Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ y học với đề tài "Nghiên cứu chức năng thất trái bằng phương pháp siêu âm đánh dấu mô cơ tim ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Đình Chúc, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Thái Giang và PGS. Phạm Nguyên Sơn tại Viện Nghiên cứu Khoa học Y Dược lâm sàng 108, Hà Nội (năm 2021), thuộc chuyên ngành Nội tim mạch (Mã số: 62.41).
Bệnh thận mạn tính (BTMT) là một bệnh lý có tỷ lệ mắc cao và kèm theo nhiều biến chứng phức tạp, trong đó các biến chứng tim mạch chiếm vị trí hàng đầu về tỷ lệ mắc cũng như nguyên nhân gây tử vong. Tổn thương cơ tim ở bệnh nhân BTMT thường xuất hiện từ rất sớm, ngay cả ở các giai đoạn 1 và 2 khi mức lọc cầu thận chưa giảm sút nghiêm trọng hoặc chưa có biểu hiện suy tim trên lâm sàng. Sự suy giảm chức năng thất trái (bao gồm cả chức năng tâm thu và tâm trương) là hậu quả của quá trình phì đại tế bào cơ tim, xơ hóa khoảng kẽ, dày thành động mạch, quá tải thể tích và áp lực, cùng các rối loạn chuyển hóa nội môi.
Trên thực hành lâm sàng thông thường, các phương pháp siêu âm tim kinh điển như siêu âm M-mode, siêu âm 2D tính phân số tống máu (EF) theo phương pháp Simpson hoặc Doppler quy ước bộc lộ hạn chế lớn: không đủ độ nhạy để phát hiện các tổn thương cơ tim ở giai đoạn tiền lâm sàng khi phân số tống máu thất trái còn bảo tồn (EF bình thường). Siêu âm đánh dấu mô cơ tim (Speckle-tracking echocardiography - STE) là một kỹ thuật hình ảnh không xâm lấn, cho phép theo dõi các điểm ảnh tự nhiên của cơ tim trong chu chuyển tim để định lượng độ biến dạng, tốc độ biến dạng theo các không gian ba chiều (chiều dọc, chiều chu vi, chiều xuyên tâm) cũng như các thông số động học xoay, xoắn và tháo xoắn của thất trái một cách độc lập với góc của chùm tia siêu âm. Trong khi kỹ thuật này đã được nghiên cứu trên thế giới, tại Việt Nam trước thời điểm luận án chưa có công trình nào áp dụng siêu âm đánh dấu mô cơ tim trên bệnh nhân bệnh thận mạn tính.
Luận án được thiết kế nhằm giải quyết 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các chỉ số siêu âm đánh dấu mô cơ tim ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính có phân suất tống máu thất trái bình thường.
- Tìm hiểu mối liên quan giữa các chỉ số siêu âm đánh dấu mô cơ tim với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính có phân suất tống máu thất trái bình thường.
Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân được chẩn đoán bệnh thận mạn tính có phân số tống máu thất trái bình thường được thu thập số liệu và theo dõi tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 và Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ (Trung tâm Thận lọc máu), đối chiếu với nhóm người khỏe mạnh làm nhóm chứng.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các nền tảng lý thuyết và thực nghiệm về biến chứng tim mạch ở bệnh nhân BTMT, đồng thời điểm luận các phương pháp đánh giá hình ảnh cơ tim.
Về dịch tễ học và gánh nặng biến chứng tim mạch ở bệnh nhân BTMT, luận án điểm lại các công trình quốc tế tiêu biểu:
- Nghiên cứu của Rahman M. và cộng sự (2003–2008) tại Hoa Kỳ ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh tim mạch ở bệnh nhân BTMT là 33,4%.
- Tại Anh, tỷ lệ mắc bệnh tim mạch ở người BTMT là 19,9%, tăng vọt lên 50,7% ở nhóm có mức lọc cầu thận (MLCT) < 30 ml/phút/1,73 m².
- Các nghiên cứu tại các quốc gia khác ghi nhận tỷ lệ biến chứng tim mạch ở bệnh nhân BTMT: Tây Ban Nha giai đoạn 3–4 là 39,1% và giai đoạn cuối (GĐC) lọc máu là 52,8% (theo thống kê của tác giả được trích dẫn), Nhật Bản là 26,8%, Hàn Quốc là 14,4%, Thái Lan là 10,5%, và Trung Quốc là 9,8%.
- Tác giả Đặng Thị Việt Hà và cộng sự tại Việt Nam nghiên cứu trên 203 bệnh nhân BTMT giai đoạn 3–5 ghi nhận tỷ lệ phì đại thất trái (PĐTT) chiếm 64,5%.
- Paoletti E. và cộng sự chứng minh chỉ số khối lượng cơ thất trái (LVMI) tăng mỗi 10 g/m² làm tăng nguy cơ tiến triển đến lọc máu hoặc tử vong lên 1,28 lần ở BTMT giai đoạn 3 và 1,19 lần ở giai đoạn 4 (p < 0,0001).
- Tsioufis C. và cộng sự (theo dõi 6.163 nam giới) chỉ ra rằng khi LVMI tăng 42 g/m² thì tỷ lệ bệnh nhân có creatinin máu tăng gấp đôi tăng 45,7%, MLCT < 30 ml/phút/1,73 m² tăng 51,9% và tỷ lệ lọc máu tăng 58,3% (p < 0,0001).
- Mostovaya I. M. và cộng sự kết luận khối lượng cơ thất trái tăng làm tăng nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân (HR = 1,73; 95% CI: 1,11–2,99) và tử vong do tim mạch (HR = 3,66; 95% CI: 1,35–10,05).
- Các tác giả Nitta và cộng sự (2019) xác định các yếu tố nguy cơ làm tăng tỷ lệ PĐTT gồm tiền sử bệnh tim mạch, huyết áp tâm thu, BMI, nồng độ canxi huyết thanh, albumin niệu và cholesterol toàn phần.
- Cho I. và cộng sự nghiên cứu 651 bệnh nhân BTMT giai đoạn sớm cho thấy tỷ lệ bệnh động mạch vành là 38,2%; Kottgen A. và cộng sự chỉ ra nguy cơ suy tim tăng gấp 3 lần ở người có MLCT < 60 ml/phút/1,73 m² so với người có MLCT > 90 ml/phút/1,73 m² (nguy cơ tương đối 1,94; 95% CI: 1,49–2,53).
Về các nghiên cứu ứng dụng siêu âm đánh dấu mô cơ tim trên thế giới và trong nước:
- Unger I. D. và cộng sự (2016) trên 299 bệnh nhân (48% có BTMT) có phân số tống máu bảo tồn, chứng minh giảm MLCT có mối liên quan hai chiều với suy giảm chức năng biến dạng dọc thất trái trên STE.
- Sulemane S. và cộng sự (2016) khảo sát 106 bệnh nhân BTMT từ giai đoạn 1 đến 5 có phân số tống máu bảo tồn, phát hiện góc xoắn thất trái tăng dần theo mức độ nặng của giai đoạn bệnh thận (p < 0,001).
- Jahn L. và cộng sự khảo sát 285 bệnh nhân BTMT (193 bệnh nhân giai đoạn 3, 92 bệnh nhân giai đoạn 4) so với 34 người chứng, chỉ ra sự suy giảm tốc độ biến dạng tâm trương sớm và muộn theo các hướng ở nhóm bệnh nhân so với nhóm chứng (p < 0,05).
- Sung J. M. và cộng sự (2014) theo dõi 88 bệnh nhân thận nhân tạo chu kỳ có EF ≥ 50%, nhận thấy GLS tương quan thuận với nồng độ Troponin T huyết tương (r = 0,44, p < 0,001) và chỉ số GLS ≥ -15% là yếu tố độc lập tiên lượng tử vong sau 31 tháng theo dõi (p < 0,001).
- Tamulenaite E. và cộng sự (2018) nghiên cứu 38 bệnh nhân lọc máu chu kỳ có EF bảo tồn so với 32 người chứng, ghi nhận GLS thất trái nhóm bệnh giảm có ý nghĩa (-22,96% so với -25,45%, p < 0,001) và GLS thất phải giảm (-24,65% so với -25,07%, p < 0,001).
- Yip A. và cộng sự (2018) so sánh 26 bệnh nhân BTMT lọc máu với 26 người khỏe mạnh, ghi nhận xoay đỉnh (AR) ở nhóm bệnh là 4,8° so với 6,3° ở nhóm chứng (p < 0,05), xoay đáy (BR) là -3,4° so với -3,3°, và góc xoắn (Twist) là 8,2° so với 9,6°.
- Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Đỗ Doãn Lợi (2002) trên 246 bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn IV (PĐTT chiếm 85,3% ở nhóm chưa lọc máu và 88,8% ở nhóm lọc máu) và Nguyễn Thị Hương (2015) trên 227 bệnh nhân lọc màng bụng (PĐTT 79,9%, rối loạn chức năng tâm thu 23,3%, rối loạn chức năng tâm trương 39,5%) đều sử dụng siêu âm Doppler thường quy.
Vị trí của luận án: Luận án là công trình chuyên sâu tại Việt Nam áp dụng kỹ thuật siêu âm đánh dấu mô cơ tim 2D nhằm khảo sát toàn diện từ biến dạng cơ tim đa chiều (dọc, chu vi, xuyên tâm) đến cơ học xoay, xoắn và tháo xoắn ở bệnh nhân BTMT ở các giai đoạn khác nhau có phân số tống máu bảo tồn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng
Luận án áp dụng các tiêu chuẩn phân loại quốc tế về bệnh thận mạn tính và các nguyên lý sinh lý học - hình ảnh học cơ tim:
- Định nghĩa và phân loại BTMT theo NKF/KDOQI (2002) và KDIGO (2012): Xác định BTMT khi có tổn thương thận kéo dài ≥ 3 tháng hoặc MLCT < 60 ml/phút/1,73 m² kéo dài ≥ 3 tháng. Các công thức ước tính mức lọc cầu thận được điểm lại gồm MDRD, CKD-EPI và Cockcroft-Gault.
- Nguyên lý siêu âm đánh dấu mô: Dựa trên sự tương tác không đồng nhất giữa chùm siêu âm và vi cấu trúc cơ tim tạo ra các đốm sáng tối (hạt nhân / speckles, gồm 20–40 điểm ảnh) hiển thị trên thang xám B-mode. Thuật toán phần mềm theo dõi sự dịch chuyển hình học của các hạt nhân này qua chu chuyển tim mà không phụ thuộc vào góc chùm tia.
- Các chỉ số biến dạng và động học cơ tim:
- Độ biến dạng (Strain, $\varepsilon = \frac{L - L_0}{L_0} \times 100%$): Biến dạng rút ngắn/mỏng đi có giá trị âm, biến dạng kéo dài/dày lên mang giá trị dương.
- Tốc độ biến dạng (Strain Rate, $\varepsilon'$ đơn vị $s^{-1}$): Phản ánh tốc độ diễn ra biến dạng, ít chịu ảnh hưởng của điều kiện tải hơn độ biến dạng.
- Hướng biến dạng: Chiều dọc (Longitudinal - GLS), chiều chu vi (Circumferential - GCS), chiều xuyên tâm (Radial - GRS).
- Các thông số tâm trương: Tốc độ biến dạng tâm trương sớm (GLSR-e, GCSR-e, GRSR-e) và tâm trương muộn (GLSR-a, GCSR-a, GRSR-a).
- Động học xoay, xoắn và tháo xoắn: Xoay đáy (Basal rotation - chiều kim đồng hồ, giá trị âm), Xoay mỏm (Apical rotation - ngược chiều kim đồng hồ, giá trị dương), Góc xoắn thất trái (LV Twist = Xoay mỏm - Xoay đáy), Góc xoắn chuẩn hóa theo chiều dài thất trái (LV Torsion, đơn vị °/cm), Tốc độ tháo xoắn tối đa (Untwist rate - UTR), Thời gian đạt góc xoắn tối đa (TTP-T), Thời gian đạt tốc độ tháo xoắn tối đa (TTPU).
- Các chỉ số tổng hợp chức năng cơ tim: Chỉ số chức năng cơ tim tâm thu (Myocardial Systolic Performance - MSP) và Chỉ số chức năng cơ tim tâm trương (Myocardial Diastolic Performance - MDP).
Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích và so sánh đối chứng.
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân được chẩn đoán BTMT theo tiêu chuẩn KDIGO/KDOQI, có phân số tống máu thất trái bảo tồn (EF ≥ 50%), đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân có chất lượng hình ảnh siêu âm kém không đủ điều kiện phân tích phần mềm đánh dấu mô, loạn nhịp tim nặng (như rung nhĩ), bệnh van tim thực thể nặng, bệnh cơ tim nguyên phát hoặc thứ phát do nguyên nhân khác, bệnh tim bẩm sinh.
- Quy trình kỹ thuật:
- Ghi hình ảnh siêu âm 2D tiêu chuẩn ở các mặt cắt từ mỏm (4 buồng, 2 buồng, trục dọc) và các mặt cắt trục ngắn (ngang van hai lá - đáy, ngang cơ nhú, ngang mỏm tim) với tốc độ khung hình phù hợp (> 40–100 hình/giây), lưu trữ dữ liệu dưới định dạng DICOM.
- Xử lý hình ảnh ngoại tuyến bằng phần mềm chuyên dụng để tự động dò vết nội tâm mạc, phân chia các phân đoạn thất trái, xuất bản đồ mắt bò (Bull's eye) và các đường cong biến dạng, tốc độ biến dạng, góc xoay, xoắn.
- Đo đạc các thông số siêu âm Doppler chuẩn: tỷ lệ E/A, E/e', s' vòng van hai lá, chỉ số khối cơ thất trái (LVMI), áp lực động mạch phổi (ALĐMP).
- Thu thập dữ liệu lâm sàng và sinh hóa: Ghi nhận huyết áp, chỉ số khối cơ thể (BMI), tiền sử đái tháo đường, thiếu máu, định lượng creatinin, ure, lipid máu, albumin niệu, NT-proBNP.
- Xử lý số liệu: Sử dụng các thuật toán thống kê y học; so sánh các biến số liên tục bằng kiểm định Student's t-test hoặc ANOVA; so sánh biến định tính bằng kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$); phân tích tương quan Pearson/Spearman; phân tích đường cong ROC xác định giá trị dự báo; phân tích hồi quy logistic đa biến nhằm xác định các yếu tố nguy cơ độc lập liên quan đến giảm chức năng thất trái (giảm MSP, giảm MDP). Khống chế sai số bằng việc đánh giá độ lặp lại trong một người đo và giữa các người đo khác nhau.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này cung cấp hệ thống cơ sở lý luận về bệnh thận mạn tính và cơ chế bệnh sinh các biến chứng tim mạch:
- Khái niệm, tiêu chuẩn chẩn đoán, phân chia 5 giai đoạn BTMT theo KDOQI (2002) và KDIGO (2012), nhấn mạnh vai trò của MLCT và albumin niệu.
- Phân tích cơ chế bệnh sinh tổn thương tim mạch theo sơ đồ đa yếu tố: các yếu tố huyết động (quá tải thể tích, tăng huyết áp, cứng động mạch, thiếu máu, cầu nối động tĩnh mạch) và các yếu tố không huyết động (rối loạn chuyển hóa canxi - phospho, tăng FGF-23, tăng Endothelin-1, độc tố ure huyết cao, tình trạng viêm mạn tính và xơ hóa cơ tim).
- Mô tả chi tiết các biểu hiện bệnh lý tim mạch ở bệnh nhân BTMT: phì đại thất trái (PĐTT đồng tâm và lệch tâm), bệnh động mạch vành không triệu chứng do xơ vữa và canxi hóa nội trung mạc, bệnh van tim (vôi hóa van động mạch chủ và van hai lá), suy tim bảo tồn/giảm, rối loạn nhịp tim (đặc biệt là rung nhĩ), viêm màng ngoài tim do tăng ure huyết và do lọc máu.
- Phân tích ưu nhược điểm của các phương pháp siêu âm tim kinh điển (M-mode, 2D Simpson, Doppler xung, Doppler liên tục, Doppler mô - TDI, siêu âm 3D, siêu âm cản âm) trong việc đánh giá chức năng tâm thu (EF, FS, dP/dt, chỉ số Tei) và chức năng tâm trương (E/A, E/e', dòng tĩnh mạch phổi).
- Trình bày chi tiết nguyên lý, kỹ thuật đo, giá trị bình thường và các yếu tố ảnh hưởng của siêu âm đánh dấu mô cơ tim 2D trong việc xác định các thành phần biến dạng (GLS, GCS, GRS), tốc độ biến dạng tâm trương sớm/muộn, động học xoay (Basal-R, Apical-R), xoắn (Twist, Torsion) và tháo xoắn (Untwisting).
- Tổng hợp các công trình nghiên cứu sử dụng STE trên bệnh nhân BTMT trên thế giới và tại Việt Nam.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp triển khai nghiên cứu:
- Trình bày tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ đối tượng nghiên cứu cho nhóm bệnh nhân BTMT có phân số tống máu bảo tồn và nhóm người khỏe mạnh làm chứng.
- Trình bày địa điểm nghiên cứu (Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 và Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ), thời gian nghiên cứu và quy trình thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có đối chứng.
- Quy chuẩn hóa quy trình siêu âm tim 2D và siêu âm đánh dấu mô cơ tim theo khuyến cáo của Hội Siêu âm tim Hoa Kỳ/Châu Âu (ASE/EACVI).
- Xác lập các tiêu chuẩn chẩn đoán sử dụng trong nghiên cứu: phân độ giai đoạn BTMT, phân loại mức độ thiếu máu, phân loại BMI cho người trưởng thành, tiêu chuẩn rối loạn lipid máu, tiêu chuẩn phì đại và các kiểu hình tái cấu trúc thất trái (dựa trên LVMI và độ dày thành tương đối RWT), các giá trị ngưỡng bất thường của thông số sinh hóa và chỉ số biến dạng cơ tim.
- Mô tả các kỹ thuật kiểm soát sai số kỹ thuật, phương pháp phân tích thống kê (t-test, ANOVA, tương quan, hồi quy đa biến logistic, phân tích đường cong ROC) và cam kết đạo đức nghiên cứu y sinh học.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Nội dung chương 3 trình bày các số liệu và phân tích định lượng thu được từ đề tài thông qua hệ thống bảng biểu:
- Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu: Phân bố tuổi, giới tính, chỉ số BMI, huyết áp, tỷ lệ đái tháo đường, phân bố theo các giai đoạn BTMT (từ giai đoạn 1 đến giai đoạn cuối lọc máu), mức độ thiếu máu và các thông số sinh hóa máu (Ure, Creatinin, MLCT, lipid máu, NT-proBNP).
- Đặc điểm siêu âm tim quy ước: Đánh giá các chỉ số chức năng tâm thu (EF, FS), chức năng tâm trương quy ước (E/A, DT, IVRT, e', a', E/e'), áp lực động mạch phổi và các kiểu hình phì đại thất trái trên nhóm bệnh nhân BTMT.
- Đặc điểm siêu âm đánh dấu mô cơ tim:
- Xác lập giá trị tham chiếu bình thường và ngưỡng bất thường của các chỉ số biến dạng tâm thu (GLS, GCS, GRS, xoay đáy, xoay mỏm, góc xoắn Twist, LV-Tor) và tâm trương (GLSR-e, GLSR-a, GCSR-e, GCSR-a, GRSR-e, GRSR-a, UTR, TTPU, TTP-T) ở nhóm chứng.
- So sánh đối đầu giữa nhóm bệnh nhân BTMT và nhóm chứng: ghi nhận sự suy giảm có ý nghĩa thống kê của các chỉ số biến dạng dọc (GLS), chu vi (GCS), xuyên tâm (GRS) và các tốc độ biến dạng tâm trương ở nhóm bệnh nhân BTMT dù EF vẫn ở mức bình thường.
- Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân có suy giảm chức năng cơ tim tâm thu (thông qua giảm chỉ số MSP) và suy giảm chức năng cơ tim tâm trương (thông qua giảm chỉ số MDP).
- Mối liên quan giữa chỉ số STE với đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng:
- So sánh các chỉ số biến dạng tâm thu và tâm trương giữa các phân nhóm: có và không có đái tháo đường; có và không có tăng huyết áp; có và không có thiếu máu; giữa các giai đoạn bệnh thận mạn tính khác nhau.
- Phân tích tương quan: Mức lọc cầu thận (MLCT) có mối tương quan thuận có ý nghĩa với các chỉ số biến dạng; các chỉ số Ure, Creatinin, NT-proBNP và LVMI có tương quan nghịch với độ biến dạng cơ tim.
- Đánh giá sự biến đổi các chỉ số STE theo các kiểu hình thái tái cấu trúc thất trái (bình thường, tái cấu trúc đồng tâm, phì đại đồng tâm, phì đại lệch tâm) và theo mức độ tăng áp lực động mạch phổi.
- Phân tích diện tích dưới đường cong ROC của MLCT, Ure, Creatinin trong dự báo giảm chỉ số MSP.
- Mô hình hồi quy logistic đa biến xác định các biến số dự báo độc lập đối với tình trạng suy giảm chỉ số MSP, giảm MDP và suy giảm chức năng toàn bộ thất trái ở bệnh nhân BTMT.
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 tập trung phân tích, biện giải các phát hiện nghiên cứu và so sánh với y văn trong nước, quốc tế:
- Biện giải đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nhóm bệnh nhân nghiên cứu trong bối cảnh bệnh lý thận - tim mạch kết hợp.
- Phân tích cơ chế suy giảm sức căng dọc thất trái (GLS) xảy ra sớm nhất do các sợi cơ tim dưới nội tâm mạc chạy dọc rất nhạy cảm với tình trạng thiếu máu cục bộ vi mạch, xơ hóa và tăng hậu tải ở bệnh nhân BTMT.
- Thảo luận về sự thay đổi bù trừ hoặc suy giảm thứ phát của biến dạng chu vi (GCS) và biến dạng xuyên tâm (GRS) cũng như động học xoắn (LV Twist, Torsion) và tháo xoắn thất trái khi bệnh thận tiến triển nặng dần.
- Bàn luận sâu về mối quan hệ giữa suy giảm chức năng biến dạng cơ tim với sự hiện diện của bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp, thiếu máu mạn tính, mức độ tăng NT-proBNP và chỉ số khối lượng cơ thất trái (LVMI).
- Đánh giá giá trị của mô hình hồi quy đa biến trong việc nhận diện các yếu tố nguy cơ độc lập dẫn đến giảm chỉ số MSP và MDP, khẳng định vai trò vượt trội của siêu âm đánh dấu mô trong phát hiện tổn thương cơ tim tiền lâm sàng so với EF thông thường.
- Phân tích các hạn chế nội tại của đề tài.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn
- Về mặt khoa học: Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên tại Việt Nam áp dụng kỹ thuật siêu âm đánh dấu mô cơ tim 2D để đánh giá toàn diện chức năng cơ tim (bao gồm biến dạng 3 chiều, tốc độ biến dạng, động học xoay, xoắn và tháo xoắn) ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính có phân số tống máu thất trái bảo tồn (EF bình thường). Công trình cung cấp bằng chứng thực nghiệm rõ ràng về tình trạng tổn thương và suy giảm chức năng cơ tim tiềm tàng xuất hiện ngay từ các giai đoạn sớm của bệnh thận mạn tính trước khi có suy giảm EF trên siêu âm 2D kinh điển.
- Về mặt thực tiễn:
- Xác lập bộ giá trị tham chiếu và các ngưỡng cắt bất thường của các chỉ số siêu âm đánh dấu mô cơ tim (GLS, GCS, GRS, GLSR-e, GLSR-a, Twist, UTR, MSP, MDP) trên nhóm đối chứng người Việt Nam.
- Chứng minh mối liên quan chặt chẽ giữa mức độ suy giảm các chỉ số STE với sự suy giảm mức lọc cầu thận, mức độ tăng nồng độ NT-proBNP, chỉ số khối lượng cơ thất trái (LVMI) và tình trạng phì đại cơ tim.
- Xây dựng mô hình hồi quy logistic giúp các bác sĩ lâm sàng nhận diện sớm các yếu tố nguy cơ độc lập gây suy giảm chức năng cơ tim ở bệnh nhân BTMT.
Kiến nghị và đề xuất
- Đề xuất áp dụng kỹ thuật siêu âm đánh dấu mô cơ tim như một thăm dò cận lâm sàng thường quy để sàng lọc, phát hiện sớm rối loạn chức năng cơ tim tiền lâm sàng ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính, đặc biệt ở các giai đoạn 1, 2 và 3 khi EF còn bình thường.
- Kết hợp chặt chẽ việc theo dõi các chỉ số biến dạng cơ tim với các chỉ số sinh hóa (MLCT, NT-proBNP, albumin niệu) nhằm phân tầng nguy cơ tim mạch và có chiến lược can thiệp điều trị bảo vệ tim mạch - thận sớm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
Dựa trên nội dung mục "Hạn chế của đề tài" được nêu trong văn bản:
- Kỹ thuật siêu âm đánh dấu mô 2D phụ thuộc nhiều vào chất lượng hình ảnh siêu âm 2D cơ bản; một tỷ lệ phân đoạn cơ tim có thể không phân tích được nếu cửa sổ siêu âm của bệnh nhân kém hoặc có hiện tượng các điểm đánh dấu di chuyển ra ngoài mặt phẳng cắt trong chu chuyển tim.
- Giá trị độ biến dạng cơ tim có sự khác biệt nhất định giữa các phần mềm phân tích của các nhà sản xuất máy siêu âm khác nhau, do đó việc ngoại suy kết quả cần được chuẩn hóa theo từng hệ thống phần mềm.
- Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả chủ yếu khảo sát tại một thời điểm, chưa theo dõi dọc dài hạn biến cố tim mạch và tử vong ở tất cả các phân nhóm sau can thiệp điều trị.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng các nghiên cứu theo dõi dọc thuần tập tiến cứu dài hạn để đánh giá giá trị tiên lượng biến cố tim mạch gộp và tỷ lệ tử vong của các chỉ số GLS, Twist, MSP, MDP ở bệnh nhân BTMT.
- Ứng dụng kỹ thuật siêu âm đánh dấu mô 3 chiều (3D speckle-tracking) nhằm khắc phục hiện tượng mất dấu do di chuyển ngoài mặt phẳng cắt và khảo sát đồng thời toàn bộ khối cơ tim thất trái.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực đối với nhiều đối tượng trong lĩnh vực y học:
- Bác sĩ chuyên khoa Nội tim mạch và Thận học: Cung cấp kiến thức chuyên sâu về cơ chế bệnh sinh tổn thương cơ tim ở bệnh nhân BTMT và các bằng chứng thực tiễn về sự biến đổi các chỉ số biến dạng cơ tim, hỗ trợ phân tầng nguy cơ tim mạch sớm.
- Bác sĩ Chẩn đoán hình ảnh và Thăm dò chức năng tim mạch: Là tài liệu hướng dẫn kỹ thuật chi tiết về quy trình thu hình ảnh, các mặt cắt chuẩn, kỹ thuật xử lý phần mềm đánh dấu mô (theo dõi chuyển động hạt nhân, phân tích đường cong biến dạng, xoay, xoắn, tính toán MSP, MDP) và các tiêu chuẩn kiểm soát sai số.
- Nghiên cứu sinh, học viên sau đại học và giảng viên y khoa: Tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu lâm sàng kết hợp cận lâm sàng chuyên sâu, phương pháp phân tích thống kê đa biến và xử lý số liệu hình ảnh tim mạch.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao cần sử dụng siêu âm đánh dấu mô cơ tim ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính có phân số tống máu bình thường?
Phân số tống máu thất trái (EF) đo bằng phương pháp M-mode hoặc 2D Simpson chỉ phản ánh sự thay đổi thể tích buồng tim toàn bộ mà không đủ độ nhạy để phát hiện các rối loạn co bóp cơ tim cục bộ hoặc tổn thương sợi cơ tim ở giai đoạn sớm. Ở bệnh nhân BTMT, quá trình phì đại và xơ hóa cơ tim diễn ra âm thầm làm suy giảm sức căng của các lớp sợi cơ tim (đặc biệt là lớp sợi dọc dưới nội tâm mạc) ngay từ giai đoạn tiền lâm sàng khi EF vẫn ≥ 50%. Siêu âm đánh dấu mô (STE) cho phép định lượng trực tiếp mức độ biến dạng sợi cơ, giúp phát hiện sớm các rối loạn chức năng tâm thu và tâm trương tiềm tàng này.
2. Các chỉ số biến dạng cơ tim chính được đánh giá trong luận án là gì?
Luận án đánh giá các nhóm chỉ số biến dạng chính:
- Biến dạng tâm thu: Biến dạng dọc toàn bộ (GLS), biến dạng chu vi toàn bộ (GCS), biến dạng xuyên tâm toàn bộ (GRS).
- Tốc độ biến dạng tâm trương: Tốc độ biến dạng tâm trương sớm (GLSR-e, GCSR-e, GRSR-e) và tâm trương muộn (GLSR-a, GCSR-a, GRSR-a).
- Chỉ số chức năng tổng hợp: Chỉ số chức năng cơ tim tâm thu (MSP) và chỉ số chức năng cơ tim tâm trương (MDP).
3. Động học xoay, xoắn và tháo xoắn của thất trái được xác định như thế nào và có ý nghĩa gì?
Xoắn thất trái (LV Twist) được tạo thành do sự khác biệt chuyển động xoay ngược chiều kim đồng hồ ở mỏm tim (Apical rotation) và xoay theo chiều kim đồng hồ ở đáy tim (Basal rotation) trong thì tâm thu. Góc xoắn chuẩn hóa theo chiều dài thất trái được gọi là LV-Torsion (°/cm). Trong thì tâm trương, hiện tượng tháo xoắn (Untwisting) xảy ra nhanh chóng trong giai đoạn giãn đồng thể tích và đổ đầy sớm, giải phóng năng lượng đàn hồi đã tích lũy trong thì tâm thu. Các thông số này phản ánh cơ học tinh vi của cấu trúc sợi xoắn cơ tim và sự thay đổi độ cứng thất trái ở bệnh nhân BTMT.
4. Mức lọc cầu thận (MLCT) và các chỉ số sinh hóa có mối liên quan như thế nào với các thông số siêu âm đánh dấu mô?
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mức lọc cầu thận (MLCT) có mối tương quan thuận với các chỉ số biến dạng cơ tim (khi chức năng thận suy giảm, độ biến dạng cơ tim giảm theo). Ngược lại, nồng độ ure, creatinin huyết thanh, chỉ số khối lượng cơ thất trái (LVMI) và dấu ấn sinh học NT-proBNP có mối tương quan nghịch với các chỉ số biến dạng tâm thu và tốc độ biến dạng tâm trương. Các phân tích hồi quy đa biến khẳng định chức năng thận suy giảm và nồng độ NT-proBNP tăng là các yếu tố liên quan độc lập đến sự suy giảm chỉ số chức năng cơ tim MSP và MDP.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Đình Chúc đã khảo sát và phân tích thành công đặc điểm biến dạng cơ tim bằng kỹ thuật siêu âm đánh dấu mô 2D ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính có phân số tống máu thất trái bình thường. Công trình chứng minh rằng sự suy giảm chức năng cơ tim tâm thu và tâm trương (thông qua các chỉ số GLS, GCS, GRS, GLSR-e, MSP, MDP và động học xoay xoắn) xuất hiện sớm và có mối tương quan chặt chẽ với mức độ suy giảm mức lọc cầu thận, nồng độ NT-proBNP, phì đại thất trái và các yếu tố nguy cơ tim mạch. Kết quả nghiên cứu khẳng định giá trị thực tiễn của siêu âm đánh dấu mô trong việc phát hiện tổn thương cơ tim tiền lâm sàng, tạo cơ sở khoa học quan trọng cho việc sàng lọc và can thiệp bảo vệ tim mạch sớm ở người bệnh thận mạn tính.