Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Theo số liệu thống kê được luận án trích dẫn, tính đến hết năm 2016, tổng diện tích rừng trồng tại Việt Nam đạt xấp xỉ 4,14 triệu ha, đưa độ che phủ rừng lên mức 41,19%. Tuy nhiên, phần lớn diện tích này là rừng trồng gỗ nhỏ phục vụ nguyên liệu giấy và dăm gỗ từ các loài cây mọc nhanh như Keo (Acacia) và Bạch đàn (Eucalyptus). Trong khi đó, diện tích rừng tự nhiên bị suy giảm về cả trữ lượng lẫn chất lượng, với hơn 70% là rừng nghèo, dẫn đến việc Chính phủ áp dụng chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên. Mặc dù ngành công nghiệp chế biến và xuất khẩu đồ gỗ đạt giá trị kim ngạch 7,3 tỷ USD năm 2016 và 8,0 tỷ USD năm 2018, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu hơn 4 triệu m³ gỗ nguyên liệu kích thước lớn có chứng chỉ rừng mỗi năm.
Trước yêu cầu từ các chính sách lâm nghiệp quốc gia—tiêu biểu là Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006–2020 (Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg), Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp (Quyết định số 1565/QĐ-BNN-TCLN) và Kế hoạch hành động nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng sản xuất 2014–2020 (Quyết định số 774/QĐ-BNN-TCLN)—nhiệm vụ phát triển cây bản địa cung cấp gỗ lớn trở nên cấp bách. Cây Dẻ xanh (Lithocarpus pseudosundaicus (Hickel et A.Camus) Camus) là loài cây gỗ lớn thường xanh, thân thẳng, đường kính có thể vượt 100 cm, chiều cao đạt 30 m, khối lượng riêng gỗ 0,707 g/cm³, lõi màu nâu đỏ, ít nứt nẻ và chống mục tốt. Mặc dù có giá trị kinh tế cao, các nghiên cứu trước đây chỉ dừng lại ở mô tả phân loại thực vật và sinh cảnh sơ bộ; thiếu hoàn toàn dữ liệu về chọn giống, kỹ thuật nhân giống hạt và hom, sinh lý hạt giống, nhu cầu che sáng ở giai đoạn vườn ươm cũng như các biện pháp kỹ thuật trồng thâm canh và làm giàu rừng.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác lập 2 nhóm mục tiêu cụ thể:
- Về mặt lý luận:
- Mục tiêu 1.1: Xác định một số đặc điểm lâm học cơ bản của loài Dẻ xanh (phân bố, cấu trúc tầng cây cao, tái sinh tự nhiên).
- Mục tiêu 1.2: Xác định các tính chất giải phẫu, cơ lý và hóa học của gỗ Dẻ xanh làm cơ sở định hướng chế biến sử dụng.
- Về mặt thực tiễn:
- Mục tiêu 2.1: Tuyển chọn được các xuất xứ Dẻ xanh có triển vọng sinh trưởng và chất lượng tốt phục vụ gây trồng tại Vĩnh Phúc và Hòa Bình.
- Mục tiêu 2.2: Đề xuất hệ thống biện pháp kỹ thuật nhân giống (hạt, hom), kỹ thuật trồng rừng thâm canh cung cấp gỗ lớn và kỹ thuật làm giàu rừng tự nhiên nghèo kiệt bằng cây Dẻ xanh.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quần thể Dẻ xanh tự nhiên tại miền núi phía Bắc; cây con trong vườn ươm; cây trồng khảo nghiệm xuất xứ; các mô hình thí nghiệm lâm sinh trồng thâm canh và làm giàu rừng; mẫu gỗ Dẻ xanh phục vụ phân tích cơ lý hóa.
- Phạm vi không gian:
- Điều tra lâm học, phân bố và sinh thái: Thực hiện tại 8 tỉnh miền núi phía Bắc gồm Bắc Giang (Sơn Động), Hà Giang (Quang Bình), Hà Nội (Ba Vì), Cao Bằng (Hạ Lang), Hòa Bình (Kỳ Sơn), Lào Cai (Sa Pa), Tuyên Quang (Na Hang) và Vĩnh Phúc (Tam Đảo).
- Nghiên cứu cơ lý tính và hóa học gỗ: Thực hiện tại Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng (Hà Nội).
- Thí nghiệm vườn ươm, khảo nghiệm xuất xứ và kỹ thuật lâm sinh: Bố trí tại Trung tâm Khoa học lâm nghiệp Đông Bắc Bộ (xã Ngọc Thanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc) và Ban quản lý rừng huyện Kỳ Sơn (xã Phúc Tiến, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình).
- Phạm vi thời gian:
- Thí nghiệm tạo cây con: Theo dõi từ khi gieo ươm, cấy hom đến 12 tháng tuổi.
- Khảo nghiệm xuất xứ và thí nghiệm phân bón: Theo dõi đến 30 tháng tuổi.
- Thí nghiệm mật độ và làm giàu rừng: Theo dõi đến 39 tháng tuổi.
- Dữ liệu vật hậu và chu kỳ sai quả: Theo dõi liên tục 4 năm từ 2011 đến 2014.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trên thế giới
- Phân loại học thực vật họ Dẻ (Fagaceae): Bentham và Hooker (1862–1883) xếp các chi họ Dẻ vào họ Cupuliferae; Melchior (1964) và Menitsky (1984) phân chia Fagaceae thành 2–5 phân họ; Takhtajan A. ủng hộ Kupriantova (1962) tách riêng chi Nothofagus. Huang Cheng-chieu và cộng sự (1999) xác định họ Fagaceae có 7–12 chi với 900–1.000 loài trên thế giới, riêng Trung Quốc có 7 chi và 294 loài, trong đó chi Lithocarpus có tới 123 loài. Paul S. Manos và cộng sự (2001) khẳng định họ Dẻ là đơn vị phân loại lớn nhất và quan trọng nhất trong bộ Fagales. A. Camus (1936–1954) đã công bố chuyên khảo chi tiết về hình thái cơ quan sinh sản và quả đấu của họ Fagaceae.
- Nghiên cứu sinh thái và phân bố: Lecomte (1929–1931) và Vidai (1959) nghiên cứu sinh thái họ Dẻ tại Đông Dương và Lào, nhận định các loài họ Dẻ thường mọc ở vùng núi cao, khí hậu mát mẻ, song các loài thuộc chi Lithocarpus vẫn xuất hiện phổ biến dưới đai cao 500 m. Khamleck Xaydala (1998, 2004) điều tra tại Lào chỉ ra Lithocarpus pseudosundaicus phân bố tập trung ở đai cao 600–800 m thuộc trạng thái rừng nửa rụng lá, nơi có lượng mưa bình quân 2.000 mm, nhiệt độ 24°C và tầng đất dày có độ pH từ 5 đến 7.
- Nghiên cứu giá trị sử dụng và gây trồng: Wickens (1995), Harlow và cộng sự (1979) nêu giá trị thực phẩm từ quả của Lithocarpus edulis, L. corneus, L. xylocarpus và L. densiflorus. Casselman (1993) và Burns R. ghi nhận việc dùng vỏ chi Quercus làm thuốc nhuộm và thức ăn động vật. Linnaeus (1753) cùng Lemmens R. và cộng sự (1995) đánh giá cao chi Lithocarpus nhờ gỗ nặng, cứng, kháng mối mọt để đóng tàu, làm tà vẹt, khung nhà và chứa nhiều tanin thuộc da. Bounous G. (2002) và FAO (2013) thống kê diện tích cây dẻ lấy hạt toàn cầu năm 2013 đạt 519.748 ha, tập trung tại Trung Quốc (305.000 ha), Thổ Nhĩ Kỳ (39.900 ha), Bồ Đào Nha (35.000 ha), Tây Ban Nha (31.984 ha). Elliott và cộng sự (1995, 1997) tại Thái Lan đã tuyển chọn các loài Castanopsis acuminatissima, C. tribuloides và Quercus semiserrata phục vụ phục hồi rừng sau nương rẫy tại Vườn quốc gia Doi Suthep-Pui.
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
- Hệ thống phân loại và đa dạng loài: R. Lecomte và A. Camus xác định Đông Dương có 3 chi (Quercus, Lithocarpus, Castanopsis) với 157 loài. Viện Điều tra Quy hoạch rừng (1982) mô tả 43 loài dẻ. Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến (1978) ghi nhận 5 chi; Trần Đình Lý và cộng sự (1993) công bố 5 chi với 100 loài; Lê Trần Chấn và cộng sự (1999) thống kê 213 loài; Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên (2000) thống kê 5 chi với khoảng 120 loài; Phạm Hoàng Hộ (2000) ghi nhận 5 chi với 215 loài; Nguyễn Tiến Bân (2003) phân loại họ Dẻ Việt Nam gồm 6 chi (Castanea, Castanopsis, Fagus, Lithocarpus, Quercus, Trigonobalanus) với 216 loài; Vương Duy Hưng và Nian-he-xia (2014) bổ sung 2 loài mới. Về mặt giải phẫu thực vật, Nguyễn Bá (1965) nhận thấy chi Lithocarpus gần gũi với Quercus và Trigonobalanus hơn Castanopsis; Lương Ngọc Toản (1965) và Đỗ Thùy Linh, Nguyễn Trung Thành cùng cộng sự (2013) nghiên cứu ranh giới phân loại các chi trong họ. Nguyễn Đình Hưng (1990) phân tích cấu tạo hiển vi gỗ họ Dẻ.
- Nghiên cứu sinh thái và kỹ thuật lâm sinh: Các nghiên cứu tập trung vào dẻ ăn hạt gồm Dẻ yên thế (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2007; Dự án KFW4 tại Bắc Giang), Dẻ trùng khánh (Dương Mộng Hùng, 2004, 2005 - tuyển chọn 34 cây trội, nhân giống bằng phương pháp ghép nêm đạt tỷ lệ sống 89,5%), Dẻ anh và Kha thụ nguyên tại Tây Nguyên (Trần Lâm Đồng và cộng sự, 2007, 2010; Nguyễn Toàn Thắng, 2012, 2016). Đối với nhóm dẻ lấy gỗ: Hà Thị Hiền (2008) xác định chế độ che sáng cho Dẻ đỏ ở giai đoạn 0–1 tuổi là 75% và 1–2 tuổi là 50–75%; Nguyễn Anh Dũng và cộng sự (2008, 2011) theo dõi Dự án RENFODA tại Bình Thanh (Cao Phong, Hòa Bình) sử dụng Dẻ đỏ và Sồi phảng làm giàu rừng nghèo kiệt đạt tăng trưởng đường kính 1,4 cm/năm; Hoàng Văn Thắng và Nguyễn Bá Chất (2004) trồng hỗn loài Sồi phảng với Keo tai tượng tại Cầu Hai (Phú Thọ) đạt tăng trưởng chiều cao 1,5 m/năm; Nguyễn Thị Nhung (2004) và Hoàng Văn Thắng (2008) nghiên cứu mô hình hỗn loài giữa Sồi phảng và Luồng; Lê Minh Cường (2015, 2017) nghiên cứu lập địa và kỹ thuật gây trồng Sồi phảng cung cấp gỗ lớn chu kỳ 25–30 năm; Hoàng Văn Sâm và cộng sự (2008) điều tra ghi nhận Dẻ xanh chiếm ưu thế tầng tán chính tại Vườn quốc gia Bến En (Thanh Hóa).
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan cho thấy trong số hơn 200 loài họ Dẻ tại Việt Nam, các công trình chủ yếu tập trung vào các loài lấy hạt hoặc một vài loài lấy gỗ như Sồi phảng và Dẻ đỏ. Cây Dẻ xanh (Lithocarpus pseudosundaicus) chưa từng có công trình nghiên cứu hệ thống nào từ khâu khảo sát quy luật lâm học tự nhiên, phân tích tính chất cấu tạo gỗ, nghiên cứu vật hậu, bảo quản hạt, nhân giống sinh dưỡng (hom), cho đến khảo nghiệm xuất xứ và kỹ thuật thâm canh trồng rừng hay làm giàu rừng. Luận án giải quyết toàn bộ khoảng trống thực tiễn và lý luận này nhằm đưa Dẻ xanh vào cơ cấu cây trồng rừng gỗ lớn bản địa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và quan điểm tiếp cận
- Quan điểm tiếp cận hệ thống: Quần thể Dẻ xanh được xem xét trong mối quan hệ hữu cơ với quần xã rừng tự nhiên (cấu trúc tầng cao, tái sinh, đất, khí hậu). Chuỗi nghiên cứu lâm sinh triển khai liên hoàn từ chọn giống, nhân giống, vườn ươm, khảo nghiệm xuất xứ đến kỹ thuật gây trồng ngoài thực địa.
- Tiếp cận theo đai cao địa hình: Phân chia phạm vi phân bố thành 3 đai cao để xác định biên độ sinh thái và quy luật lâm học:
- Cấp đai I: Độ cao < 300 m so với mực nước biển.
- Cấp đai II: Độ cao 300 – 500 m so với mực nước biển.
- Cấp đai III: Độ cao > 500 m so với mực nước biển.
- Phân loại trạng thái rừng tự nhiên: Áp dụng bảng phân loại trạng thái rừng của Loeschau (1963).
- Quan điểm kế thừa: Kế thừa có chọn lọc các quy trình, tiêu chuẩn kỹ thuật lâm nghiệp của Việt Nam và quốc tế.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thu thập số liệu
- Phương pháp nghiên cứu hình thái, phân bố và sinh thái:
- Khảo sát hình thái tại Na Hang (Tuyên Quang) và Kỳ Sơn (Hòa Bình) trên 3 cây đại diện mỗi điểm; đo kích thước lá, hoa, quả bằng thước panme và thước chính xác milimet.
- Điều tra phân bố và sinh thái tại 8 tỉnh, mỗi tỉnh lập 3 tuyến theo 3 đai cao, chiều dài 2 km/tuyến. Lập 24 ô tiêu chuẩn (ÔTC) sơ cấp diện tích 2.500 m² (50 m × 50 m) tại các điểm có Dẻ xanh phân bố. Xác định tọa độ bằng GPS, mô tả thực bì, độ dốc, độ dày tầng đất.
- Phân tích đất: Mỗi ÔTC đào 1 phẫu diện đất (dài 2 m, rộng 0,8 m, sâu 1,2 m), lấy mẫu ở 3 tầng độ sâu: 0–20 cm, 20–40 cm và 40–60 cm. Phân tích các chỉ tiêu lý hóa tại Viện Nghiên cứu sinh thái và Môi trường rừng: pH theo TCVN 4401:2008; mùn tổng số bằng phương pháp TOC/TN (HT 1300); đạm tổng số theo TCVN 6498:1999; P₂O₅ dễ tiêu theo 10 TCN 376-99/TCVN 5256:2009; K₂O dễ tiêu theo TCVN 5254:1990; độ chua trao đổi theo TCN 379-99.
- Phương pháp nghiên cứu cấu trúc lâm phần và tái sinh tự nhiên:
- Cấu trúc tầng cây cao: Đo đếm toàn bộ cây gỗ có $D_{1.3} \ge 6\text{ cm}$ trong 24 ÔTC về đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$), chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$), đường kính tán ($D_t$) bằng thước vanh và thước đo cao Blumeleiss. Xác định độ tàn che bằng phương pháp mục trắc cho điểm ngắm thẳng đứng theo mạng lưới ô vuông cách nhau 5 m.
- Tái sinh tự nhiên: Trong mỗi ÔTC 2.500 m², lập 5 ô dạng bản (ÔDB) diện tích 25 m² (5 m × 5 m) bố trí tại 4 góc và 1 ô ở tâm (tổng số 120 ÔDB). Đo đếm cây tái sinh có chiều cao $H \ge 20\text{ cm}$ và $D_{1.3} < 6\text{ cm}$, ghi nhận tên loài, chiều cao, nguồn gốc (hạt/chồi) và phẩm chất (A: tốt, B: trung bình, C: xấu).
- Phương pháp nghiên cứu cấu tạo và tính chất cơ lý, hóa học gỗ:
- Chặt 5 cây tiêu chuẩn trong rừng tự nhiên có $D_{1.3}$ từ 25 đến 30 cm, chiều cao từ 12 đến 15,5 m theo tiêu chuẩn TCVN 8043:2009. Cắt khúc gỗ dài 100 cm từ vị trí 1,3 m lên phía ngọn, đánh dấu hướng Bắc - Nam, quét sáp paraffin hai đầu, đóng bao ẩm chuyển về Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng.
- Thử nghiệm cơ lý theo hệ thống tiêu chuẩn: Độ ẩm theo TCVN 8048-1:2009; khối lượng riêng theo TCVN 8048-2:2009; độ co rút tiếp tuyến và xuyên tâm theo TCVN 8048-13:2009; độ bền uốn tĩnh theo TCVN 8048-3:2009; nén vuông góc thớ theo TCVN 8048-5:2009; độ bền tách theo TCVN 8047:2009; cấu tạo giải phẫu theo Richter H.
- Phân tích thành phần hóa học gỗ theo tiêu chuẩn TAPPI: T-1os-59, T-4os-59, T-6os-95, T-5m-59, T-15os-58, T-13os-54, T-9m-54, T-19n-50, T-232Su-68, T-435Su-68.
- Phương pháp nghiên cứu chọn giống, vật hậu và nhân giống:
- Tuyển chọn 60 cây mẹ lấy giống (15 cây/tỉnh tại Tuyên Quang, Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Hà Nội) theo Tiêu chuẩn ngành 04-TCN-147-2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cự ly giữa các cây mẹ cách nhau trên 100 m.
- Theo dõi vật hậu trên 3 cây mẹ/điểm tại Na Hang và Kỳ Sơn; đánh dấu 12 cành tiêu chuẩn ở 3 tầng tán và 4 hướng phơi; theo dõi định kỳ 10 ngày/lần liên tục 4 năm (2011–2014).
- Thử nghiệm hạt giống theo 3 trạng thái màu sắc vỏ quả (xanh, nâu, nâu sẫm nứt): đo kích thước hạt (630 hạt); xác định khối lượng 1.000 hạt (18.000 hạt); xác định độ thuần (9.000 hạt); xác định tỷ lệ nảy mầm sau xử lý ngâm nước 65°C trong 8 giờ và ủ cát ẩm (1.800 hạt).
- Thí nghiệm bảo quản hạt giống (1.920 hạt) qua 4 công thức: bảo quản bao vải, hũ bịt kín, cát ẩm 10–15% (tỷ lệ 1 hạt : 2 cát), bảo quản lạnh ở 5°C; kiểm tra định kỳ 3 tháng/lần trong 12 tháng.
- Thí nghiệm vườn ươm: Che sáng (các mức che sáng trực xạ), hỗn hợp ruột bầu, xử lý chất điều hòa sinh trưởng ra rễ cho hom cành (IBA, IAA).
- Phương pháp khảo nghiệm xuất xứ và kỹ thuật lâm sinh:
- Khảo nghiệm 4 xuất xứ (Tuyên Quang, Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Hà Nội) tại Vĩnh Phúc và Hòa Bình; theo dõi tỷ lệ sống, đường kính gốc ($D_{00}$), đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$), chiều cao ($H_{vn}$) đến 30 tháng tuổi.
- Thí nghiệm mật độ trồng thâm canh và thí nghiệm bón phân NPK (5:10:3) theo dõi đến 30–39 tháng tuổi.
- Thí nghiệm làm giàu rừng theo rạch: Thử nghiệm các tổ hợp chiều rộng rạch luỗng phát và tiêu chuẩn tuổi cây con, theo dõi sinh trưởng và phẩm chất đến 39 tháng tuổi.
Phương pháp xử lý dữ liệu
Số liệu được quản lý và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS. Sử dụng các thuật toán phân tích phương sai ANOVA một nhân tố và hai nhân tố để kiểm định sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm dựa trên xác suất kiểm tra Sig ($p < 0,05$) và giá trị $F$; kiểm định tính độc lập và phân bố bằng đại lượng Chi-bình phương ($\chi^2$); tính toán hệ số biến động ($S%$), chỉ số giá trị quan trọng ($IV%$), tỷ lệ sống ($TLS%$) và tỷ lệ cây triển vọng ($X%$).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế liên quan đến họ Dẻ (Fagaceae) và loài Dẻ xanh (Lithocarpus pseudosundaicus). Tác giả phân tích lịch sử phân loại, đặc điểm hình thái học, đặc tính sinh thái, phạm vi phân bố, giá trị kinh tế (lấy hạt và lấy gỗ), cũng như kỹ thuật nhân giống và gây trồng lâm nghiệp. Chương này chỉ ra rằng các nghiên cứu trên thế giới chủ yếu tập trung vào chi Castanea và một số loài Lithocarpus ăn hạt, trong khi các công trình tại Việt Nam mới chỉ khai thác sâu loài Dẻ trùng khánh, Dẻ yên thế, Sồi phảng và Dẻ đỏ. Từ việc đánh giá tổng quan, luận án xác định khoảng trống kiến thức về loài Dẻ xanh và luận giải tính cấp thiết của việc triển khai đề tài.
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết mục tiêu, đối tượng, giới hạn và 5 nội dung nghiên cứu lớn của đề tài. Tác giả mô tả chi tiết phương pháp tiếp cận hệ thống theo đai cao; thiết kế mạng lưới điều tra thực địa gồm 24 ÔTC 2.500 m² và 120 ÔDB 25 m² tại 8 tỉnh miền núi phía Bắc; quy trình đào và phân tích 6 chỉ tiêu lý hóa của phẫu diện đất. Chương này cũng chuẩn hóa phương pháp phân tích giải phẫu và cơ lý hóa gỗ theo các tiêu chuẩn TCVN và TAPPI; quy trình tuyển chọn 60 cây mẹ theo tiêu chuẩn 04-TCN-147-2006; phương pháp quan sát vật hậu 4 năm liên tục; thiết kế các khối thí nghiệm hạt giống, vườn ươm, khảo nghiệm xuất xứ, mật độ, phân bón và làm giàu rừng tại Vĩnh Phúc và Hòa Bình, cùng các thuật toán thống kê trên phần mềm SPSS.
| TT |
Tỉnh điều tra |
Huyện điều tra |
Xã điều tra |
Đai cao điều tra |
Số lượng ÔTC (2.500 m²) |
| 1 |
Bắc Giang |
Sơn Động |
Phúc Thắng |
< 300 m; 300–500 m; > 500 m |
3 |
| 2 |
Hà Giang |
Quang Bình |
Xuân Quang |
< 300 m; 300–500 m; > 500 m |
3 |
| 3 |
Hà Nội |
Ba Vì (VQG Ba Vì) |
Tản Lĩnh |
< 300 m; 300–500 m; > 500 m |
3 |
| 4 |
Cao Bằng |
Hạ Lang |
Đức Quang |
< 300 m; 300–500 m; > 500 m |
3 |
| 5 |
Hòa Bình |
Kỳ Sơn |
Phúc Tiến |
< 300 m; 300–500 m; > 500 m |
3 |
| 6 |
Lào Cai |
Sa Pa (VQG Hoàng Liên) |
San Sả Hồ |
< 300 m; 300–500 m; > 500 m |
3 |
| 7 |
Tuyên Quang |
Na Hang |
Nậm Chang |
< 300 m; 300–500 m; > 500 m |
3 |
| 8 |
Vĩnh Phúc |
Tam Đảo (VQG Tam Đảo) |
Đại Đình |
< 300 m; 300–500 m; > 500 m |
3 |
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 3 là phần thực nghiệm trọng tâm của luận án (chiếm 74 trang), được kết cấu thành 7 cụm nội dung chính:
-
Đặc điểm hình thái, phân bố và sinh thái loài Dẻ xanh:
- Hình thái: Cây gỗ lớn, cao đến 30 m, đường kính ngang ngực vượt 100 cm. Vỏ nứt dọc màu xám nâu. Lá đơn mọc cách, mép nguyên, mặt dưới phủ lông màu nâu vàng nhạt. Hoa đơn tính cùng gốc. Quả kiên dạng nón cong, khi chín vỏ màu nâu nhẵn bóng, đấu có vảy tam giác bao bọc 1/3 quả.
- Phân bố: Xuất hiện tự nhiên tại cả 8 tỉnh điều tra thuộc các trạng thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và á nhiệt đới. Cây phân bố tập trung nhiều nhất ở đai cao dưới 500 m (chủ yếu từ 300 đến 500 m).
- Lập địa và đất đai: Phân bố trên đất feralit phát triển trên đá sa diệp thạch, phiến thạch sét; tầng đất mặt dày trên 60 cm, thoát nước tốt, độ pH chua nhẹ đến trung tính.
-
Đặc điểm lâm học và tính chất gỗ:
- Cấu trúc tầng cây cao: Mật độ tầng cây cao tại các lâm phần dao động từ 400 đến 750 cây/ha. Dẻ xanh tham gia vào công thức tổ thành tầng tán chính với chỉ số giá trị quan trọng ($IV%$) dao động từ 5,2% đến 14,8%, là loài cây ưu thế hoặc đồng ưu thế ở tầng tán vượt và tán ưu thế.
- Tái sinh tự nhiên: Mật độ cây tái sinh đạt từ 1.500 đến 4.200 cây/ha; trong đó cây tái sinh có nguồn gốc từ hạt chiếm ưu thế tuyệt đối (> 85%). Dẻ xanh tái sinh tốt dưới tán rừng có độ tàn che từ 0,3 đến 0,5; tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng ($X%$) đạt trên 60%, phân bố chủ yếu ở cấp chiều cao trên 1 m.
- Tính chất cơ lý và giải phẫu gỗ: Khối lượng riêng gỗ đạt trung bình 0,707 g/cm³ (thuộc nhóm gỗ V). Gỗ có độ co rút thể tích trung bình, thớ thẳng, kết cấu mịn, vòng năm không rõ. Độ bền uốn tĩnh, khả năng chịu nén vuông góc với thớ và độ bền tách thớ đạt tiêu chuẩn đóng đồ mộc, làm cửa và kết cấu xây dựng thông thường.
- Hóa học gỗ: Xác định hàm lượng cellulose, lignin, pentosan, tro và hàm lượng tanin trong vỏ cây phục vụ đánh giá tính chất cơ lý và khả năng chống chịu sinh vật hại.
-
Kỹ thuật tạo cây con:
- Chọn giống và vật hậu: Đã bình tuyển được 60 cây mẹ đạt tiêu chuẩn lâm học tại 4 tỉnh. Dẻ xanh ra hoa vào tháng 4, quả chín tập trung từ tháng 8 đến tháng 10. Chu kỳ sai quả có tính cách năm rõ rệt (chu kỳ 2–3 năm sai quả một lần).
- Xử lý và bảo quản hạt: Quả có vỏ màu nâu (chín sinh lý hoàn thiện) cho khối lượng 1.000 hạt cao nhất, độ thuần lô hạt đạt trên 92%. Hạt xử lý ngâm nước ấm 65°C trong 8 giờ cho tỷ lệ nảy mầm cao nhất (> 80%). Phương pháp bảo quản hạt trong cát ẩm 10–15% duy trì được sức sống của hạt tốt nhất sau 6 tháng so với bảo quản thông thường.
- Vườn ươm: Cây con giai đoạn dưới 6 tháng tuổi cần che sáng 50%; từ 6 đến 12 tháng tuổi giảm che sáng xuống 25% và mở tán hoàn toàn trước khi xuất vườn. Thành phần ruột bầu có tỷ lệ phân chuồng hoai mục kết hợp NPK cho sinh trưởng đường kính gốc ($D_{00}$) và chiều cao ($H_{vn}$) vượt trội. Giâm hom xử lý bằng chất điều hòa sinh trưởng IBA dạng bột nồng độ thích hợp cho tỷ lệ ra rễ đạt kết quả bước đầu.
-
Khảo nghiệm xuất xứ:
- Theo dõi sau 30 tháng trồng tại Vĩnh Phúc và Hòa Bình cho thấy xuất xứ Tuyên Quang và Hòa Bình có tỷ lệ sống cao nhất (đạt trên 85%), sinh trưởng đường kính và chiều cao vượt trội, hình thái thân thẳng và độ phân cành thấp so với xuất xứ Hà Nội và Vĩnh Phúc.
-
Thí nghiệm kỹ thuật trồng và làm giàu rừng:
- Mật độ trồng thâm canh: Sau 39 tháng theo dõi, mật độ trồng 1.100 cây/ha và 1.660 cây/ha thể hiện sự cân đối tốt nhất giữa tỷ lệ sống, đường kính tán và mức tăng trưởng đường kính gốc so với mật độ dày 2.500 cây/ha.
- Bón phân: Công thức bón lót phân vi sinh kết hợp NPK (5:10:3) liều lượng từ 100 g đến 200 g/hố thúc đẩy tăng trưởng chiều cao và đường kính cây trồng sau 30 tháng tuổi rõ rệt so với công thức đối chứng không bón.
- Kỹ thuật làm giàu rừng: Sau 39 tháng trồng dưới tán rừng nghèo kiệt theo rạch, rạch mở rộng bằng chiều cao tán rừng (băng chặt từ 3 đến 5 m) kết hợp sử dụng cây con đủ tiêu chuẩn 12 tháng tuổi mang lại tỷ lệ sống trên 88% và sinh trưởng chiều cao đạt trên 1,1 m/năm.
-
Đề xuất các biện pháp kỹ thuật:
- Đề xuất hướng dẫn kỹ thuật thu hái, chế biến và bảo quản hạt giống.
- Đề xuất quy trình tạo cây con bằng hạt trong vườn ươm 12 tháng tuổi.
- Đề xuất quy trình kỹ thuật trồng rừng thâm canh cung cấp gỗ lớn tại Vĩnh Phúc và Hòa Bình.
- Đề xuất quy trình kỹ thuật làm giàu rừng tự nhiên nghèo kiệt bằng cây Dẻ xanh.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Bổ sung cơ sở dữ liệu khoa học về đặc điểm lâm sinh học của loài Dẻ xanh (Lithocarpus pseudosundaicus) tại 8 tỉnh miền núi phía Bắc, khẳng định Dẻ xanh là cây gỗ lớn (chiều cao đạt tới 30 m, đường kính thân đạt trên 100 cm), mọc tự nhiên ở các trạng thái rừng thường xanh mưa ẩm, phân bố tập trung nhiều nhất ở đai cao dưới 500 m.
- Xác định quy luật tái sinh tự nhiên của loài: Dẻ xanh tái sinh chủ yếu từ hạt, là loài cây ưa sáng thiên hướng trung tính ở giai đoạn nhỏ (thích hợp độ tàn che 0,3–0,5), có khả năng tham gia vào cấu trúc tầng tán ưu thế của rừng tự nhiên với chỉ số $IV%$ cao.
- Cung cấp bộ dữ liệu giải phẫu và cơ lý hóa học của gỗ Dẻ xanh theo hệ thống tiêu chuẩn chuẩn hóa, xác định khối lượng riêng trung bình đạt 0,707 g/cm³ (thuộc nhóm gỗ V), thớ gỗ mịn, ít biến dạng co rút khi sấy khô, kháng mối mọt tự nhiên tốt, đủ tiêu chuẩn kỹ thuật để chế biến đồ mộc nội thất, đóng cửa và làm vật liệu xây dựng.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Đã bình tuyển được 60 cây mẹ Dẻ xanh đạt tiêu chuẩn chất lượng hình thái và sinh trưởng tại 4 tỉnh (Tuyên Quang, Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Hà Nội) làm nguồn giống phục vụ gây trồng.
- Xác định được xuất xứ Tuyên Quang và xuất xứ Hòa Bình là hai nguồn giống triển vọng nhất cho trồng rừng gỗ lớn tại khu vực Vĩnh Phúc và Hòa Bình.
- Xây dựng thành công quy trình xử lý hạt giống: thu hái khi vỏ quả chuyển màu nâu sẫm, xử lý nhiệt bằng nước ấm 65°C ngâm 8 giờ, bảo quản trong cát ẩm 10–15% để duy trì tỷ lệ nảy mầm trên 80%.
- Xác định được chế độ che sáng giai đoạn vườn ươm (che 50% trong 6 tháng đầu, giảm dần xuống 25% và tháo giàn che trước khi trồng), hoàn thiện công thức thành phần ruột bầu dinh dưỡng và bước đầu ứng dụng chất điều hòa sinh trưởng IBA trong nhân giống bằng hom.
- Xác định được thông số kỹ thuật trồng rừng thâm canh cung cấp gỗ lớn: mật độ trồng thích hợp từ 1.100 đến 1.660 cây/ha, bón lót NPK (5:10:3) từ 100 đến 200 g/hố.
- Hoàn thiện biện pháp làm giàu rừng tự nhiên nghèo kiệt: luỗng mở rạch có chiều rộng tương đương chiều cao dải cây tái sinh (3–5 m), sử dụng cây con đủ tiêu chuẩn từ 12 tháng tuổi.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế được ghi nhận từ văn bản
- Thời gian theo dõi khảo nghiệm thực địa: Các thí nghiệm khảo nghiệm xuất xứ và phân bón mới được đánh giá đến thời điểm cây 30 tháng tuổi; thí nghiệm mật độ và làm giàu rừng theo rạch mới theo dõi đến 39 tháng tuổi. Đây là giai đoạn kết thúc chu kỳ chăm sóc ban đầu, chưa phản ánh toàn bộ sinh trưởng trong cả chu kỳ kinh doanh gỗ lớn (thường kéo dài trên 20–30 năm).
- Thử nghiệm nhân giống vô tính: Kỹ thuật nhân giống sinh dưỡng bằng hom cành mới dừng lại ở bước đầu thử nghiệm khảo sát phản ứng với chất điều hòa sinh trưởng IBA và IAA, chưa tối ưu hóa được hoàn toàn quy trình nhân giống hom trên quy mô thương mại.
- Phân tích đất đai: Do kinh phí hạn chế, luận án chỉ phân tích chi tiết tính chất hóa học đất cho 1 đai cao có Dẻ xanh phân bố tập trung nhất; các đai cao còn lại chỉ thực hiện điều tra mô tả phẫu diện tại hiện trường.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Tiếp tục duy trì bảo vệ và đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng định kỳ (đường kính ngang ngực, chiều cao vút ngọn, độ thon thân cây, trữ lượng lâm phần) trên các mô hình khảo nghiệm xuất xứ, thí nghiệm mật độ và làm giàu rừng ở các cấp tuổi lớn hơn (5, 10, 15 năm tuổi).
- Nghiên cứu sâu hơn về kỹ thuật nhân giống sinh dưỡng (giâm hom, ghép cành) từ các cây trội đã bình tuyển để phục vụ công tác xây dựng rừng giống và vườn giống vô tính.
- Mở rộng khảo nghiệm trên các dạng lập địa khác nhau ngoài Vĩnh Phúc và Hòa Bình để đánh giá tính thích ứng và mở rộng vùng trồng sản xuất cho loài Dẻ xanh ở các tỉnh phía Bắc.
Giá trị tham khảo
Đối tượng thụ hưởng
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng, Giống cây rừng và Công nghệ chế biến lâm sản: Sử dụng làm tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu lâm sinh học, thiết kế thí nghiệm đồng ruộng và kỹ thuật phân tích gỗ.
- Giảng viên và cán bộ nghiên cứu tại các viện, trường đại học lâm nghiệp: Khai thác bộ số liệu thực nghiệm về cấu trúc rừng kín thường xanh, quy luật tái sinh tự nhiên và giải phẫu gỗ loài Dẻ xanh.
- Các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý nhà nước (Cục Lâm nghiệp, Chi cục Kiểm lâm, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh miền núi): Tham khảo làm căn cứ khoa học để đưa loài Dẻ xanh vào danh mục các loài cây trồng rừng chủ lực cung cấp gỗ lớn bản địa thay thế dần các loài cây ngoại lai.
- Các Ban quản lý rừng phòng hộ, Vườn quốc gia và công ty lâm nghiệp: Trực tiếp áp dụng các quy trình kỹ thuật thu hái, bảo quản hạt, nhân giống vườn ươm và kỹ thuật trồng làm giàu rừng tự nhiên nghèo kiệt.
Các nội dung có giá trị tham khảo cao
- Bản hướng dẫn kỹ thuật xử lý và bảo quản hạt giống Dẻ xanh bằng cát ẩm.
- Tiêu chuẩn tuyển chọn cây mẹ lấy giống và kết quả bình tuyển 60 cây trội tại 4 tỉnh miền Bắc.
- Chế độ che sáng và công thức ruột bầu cho cây con Dẻ xanh giai đoạn 12 tháng tuổi trong vườn ươm.
- Hướng dẫn kỹ thuật mở rạch và tiêu chuẩn cây con phục vụ làm giàu rừng nghèo kiệt.
Câu hỏi thường gặp
1. Loài Dẻ xanh phân bố chủ yếu ở đai cao nào và thuộc trạng thái rừng nào?
Theo kết quả điều tra của luận án tại 8 tỉnh miền núi phía Bắc, Dẻ xanh xuất hiện trong các trạng thái rừng tự nhiên thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và á nhiệt đới ở cả 3 cấp đai cao (< 300 m, 300–500 m, và > 500 m), nhưng phân bố tập trung nhiều nhất ở đai cao dưới 500 m (chủ yếu trong khoảng 300–500 m so với mực nước biển).
2. Kích thước tối đa và tính chất cơ lý gỗ của loài Dẻ xanh đạt mức nào?
Thực tế điều tra lâm phần tự nhiên xác định Dẻ xanh là cây gỗ lớn, chiều cao vút ngọn có thể đạt tới 30 m và đường kính thân cây ($D_{1.3}$) đạt trên 100 cm. Khối lượng riêng của gỗ đạt 0,707 g/cm³ (thuộc nhóm gỗ V), lõi gỗ màu nâu đỏ, thớ thẳng, kết cấu mịn, ít co rút và nứt nẻ sau khi sấy khô, có khả năng kháng mối mọt tốt, phù hợp làm cửa và đồ mộc gia dụng.
3. Hạt giống Dẻ xanh nên thu hái vào thời điểm nào và bảo quản bằng cách nào để duy trì tỷ lệ nảy mầm cao?
Hạt giống Dẻ xanh nên được thu hái khi quả chuyển sang màu nâu sẫm (vỏ quả bắt đầu nứt nhẹ, đạt độ chín sinh lý hoàn thiện). Hạt sau khi phơi khô tự nhiên được ngâm xử lý bằng nước ấm 65°C trong thời gian 8 giờ, sau đó ủ trong cát ẩm có độ ẩm 10–15% (theo tỷ lệ 1 phần hạt : 2 phần cát về thể tích) để bảo quản, giúp duy trì tỷ lệ nảy mầm đạt trên 80%.
4. Hai xuất xứ Dẻ xanh nào sinh trưởng tốt nhất trong khảo nghiệm tại Vĩnh Phúc và Hòa Bình?
Qua 30 tháng theo dõi khảo nghiệm 4 xuất xứ (Tuyên Quang, Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Hà Nội), luận án kết luận hai xuất xứ Tuyên Quang (thu hái tại huyện Na Hang) và xuất xứ Hòa Bình (thu hái tại huyện Kỳ Sơn) đạt tỷ lệ sống cao nhất (trên 85%), đồng thời có mức tăng trưởng vượt trội về đường kính gốc ($D_{00}$) và chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$), thân cây thẳng và ít cành nhánh phụ.
5. Biện pháp kỹ thuật nào được đề xuất khi trồng làm giàu rừng bằng cây Dẻ xanh?
Đối với rừng tự nhiên nghèo kiệt, biện pháp kỹ thuật được đề xuất là trồng làm giàu rừng theo rạch với chiều rộng băng chặt luỗng từ 3 đến 5 m (tương đương với chiều cao tán rừng phù trợ xung quanh), sử dụng cây con gieo ươm đủ tiêu chuẩn từ 12 tháng tuổi nhằm đảm bảo tỷ lệ sống trên 88% và tốc độ sinh trưởng chiều cao đạt trên 1,1 m/năm sau 39 tháng theo dõi.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của NCS. Bùi Trọng Thủy là công trình khoa học lâm sinh thực nghiệm toàn diện, giải quyết trọn vẹn khoảng trống tri thức về loài cây bản địa Dẻ xanh (Lithocarpus pseudosundaicus) tại Việt Nam. Công trình đã làm sáng tỏ các đặc tính lâm học, sinh thái, giải phẫu và cơ lý hóa học gỗ của loài tại 8 tỉnh miền núi phía Bắc, khẳng định Dẻ xanh đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn của cây gỗ lớn chất lượng cao. Đồng thời, luận án đã xác định thành công nguồn giống triển vọng từ xuất xứ Tuyên Quang và Hòa Bình, xây dựng hệ thống giải pháp kỹ thuật đồng bộ từ nhân giống hạt, vườn ươm đến trồng thâm canh và làm giàu rừng nghèo kiệt, cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho chiến lược phát triển rừng trồng gỗ lớn tại Việt Nam.