế, du lịch sẽ có tốc độ tăng nhanh và chiếm tỷ trọng cao. Xét trên góc độ thương mại, thế giới đã chứng kiến hai mô hình CNH: công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu và công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu. Công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu Công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu là đường lối CNH mà theo đó quốc gia tiến hành CNH nỗ lực thành lập và nuôi dưỡng các ngành công nghiệp trong nước để sản xuất ra các sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu.

Đây là một chiến lược hướng nội mà theo chiến lược này, quốc gia nên sản xuất hàng trong nước thay vì nhập khẩu, nghĩa là các ngành sản xuất hàng hóa trong nước sẽ phát triển, và sau đó có thể cạnh tranh được trên thị trường thế giới trong tương lai khi đạt được tính kinh tế theo quy mô. Chiến lược này đòi hỏi chính phủ cần áp dụng các chính sách thực hiện lựa chọn các hàng hóa sản xuất ở trong nước, thường là các hàng hóa được sản xuất dựa vào tay nghề thấp, thâm dụng lao động như dệt may, giày dép. Các biện pháp bảo hộ những ngành công nghiệp trong nước thường là dựng lên các hàng rào 11 mậu dịch chống lại hàng nhập khẩu và các khoản trợ cấp để khuyến khích các ngành công nghiệp trong nước [15, tr 267 – 272].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam giai đoạn 1989 - 2014" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế của Việt Nam trong khoảng thời gian quan trọng này. Nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch, từ chính sách kinh tế đến các biến động xã hội, và chỉ ra những thành tựu cũng như thách thức mà đất nước đã phải đối mặt. Đặc biệt, tài liệu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về bối cảnh kinh tế Việt Nam mà còn cung cấp những bài học quý giá cho các quốc gia đang trong quá trình phát triển.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ đông phương học chính sách kinh tế mới phiên bản hàn quốc bài học kinh nghiệm cho việt nam, nơi phân tích các chính sách kinh tế thành công của Hàn Quốc và những bài học có thể áp dụng cho Việt Nam. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện thoại sơn an giang sẽ cung cấp cái nhìn cụ thể hơn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở cấp địa phương. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận văn qúa trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đảng ở huyện thuận thành bắc ninh từ năm 1996 đến năm 2010, để thấy rõ hơn về tác động của chính sách lãnh đạo đến sự chuyển dịch kinh tế trong một giai đoạn cụ thể. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề kinh tế hiện nay.