Chương I: Tiếp xúc ngôn ngữ và quá trình hình thành lớp từ Hán Việt —_ Chương 2: Nhóm từ Hán Việt chỉ người và nhóm từ tương đương trong tiếng Hán hiện đại. — Chương 3: Hiện tượng chuyên di ngôn ngữ khi học tiếng Hán hiện đại (qua cứ liệu một số từ Hán Việt chỉ người). Ngoài 108 trang chính văn, luận văn còn có 63 trang phụ lục, gồm: ~ Bảng phụ lục 1: Danh sách rừ Hán Việt chỉ người và từ tương đương trong tiếng Hán hiện đại (A và B giống nhau về yếu tố cấu tạo và trật tự cầu fqo); ~ Bảng phụ lục 2: Danh sách rừ Hán Việt chỉ người và từ tương đương trong tiếng Hán hiện đại (A và B không giống nhau hoàn toàn về yếu tỐ cấu tạo và trật tự cấu tạo); — Bảng phụ lục 3: Danh sách yếu tố đơn tiết Hán Liệt chỉ người và chữ Hán có âm Hán Việt tương ứng trong tiếng Hán hiện đại; — Bang phu lục 4: Danh sách yếu tổ đa tiết Hán Việt chỉ người và chữ Hán có âm Hán Việt tương ứng trong tiếng Hán hiện đại — Phụ lục 5: Các mẫu phiếu khảo sái. Chuong 1: TIẾP XÚC NGON NGỮ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH LỚP TỪ HÁN VIỆT 1.
Tiếp xúc ngôn ngữ (language contact) vé tiếp xúc ngôn ngữ Từ điển Ngôn ngữ học so sánh và lịch sử (The dictionary of historical and comparative linguistics) dinh nghĩa: “Bắt kì sự thay đổi nào trong ngôn ngữ do ảnh hưởng của ngôn ngữ cộng đông sống ở. gân người nói mà người nói có khả năng sử dụng và trong việc chuyển các đặc điểm và thuộc tính từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Ảnh hưởng của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ có thê từ mức rất nhỏ đến rất lớn và có thể trên bình diện từ vựng, ngữ âm, hình vị, cú pháp hay bắt kì bình diện nào. Loại tiếp xúc đơn giản nhất là hiện tượng vay mượn.
Tuy nhiên có thể có những loại tiếp xúc mạnh hơn nhiều như hiện tượng “chuyển vị" cấu trúc và ngữ nghĩa (metaiypy), việc hình thành ngôn ngữ phi cội nguồn (non-genetic language) và sự biến đổi ngôn ngữ. IWeinreich (1953) cho rằng thuật ngữ này chỉ nên dùng để nói về những trường hợp song ngữ rõ nét. ” (Any change in language resulting from the influence of a neighbouring language of which the speakers of the first have some knowledge; the passage of linguistic objects or features from one language into another. The effects of contact may range from the trivial to the overwhelming, and may involve vocabulary, phonology, morphology, syntax or just about anything else.
The simplest type of contact is borowing, but far more radical types are possible, including (for example) metatypy, the creation of non-genetic language and (the ultimate) language shift. Weinreich (1953) proposes that this term should be restricted to cases involving substantial bilingualism.183] Từ điển giải thích Thuật ngữ Ngôn ngữ học (Nguyễn Như Ý chủ biên), định nghĩa tiếp xúc ngôn ngữ là: “Sự rác động qua lại giữa hai hoặc nhiều ngôn ngữ ảnh hưởng đến cấu trúc và vốn từ vựng của một hay nhiều ngôn ngữ có quan hệ đó. Điều kiện xã hội của sự tiếp xúc ngôn ngữ là sự cân thiết phải trao đổi giao tiếp giữa các cộng đồng người thuộc các nhóm ngôn ngữ khác nhau do nhu cầu về kinh tế, chính trị và những nguyên nhân khác. Tiếp xúc ngôn ngữ xảy ra nhờ việc thường xuyên lặp lại các cuộc đối thoại, thường xuyên có nhụ cầu giao tiếp, trao đổi thông tin giữa những người nói hai ngôn ngữ khác nhau có khả năng sử dụng đồng thời cả hai ngôn ngữ, hoặc từng người sử dụng riêng rẽ một trong.
hai ngôn ngữ đó. Do đó có khá năng người nói có thê nắm vững đồng thời cả hai ngôn ngữ. tức là có thể nói bằng ngôn ngữ này hoặc ngôn ngữ kia, hoặc người nói chỉ hiểu một cách thụ động ngôn ngữ xa lạ, không phải tiếng mẹ đẻ của mình. Theo Phan Ngọc, trong sự giao tiếp giữa tộc người A với tộc người B, khi tộc người A bắt gặp những đồ v: it, những sự vật, mà nó không có tên gọi, và nó cũng chưa tìm được cách dịch sang ngôn ngữ của mình (đó chính là những ô trống ngôn ngữ), tắt yếu nó sẽ gọi bằng những từ để chỉ đồ vật, sự vật này của tộc người B đã đem lại cho họ.
Khi nói đến tiếp xúc ngôn ngữ là nói đến những thay đổi rất sâu sắc diễn ra ngay trong cấu trúc của A do B đưa. đến, hay nói cách khác đi, nếu trong quá trình phát triển lịch sử, A không tiếp xúc với B thì tự nó không có cái diện mạo ngày nay, hay muốn có phải chờ đợi một thời gian lâu dài hơn rất nhiều, và kết quả cũng không thê hệt như ngày nay được.9-10] Trong bài viết “Ứng xứ ngôn ngữ của người Liệt đối với các yếu tố gốc Hán” đăng trong Tập san khoa học Trường ĐHKHXH&NV (ĐHQG TP. Hồ Chí Minh), số 38 (2007), trang 3-10, Bùi Khánh Thế đã trích dẫn hai khái niệm về tiếp xúc ngôn ngữ: ® Tiếp xúc ngôn ngữ là “sự tiếp giao nhau giữa các ngôn ngữ do những hoàn cảnh cận kẻ nhau về mặt dia li, tương liên về mặt lịch sử xã hội dẫn đến nhu cầu của các cộng đồng người vốn có những thứ tiếng khác nhau phải giao tiếp với nhau” (O. ® Tiếp xúc ngôn ngữ còn được hiểu là “sự rác động qua lại giữa hai hoặc nhiễu ngôn ngữ tạo nên ảnh hưởng đối với cấu trúc và vốn từ của một hay nhiều ngôn ngữ.
Những điều kiện xã hội của sự Tiếp xúc ngôn ngữ được quy định bởi nhu cầu cẩn thiết phải giao tiếp lẫn nhau giữa những thành viên thuộc các nhóm dân tộc và ngôn ngữ do những như cầu về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội v. Những định nghĩa về tiếp xúc ngôn ngữ nêu trên tuy có phần khác nhau, nhưng vẫn có một điểm chung. Đó là đều đề cập đến sự ảnh hưởng qua lại giữa các hệ thống ngôn ngữ với nhau. Tính tắt yếu của sự tiếp xúc ngôn ngữ.
Ngôn ngữ là hiện tượng xã hội đặc biệt. Nó thể hiện ở chỗ: ® Ngôn ngữ phục vụ xã hội với tư cách là phương tiện giao tiếp giữa mọi người, phương tiện trao đổi ý kiến trong xã hội, phương tiện giúp cho người ta hiểu biết lẫn nhau, cùng nhau tô chức công tác chung trên mọi lĩnh vực hoạt động của con người. ® Ngôn ngữ thể hiện ý thức xã hội, làm phương tiên giao tiếp giữa mọi người. ® Ngôn ngữ có khả năng hình thành văn hóa và là một bộ phận cấu thành quan trọng của văn hóa; khả năng giao tiếp của con người tùy thuộc vào kiến thức ngôn ngữ, kĩ năng giao tiếp và kiến thức văn hóa.
® Sự tồn tại và phát triển của ngôn ngữ gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội.232] Từ đó, có thê nói rằng không có một cộng đồng người nào trên trái đắt lại sống biệt lập mà không tiếp xúc, giao lưu với những cộng đồng người khác. Khoảng cách địa lý hay tiếp xúc về thương mại, văn hóa, tôn giáo, quân sự,. là những điều kiện dẫn đến tiếp xúc ngôn ngữ giữa các cộng đồng ngôn ngữ với nhau. Khi tiếp xúc trong một khoảng thời gian dài, các ngôn ngữ có xu hướng ảnh hưởng, vay mượn lẫn nhau, làm xuất hiện những nét tương đồng.
Có những ảnh hưởng nhát thời, chỉ biểu hiện trong một thời gian nhất định, với một nhóm người hạn chế, rồi sau đó không còn lại nữa, không nhập vào ngôn ngữ của dân tộc đó. Nhưng lại có những ảnh hưởng lâu dài, phổ biến, mở rộng đến toàn bộ tộc người, sau đó được nhập vào ngôn ngữ của dân tộc đó và tồn tại hàng ngàn năm sau khi sự tiếp xúc thực tế không còn nữa. Mỗi ngôn ngữ đều trải qua những giai đoạn quá độ như vậy trong sự giao tiếp về mặt tiếp xúc ngôn ngữ. Cũng như tiếng Việt, giai đoạn giao tiếp ngữ pháp của tiếng 'Việt là từ 1945 đến 1960, nhưng trên thực tế nó đã bắt đầu từ thế ki XVII trong các tài liệu công giáo.
Các ngôn ngữ không tồn tại một cách biệt lập, riêng lẻ mà ngược lại chúng có sự tiếp xúc và tác động qua lại với nhau. Có một số ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp thuộc phạm vi một quốc gia, mà nó còn được phô biến ở nhiều quốc gia khác và có sức lan tỏa rộng trên thế giới. Điên hình như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Hán,. Ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới không chỉ sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình mà còn sử dụng ngôn ngữ của các nước khác như là một ngôn ngữ thứ hai, thứ ba,.
để phục vụ cho mục đích giao tiếp, giao lưu văn hóa, kinh tế, chính trị,. Nguyên nhân đầu tiên dẫn đến tình trạng tiếp xúc ngôn ngữ là do một số cộng đồng tộc người sống gần nhau, tồn tại cạnh nhau hàng ngàn năm nhất định dẫn tới những quan hệ kinh tế, văn hóa, chính trị,. và tất cả các quan hệ này đều tác động đến ngôn ngữ. Trong quá trình phát triển lịch sử một tộc người không ở nguyên một chỗ mà có sự di cư.
Có những tộc người di chuyên tới một địa bàn mới, và đều đề lại dấu vết trong ngôn ngữ. Hiện tượng người Chứt, Poọng ở Trường Sơn nói một tiếng Việt cỗ hơn rất nhiều so với các phương ngôn Mường mà ta được biết, khiến ta liên tưởng tới những giai đoạn song ngữ xa xưa đã xảy ra từ thời tiền sử. Do chiến tranh chỉnh phục và bị chỉnh phục, tiếng Hán chịu ảnh hưởng của những dân tộc du mục đã xâm phạm địa bàn Trung Quốc, đồng thời nó lại tràn xuống miền bắc Bách Việt ở Nam Trường Giang và có ảnh hưởng đến tiếng Việt trong mười thế kỉ Bắc thuộc. Bên cạnh đó, còn có hiện tượng song ngữ do nhu cầu văn hóa.
Chính vào sự tiếp xúc ngôn ngữ không bị ràng buộc bởi yêu cầu chính trị theo quan hệ chỉnh phục và bị chỉnh phục, nó lại đi sâu vào ngôn ngữ. Sự vay mượn lúc này đóng vai trò một nhu cầu nội tại của chính ngôn ngữ đi vay, không phải là một sự cường ép. Người Việt vay mượn văn hóa Trung Quốc chủ yếu không phải ở giai đoạn Bắc thuộc mà ở giai đoạn độc lập.