Tổng quan nghiên cứu

Thị trường viễn thông Việt Nam đã ghi nhận bước tăng trưởng vượt bậc với tổng doanh thu toàn ngành đạt 5,144 tỷ USD vào năm 2008, đóng góp khoảng 6% GDP cả nước và nâng mật độ điện thoại lên 104 máy trên 100 dân. Riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009 quy mô thuê bao đạt mức 17,25 triệu máy, tương ứng tỷ lệ 242 máy trên 100 dân, mang lại doanh thu 26.250 tỷ đồng (khoảng 1,45 tỷ USD). Tuy nhiên, đằng sau sự phát triển nóng là bất cập nghiêm trọng trong phát triển hạ tầng kỹ thuật khi 11 doanh nghiệp được cấp phép thiết lập mạng đều chạy đua xây dựng mạng lưới độc lập, gây lãng phí nguồn lực đầu tư xã hội và làm suy giảm nghiêm trọng mỹ quan đô thị qua hình ảnh "mạng nhện" cáp treo cùng điệp khúc "đào đường - lấp đường".

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là phân tích toàn diện thực trạng chia sẻ hạ tầng kỹ thuật, làm rõ các rào cản thể chế, xung đột lợi ích kinh tế và hành vi của doanh nghiệp viễn thông. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các cơ chế, chính sách công khả thi nhằm thúc đẩy việc sử dụng chung hạ tầng mạng thụ động. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian đô thị Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2005–2010, đặt trong bối cảnh các khung khổ pháp lý mới gồm Luật Viễn thông 2010 và Luật Quy hoạch đô thị 2010 chính thức có hiệu lực. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi đưa ra các giải pháp giúp ngành viễn thông tiết kiệm ước tính khoảng 20.000 đến 30.000 tỷ đồng chi phí xây dựng hạ tầng riêng lẻ, đồng thời hỗ trợ nâng tỷ lệ ngầm hóa mạng cáp đô thị từ mức 30% lên các chỉ số chuẩn mực văn minh, an toàn và hiện đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa các nền tảng lý thuyết kinh tế học hiện đại và quản lý công:

Lý thuyết trò chơi (Game Theory): Tác giả ứng dụng mô hình trò chơi tĩnh với thông tin đầy đủ để mô hình hóa quá trình ra quyết định của doanh nghiệp viễn thông và chính quyền đô thị. Ma trận quyết định phân tích tương tác chiến lược giữa hai lựa chọn: "Treo cáp nổi" (chi phí thấp nhưng tạo ngoại tác tiêu cực) và "Ngầm hóa cáp" (chi phí cao nhưng tạo ngoại tác tích cực), từ đó xác định điểm cân bằng Nash trong các điều kiện chính sách can thiệp khác nhau.

Lý thuyết hàng hóa công cộng và Ngoại tác (Public Goods & Externalities): Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị (cột điện, cống bể ngầm, hào kỹ thuật) được định danh là hàng hóa công cộng không thuần túy. Hệ thống này sở hữu đặc tính độc quyền tự nhiên do giới hạn không gian đô thị và phát sinh ngoại tác hai chiều: nếu quản lý yếu kém sẽ gây ô nhiễm cảnh quan và ùn tắc giao thông, nếu đầu tư đồng bộ sẽ tạo giá trị xã hội to lớn nhưng tư nhân khó tự bù đắp chi phí ban đầu.

Lý thuyết về lợi thế kinh tế theo quy mô và Độc quyền thị trường: Bóc tách cấu trúc chi phí đặc thù của ngành viễn thông với chi phí biên tiếp cận mức zero, lý giải động cơ các doanh nghiệp lớn sở hữu mạng lưới sẵn có sử dụng hạ tầng như một rào cản kỹ thuật để ngăn chặn đối thủ mới gia nhập thị trường.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: hạ tầng viễn thông thụ động, cống bể ngầm kỹ thuật, hầm tuynen kỹ thuật dùng chung và cơ chế nội hóa ngoại tác qua thuế phí.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình (Case Study Research) kết hợp phân tích chính sách định tính.

Cỡ mẫu và nguồn dữ liệu: Dữ liệu nghiên cứu bao quát toàn bộ 16 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ và hạ tầng viễn thông hoạt động trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả tiến hành mổ xẻ chuyên sâu hồ sơ thiết kế kỹ thuật, dự toán kinh phí của Dự án xây dựng đường Tân Sơn Nhất – Bình Lợi – Vành đai ngoài với chiều dài 13,7 km, cùng dữ liệu vận hành từ hơn 50.000 km đường cáp và 21.000 cột thông tin trên toàn thành phố.

Phương pháp chọn mẫu: Lựa chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) đối với địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế có mật độ dân cư và mạng lưới viễn thông phức tạp nhất cả nước, mang tính đại diện cao cho các vướng mắc hạ tầng của các đô thị lớn tại Việt Nam.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Việc phân tích định tính dựa trên tình huống thực tế kết hợp so sánh chi phí - lợi ích (CBA) và lý thuyết trò chơi cho phép nhận diện bản chất xung đột lợi ích kinh tế giữa các chủ thể, khắc phục sự hạn chế của các phương pháp định lượng đơn thuần vốn khó đo lường hết các rào cản pháp lý và hành vi độc quyền. Khung thời gian thu thập và phân tích dữ liệu tập trung vào giai đoạn 2005 đến 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tồn tại khoảng cách chi phí đầu tư cực lớn giữa phương án treo nổi và đi ngầm cáp viễn thông. Qua phân tích kinh tế - kỹ thuật tại dự án đường Tân Sơn Nhất – Bình Lợi – Vành đai ngoài, tổng kinh phí xây dựng hệ thống hầm cống kỹ thuật ngầm cho 13,7 km lên tới 175,36 tỷ đồng, tương đương chi phí bình quân 12,7 tỷ đồng cho mỗi km. Trong khi đó, chi phí xây dựng hệ thống cột treo truyền thống chỉ khoảng 0,32 tỷ đồng trên mỗi km. Chi phí ngầm hóa cao gấp khoảng 40 lần chi phí treo nổi là lực cản tài chính lớn nhất khiến các doanh nghiệp có xu hướng né tránh hạ ngầm nếu không có chế tài bắt buộc.

Thứ hai, bùng phát xung đột độc quyền hạ tầng giữa ngành điện lực và các doanh nghiệp viễn thông. Tháng 9/2008, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đơn phương điều chỉnh tăng giá thuê cột điện từ mức 3.500 – 27.500 đồng lên 20.114 – 109.327 đồng/cột/tháng (tăng gấp 4 đến 6 lần tùy loại cột). Tình trạng này khiến các doanh nghiệp viễn thông phản ứng bằng cách tự trồng thêm cột riêng. Ước tính nếu 6 đến 7 doanh nghiệp viễn thông cùng chạy đua dựng cột, toàn xã hội sẽ lãng phí từ 20.000 đến 30.000 tỷ đồng, làm phá vỡ toàn bộ cấu trúc không gian vỉa hè đô thị.

Thứ ba, tỷ lệ ngầm hóa hạ tầng cáp viễn thông đạt mức rất thấp. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ cáp được ngầm hóa chỉ đạt khoảng 30%, trong khi 70% khối lượng cáp còn lại vẫn treo chằng chịt trên 21.000 cột thông tin và hàng chục nghìn cột điện lực. Ngay cả đơn vị nắm giữ hạ tầng lớn nhất là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) cũng mới chỉ ngầm hóa được khoảng 60% mạng cáp của mình.

Thứ tư, công tác quản lý dự án đầu tư công bị phân tán theo Nghị định 16/2005/NĐ-CP. Các Ban quản lý dự án có xu hướng chia nhỏ các dự án lớn thành nhiều tiểu dự án nhóm B, nhóm C để rút ngắn quy trình phê duyệt. Hệ quả là các hạng mục cấp thoát nước, điện lực, viễn thông bị xé lẻ thành các gói thầu độc lập, dẫn đến tình trạng trong năm 2009 thành phố phải đào xới hơn 100 km đường, gây ra 74 vụ ùn tắc giao thông kéo dài trên 30 phút và tạo bức xúc lớn trong xã hội.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của việc các doanh nghiệp viễn thông từ chối dùng chung hạ tầng bắt nguồn từ đặc tính kinh tế của ngành. Với chi phí biên tiếp cận 0, doanh nghiệp sở hữu mạng lưới cống bể ngầm và cột treo sẵn có sẽ tận dụng lợi thế quy mô để kiểm soát thị trường. Việc chia sẻ hạ tầng cho đối thủ mới đồng nghĩa với việc tự chia sẻ thị phần và giảm sức cạnh tranh.

Dữ liệu so sánh suất đầu tư hạ tầng có thể được minh họa trực quan qua biểu đồ hình cột thể hiện mức chênh lệch giữa 12,7 tỷ đồng/km (đi ngầm) và 0,32 tỷ đồng/km (treo nổi). Đồng thời, bảng ma trận lý thuyết trò chơi cho thấy khi chính quyền không áp dụng cơ chế điều tiết (thu phí ngoại tác x = 0, cấp bù tài chính y = 0), điểm cân bằng Nash duy nhất xuất hiện tại trạng thái Treo - Treo. Chỉ khi chính quyền đưa ra mức thu phí đủ lớn đối với cáp treo và hỗ trợ vốn thích đáng cho hạ ngầm (chẳng hạn x = 3, y = 2), điểm cân bằng mới dịch chuyển sang trạng thái Ngầm - Ngầm.

So với các nghiên cứu trước đây vốn chỉ nhìn nhận vấn đề dưới góc độ mệnh lệnh hành chính, kết quả nghiên cứu này khẳng định sự can thiệp của Nhà nước bằng cơ chế thị trường (nội hóa chi phí ngoại tác và kiểm soát giá trần) mới là giải pháp căn cơ để phá vỡ thế bế tắc trong dùng chung hạ tầng.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích, tác giả kiến nghị 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy dùng chung hạ tầng kỹ thuật viễn thông:

Thứ nhất, luật hóa và thực thi nghiêm ngặt quy hoạch không gian ngầm đô thị. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp cùng Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Quy hoạch - Kiến trúc ban hành quy định bắt buộc tất cả các tuyến đường xây dựng mới hoặc cải tạo từ cấp đô thị trở lên phải bố trí hào kỹ thuật hoặc hầm tuynen dùng chung theo đúng Quy chuẩn QCVN 07:2010/BXD và Điều 57 Luật Viễn thông 2010. Hoàn thành việc lập bản đồ quy hoạch chi tiết không gian ngầm 1/500 cho toàn bộ khu vực nội đô trong thời gian 12 đến 24 tháng.

Thứ hai, chuyển đổi mô hình đầu tư và quản lý hạ tầng qua cơ chế đấu thầu công khai. Tách bạch hoàn toàn giữa đơn vị quản lý hạ tầng thụ động và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông nhằm xóa bỏ tình trạng vừa đá bóng vừa thổi còi. Nhà nước tổ chức đấu thầu quyền xây dựng và khai thác hầm cống ngầm kỹ thuật, huy động nguồn vốn từ các thành phần kinh tế xã hội, giảm áp lực vốn đầu tư công khoảng 25% đến 30% trong giai đoạn 2011–2015.

Thứ ba, áp dụng công cụ kinh tế để nội hóa chi phí ngoại tác. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành biểu phí sử dụng không gian đối với hệ thống dây dẫn, cáp treo nổi trên cột nhằm tạo nguồn thu tái đầu tư. Đồng thời, thiết lập quỹ tài chính cấp bù lãi suất tín dụng ưu đãi cho các doanh nghiệp tham gia dự án ngầm hóa hạ tầng kỹ thuật, triển khai áp dụng đồng bộ trong vòng 6 đến 12 tháng.

Thứ tư, kiểm soát giá trần và tăng cường thẩm quyền giám sát cạnh tranh. Bộ Thông tin và Truyền thông khẩn trương ban hành khung giá trần cho thuê hạ tầng viễn thông thụ động (cột treo cáp, cống bể ngầm kỹ thuật) trên cơ sở định mức chi phí thực tế và tỷ suất sinh lời hợp lý. Trao quyền tài phán đầy đủ cho Cơ quan quản lý chuyên ngành viễn thông trực thuộc Bộ để xử lý triệt để các hành vi độc quyền ngăn cản kết nối và giải quyết tranh chấp trong thời hạn tối đa 30 ngày làm việc.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Xây dựng, Ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố, Sở Thông tin và Truyền thông): Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Luật Viễn thông 2010, phương pháp định giá trần thuê cột điện/cống bể và quy trình tích hợp hạ tầng kỹ thuật viễn thông vào quy hoạch đô thị tổng thể.

Nhóm doanh nghiệp viễn thông và năng lượng (VNPT, Viettel, FPT, EVN Telecom, EVN): Doanh nghiệp có thể sử dụng khung phân tích chi phí - lợi ích và mô hình chia sẻ hạ tầng để xây dựng chiến lược đàm phán hợp tác dùng chung mạng lưới, tối ưu hóa chi phí đầu tư tài sản cố định (CapEx) và chi phí vận hành (OpEx) dài hạn.

Nhóm chủ đầu tư và các Ban quản lý dự án hạ tầng đô thị (PMUs): Cung cấp các chỉ dẫn kỹ thuật, phân tích mặt cắt công trình và kinh nghiệm dự toán chi phí từ dự án thực tế Tân Sơn Nhất – Bình Lợi để thiết kế đồng bộ các công trình ngầm, tránh đào xới lặp lại.

Nhóm chuyên gia, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Chính sách công, Quản lý đô thị, Kinh tế học: Nguồn tài liệu tham khảo giá trị về ứng dụng lý thuyết trò chơi, phân tích ngoại tác và xử lý bài toán thất bại thị trường trong lĩnh vực hạ tầng công cộng tại các nền kinh tế chuyển đổi.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao các doanh nghiệp viễn thông thường tự xây dựng mạng lưới riêng thay vì dùng chung cơ sở hạ tầng?

Nguyên nhân là do doanh nghiệp muốn chiếm lĩnh lợi thế quy mô mạng lưới và tạo rào cản gia nhập thị trường đối với đối thủ mới. Với chi phí biên tiệm cận mức zero, doanh nghiệp sở hữu hạ tầng sẵn có có thể hạ giá cước dịch vụ để loại bỏ cạnh tranh. Ngoài ra, sự thiếu vắng các quy định pháp lý bắt buộc và chi phí đàm phán giao dịch quá cao giữa các bên cũng cản trở việc hợp tác.

Lý thuyết trò chơi giải thích như thế nào về việc doanh nghiệp chọn treo cáp thay vì ngầm hóa?

Khi chính quyền không thu phí ngoại tác tiêu cực đối với việc treo cáp nổi và không hỗ trợ kinh phí ngầm hóa, chi phí của phương án treo (ước tính bằng 1 đơn vị) thấp hơn nhiều so với phương án ngầm (5 đơn vị). Trong điều kiện đó, điểm cân bằng Nash duy nhất của mô hình là cả doanh nghiệp và chính quyền đều chấp nhận phương án treo cáp để tối thiểu hóa chi phí trước mắt.

Suất đầu tư hệ thống ngầm kỹ thuật viễn thông cao hơn hệ thống treo nổi khoảng bao nhiêu lần?

Dữ liệu thực tế từ Dự án đường Tân Sơn Nhất – Bình Lợi – Vành đai ngoài cho thấy chi phí xây dựng hệ thống hầm cống ngầm kỹ thuật đạt mức 12,7 tỷ đồng/km (tổng 175,36 tỷ đồng cho 13,7 km), trong khi phương án trồng cột treo cáp chỉ tốn khoảng 0,32 tỷ đồng/km. Như vậy, chi phí đầu tư ngầm hóa cao gấp gần 40 lần so với phương án treo nổi trên mặt đất.

Tranh chấp giá thuê cột điện giữa EVN và các nhà mạng năm 2008 phản ánh lỗ hổng chính sách gì?

Sự việc EVN tăng giá thuê cột gấp 4 đến 6 lần (lên mức cao nhất 109.327 đồng/cột/tháng) phản ánh tình trạng độc quyền tự nhiên trên hạ tầng sẵn có mà thiếu sự điều tiết giá trần từ Nhà nước. Cơ chế quản lý bằng mệnh lệnh hành chính tỏ ra bất lực khi các bên đều là các tập đoàn nhà nước lớn, cho thấy sự cấp thiết phải có cơ quan điều tiết độc lập và khung giá trần dựa trên chi phí thực.

Những điểm mới cốt lõi của Luật Viễn thông 2010 đối với việc dùng chung hạ tầng là gì?

Luật Viễn thông 2010 đã chính thức luật hóa nghĩa vụ dùng chung hạ tầng kỹ thuật thụ động tại Điều 45 và quy định bắt buộc phải có quy hoạch hạ tầng viễn thông trong các đồ án quy hoạch giao thông, đô thị tại Điều 57. Đồng thời, luật mở đường cho việc thành lập cơ quan quản lý chuyên ngành viễn thông có thẩm quyền tài phán để giải quyết dứt điểm các tranh chấp kết nối và chia sẻ hạ tầng.

Kết luận

Nghiên cứu về chính sách dùng chung hạ tầng viễn thông tại Thành phố Hồ Chí Minh mang lại những kết luận và đóng góp cốt lõi:

  • Khẳng định hạ tầng kỹ thuật đô thị là hàng hóa công cộng không thuần túy, mang tính độc quyền tự nhiên và có ngoại tác hai chiều, đòi hỏi vai trò điều tiết kiến tạo của Nhà nước thay vì để thị trường tự điều chỉnh.
  • Bóc tách thực chứng bài toán chênh lệch chi phí đầu tư giữa ngầm hóa (12,7 tỷ đồng/km) và treo nổi (0,32 tỷ đồng/km), làm rõ căn nguyên kinh tế thúc đẩy doanh nghiệp lựa chọn phương án treo cáp.
  • Chứng minh thất bại của phương thức can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính truyền thống và đề xuất ứng dụng các công cụ kinh tế thị trường như thu phí ngoại tác tiêu cực, cấp bù lãi suất đầu tư ngầm và kiểm soát giá trần.
  • Cung cấp luận cứ khoa học hoàn thiện quy hoạch không gian ngầm đô thị đồng bộ theo Luật Viễn thông 2010, Luật Quy hoạch đô thị 2010 và Quy chuẩn QCVN 07:2010/BXD.
  • Đề xuất lộ trình tái cơ cấu quản lý thông qua cơ chế đấu thầu đầu tư, đấu thầu quản lý vận hành hạ tầng ngầm kỹ thuật để huy động tối đa nguồn lực xã hội.

Trong giai đoạn tới, các cơ quan chức năng cần khẩn trương ban hành các nghị định hướng dẫn chi tiết Luật Viễn thông và quy chế phối hợp liên ngành giữa giao thông, điện lực, cấp thoát nước và viễn thông. Các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý đô thị và lãnh đạo doanh nghiệp hãy chủ động áp dụng các giải pháp từ luận văn để chung tay kiến tạo không gian đô thị văn minh, hiện đại và phát triển bền vững.